Chuyển đổi xanh (green transfomation) cũng như phát triển bền vững (sustainable development) là những thuật ngữ quen thuộc với thế giới cách nay gần nửa thế kỷ; tại Việt Nam, nội dung này xuất hiện muộn hơn. Trong đó, một ưu tiên quan trọng chính là chuyển đổi xanh cho ngành xây dựng, trọng tâm là quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành khai thác các công trình. Vì gây ô nhiễm từ carbon đối với ngành xây dựng hiện chiếm đến 1/3 trong sự phát triển chung kinh tế xã hội mỗi quốc gia, đặc biệt là các vùng đô thị. Ngay cả sự ô nhiễm carbon ở các vùng ngoài đô thị cũng đang gia tăng chóng mặt.
1. Chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng – Định hướng thích ứng ở Việt Nam
1.1. Các vấn đề chung
Theo định nghĩa chung về chuyển đổi xanh từ thế giới chính là: “Những nỗ lực nhằm đạt được một tương lai phát triển xã hội bền vững và thân thiện môi trường”. Nội dung bao gồm một tập hợp các chính sách, chiến lược và thực tiễn với mục tiêu đảm bảo tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Mục tiêu chính của chuyển đổi xanh bao gồm tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm thải khí carbon, thúc đẩy sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng cường kết nối tham gia của toàn xã hội, phát triển văn hóa bản sắc và đảm bảo tính nhân văn xã hội hài hòa.
Như vậy, chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng cần tạo nên những quy hoạch, kiến trúc tổ hợp công trình xây dựng, những công trình xây dựng đơn lẻ… đều phải nhất quán đạt được các mục tiêu chuyển đổi xanh: Sử dụng hiệu quả năng lượng đi đôi với giảm thiểu sử dụng năng lượng không thể tái tạo và cân bằng năng lượng tái tạo bằng nguồn tự sinh; giảm phát thải carbon bằng giải pháp sử dụng vật liệu thân thiện môi trường theo hướng tuần hoàn từ vật liệu tự nhiên và vật liệu có thể tái tạo, cùng công nghệ xây dựng sạch; thúc đẩy sử dụng bền vững và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng, biển, vật thể, khoáng sản.. từ những giải pháp tối thiểu xâm hại và can thiệp mà phải theo tinh thần nương nhờ; công trình xây dựng cũng cần tạo được môi trường bên trong và bên ngoài an toàn, tiện nghi, bảo vệ sức khỏe cho con người trong quá trình vận hành sử dụng; công trình xây dựng cũng cần góp phần bảo tồn phát huy văn hóa bản địa và hội nhập tiên tiến trên tinh thần không hòa tan.
Trước đây, chuyển đổi xanh nói chung, chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng nói riêng, chúng ta chỉ tập trung cho khu vực đô thị, xem chỉ ở đó mới nhiều nguy cơ thách thức. Nhưng ngày nay, sau một thời gian dài bị lãng quên, nông thôn khắp nơi trên toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đã tự do phát triển hỗn loạn và thiếu bài bản, đang chuyển nhanh từ “xanh” sang “xám”, thì việc đề cập chuyển đổi xanh ở vùng miền này cũng trở nên quan trọng không kém gì đô thị. Tất nhiên, sự chuyển đổi xanh ở nông thôn không thể sử dụng chung chỉ số đòi hỏi như đô thị, mà phải có những sự điều chỉnh phù hợp.
Một điều nữa là chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng cũng không thể áp dụng chung các tiêu chí cụ thể, cấp độ cụ thể cho toàn thế giới hay toàn phạm vi mỗi quốc gia. Mà trên nền tảng khung các vấn đề, hệ thống chung, mỗi quốc gia, phân định đến từng vùng miền theo điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán để đưa ra những mục tiêu và giải pháp hữu hiệu.
1.2. Tiêu chí về chuyển đổi xanh công trình xây dựng thông dụng trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 80 nước đang áp dụng các bộ tiêu chuẩn đánh giá công trình xanh cho lĩnh vực xây dựng, với các bộ tiêu chí riêng từng nước, áp dụng chung cho khối hoặc vận dụng bộ tiêu chí từ quốc gia, tổ chức được xem là tiên tiến. Việc chuyển đổi xanh của công trình bắt đầu từ các khâu kế hoạch – dự án – thiết kế – xây dựng – vận hành – tháo dỡ (trọn vòng đời công trình) đều được soi chiếu đánh giá, và cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chí này. Tuy nhiên, đối với các công trình đã xây dựng đang quá trình khai thác (bao gồm cả các loại công trình di sản) khi tổ chức đánh giá và đề xuất chuyển đổi xanh là khó khả thi hơn rất nhiều. Với một số công trình loại này có khả năng thay đổi lớn, cùng với nguồn lực cho phép, Nhà nước và cơ quan chuyên quản phát triển xanh khuyến khích chuyển đổi xanh tối đa. Với các công trình còn lại, việc chuyển đổi xanh có thể xem xét để vận dụng riêng rẽ các tiêu chí phù hợp. Chuyển đổi xanh này cũng cần gắn với từng vùng đô thị, nông thôn đồng bộ, cho đến chính sách và giải pháp cho toàn thể thì mới mang lại hiệu quả tối ưu.
Tiêu chí đánh giá mức chuyển đổi công trình xanh, có thể lấy tiêu biểu theo khung từ một số tiêu chuẩn được xem là tiên tiến sau đây:
- Khung đánh giá LEED của Hoa Kỳ, gồm 8 hạng mục với các tiêu chí cụ thể đo lường thành định lượng mức độ đáp ứng tiêu chuẩn thân thiện môi trường: (1) Hạng mục vị trí và giao thông (Location & Transportation), tập trung vào các chính sách hỗ trợ tiếp cận và tăng hiệu suất sử dụng tiện ích công cộng, khuyến khích các phương án chọn lựa giao thông bền vững giảm thiểu phát thải carbon; (2) Hạng mục khuôn viên bền vững (Sustainable Sites), bao gồm các chính sách quản lý bảo tồn môi trường sống và hệ sinh thái, tái sử dụng nguồn nước mưa, giảm thiểu ô nhiễm ánh sáng nhân tạo (Từ nguồn năng lượng không tái tạo); (3) Hạng mục hiệu quả sử dụng nước (Water Efficiency), nhấn mạnh các hoạt động quản lý, đo lường, và cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn nước tự nhiên theo hướng ưu tiên tuần hoàn phục hồi; (4) Hạng mục năng lượng & khí quyển (Ennegy & Atmosphere), thúc đẩy giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng tối đa năng lượng tái tạo, giảm thiểu ô nhiễm phát thải từ hiệu ứng nhà kính đến môi trường; (5) Hạng mục vật liệu và tài nguyên (Materials & Resources), đề cập đến các chính sách quản lý, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, sử dụng vật liệu tái chế và công tác xử lý rác thải; (6) Hạng mục chất lượng môi trường trong nhà (Indoor Environmental Quaility), bao gồm các tiêu chí đánh giá việc đáp ứng nhu cầu về không gian sống thoải mái và lành mạnh, bảo tồn tốt sức khỏe con người như chất lượng không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng tự nhiên…; (7) Hạng mục đổi mới sáng tạo (Innovation), trong thiết kế thi công, sử dụng vật liệu, tăng tính linh hoạt và hiệu quả sử dụng công trình; (8) Hạng mục ưu tiên khu vực cung cấp (Regional Priority), đánh giá mức độ quan trọng và tính phù hợp với điều kiện môi trường cũng như yếu tố văn hóa địa phương, tính cộng đồng nhận thức.
- Khung đánh giá BREEAM của Anh, đưa ra đầu tiên trên thế giới vào năm 1990, cung cấp khung đánh giá định lượng đa chiều về tính bền vững, gồm 12 hạng mục: (1) Hạng mục quản lý (Management), chú trọng các chính sách và quy trình quản lý dự án từ trước, trong đến sau khi xây dựng công trình; (2) Hạng mục tài nguyên nước (Water), tập trung giảm thiểu tiêu thụ nước sạch, xử lý nước thải qua chiến lược quản lý thông minh; (3) Hạng mục năng lượng (Energy) khuyến khích áp dụng các giải pháp cho mục tiêu giảm nhu cầu, tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng; (4) Hạng mục vận tải (Transport), định hướng sử dụng mạng lưới giao thông công cộng bền vững, giảm phát thải carbon; (5) Hạng mục sức khỏe và an sinh (Heath & Wellbeing), đề cao các tính năng thiết kế xây dựng để đảm bảo sức khỏe và sự thoải mái cho người sử dụng; (6) Hạng mục tài nguyên (Resources), nhấn mạnh việc khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng tái tạo; (7) Hạng mục phục hồi (Resilience), tập trung vào khả năng phục hồi của công trình trước các thách thức từ môi trường và biến đổi khí hậu; (8) Hạng mục sử dụng đất và sinh thái (Land use & Ecology), khuyến khích sử dụng đất có trách nhiệm, bảo tồn và cải thiệu đa dạng sinh học; (9) Hạng mục xem xét ô nhiễm (Pollution), thúc đẩy quản lý và ngăn ngừa ô nhiễm không khí, ánh sáng, tiếng ồn ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng; (10) Hạng mục vật liệu (Materials), khuyến khích lựa chọn sử dụng nguyên vật liệu xanh và thân thiện môi trường; (11) Hạng mục xử lý rác thải (Waste), đề cập chiến lược giảm thiểu và xử lý rác thải theo hướng tái chế, tái sử dụng; (12) Hạng mục đổi mới (Innovation), hướng tới công nhận thiết kế đổi mới, sáng tạo, bền vững.
1.3. Hiện trạng chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, ngoài điều 10, khoản 4 của Luật sửa đổi một số điều của Luật Xây dựng ban hành 17/06/2020 có nêu: “Nhà nước khuyến khích hoạt động đầu tư, chứng nhận công trình xây dựng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, tài nguyên và đảm bảo các yêu cầu về môi trường”. Còn trong thực tế, chưa có hệ tiêu chí nào bắt buộc cho chuyển đổi xanh công trình xây dựng từ quy định chung của Nhà nước và các bộ chuyên quản. Việc đăng ký đạt chuẩn công trình xanh được áp dụng và công nhận từ bộ tiêu chí đánh giá nào là do chủ đầu tư thực hiện và công bố kết quả. Các bộ tiêu chí có áp dụng nhiều nhất là LEED (Hoa Kỳ), BCA (Singapore), EDGE (Ngân hàng thế giới) và LOTUS (Việt Nam)… với khoảng trên dưới 400 công trình đạt. Các công trình này chủ yếu là hệ thống công trình công cộng lớn của tư nhân, một phần Nhà nước, một số nhà ở… ngay từ đầu kế hoạch đầu tư đều đã thiết lập kế hoạch, dự án, thiết kế, xây dựng, khai thác theo tiêu chí đáp ứng chuẩn công trình xanh. Chưa có các loại công trình được cải tạo nâng cấp hướng tới chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chuẩn được công nhận. Cũng chưa có hướng dẫn thiết kế xây dựng công trình xanh theo điều kiện Việt Nam. Trong sự phát triển kiến trúc từ truyền thống, những yếu tố xanh theo tiêu chí hợp với các bộ chuẩn đã nêu ở trên là không ít, nhưng cũng chưa có một nghiên cứu tổng hợp đánh giá nào mang tính đầy đủ và hệ thống cho vấn đề này.
Việc tích hợp tiêu chí chuyển đổi xanh gắn với quy hoạch xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững, theo tính hệ thống có định lượng cũng chưa được đặt ra với các ràng buộc về pháp lý. Điều đó dẫn đến hiện nay Việt Nam đang có tốc độ đô thị hình thành với tỷ lệ về số lượng trong tốp đầu thế giới (đến năm 2024 đã có đến 902 đô thị), tốc độ đô thị hóa khá nhanh, rất áp lực theo yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Hàng loạt đô thị lập đồ án điều chỉnh quy hoạch phát triển ngắn hạn và dài hạn, đô thị nào trong mục tiêu chiến lược cũng có yêu cầu “xanh – sinh thái”, nhưng giải pháp để thực sự phát triển xanh, sinh thái vẫn chủ yếu dừng ở dạng mô tả mà chưa đi kèm giải pháp có hệ thống, toàn diện và thuyết phục. Công trình xanh cũng đang triển khai và được chứng nhận tự nguyện ở dạng như những “đứa con” đơn độc, tự do mọc lên trong trùng điệp đô thị.
Các vùng nông thôn và vùng ngoài đô thị, chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng về thực hành thì tốt hơn các vùng đô thị, một phần quan trọng là do cách tạo lập và phát triển công trình xây dựng từ truyền thống của ông cha ta để lại đã có mầm mống xanh: Địa điểm bền vững, sử dụng vật liệu từ tự nhiên được ưu tiên (trong đó nhiều vật liệu sinh trưởng tuần hoàn), công nghệ xây dựng sạch, các giải pháp năng lượng cho chiếu sáng, thông gió cũng được khai thác hiệu quả từ thiên nhiên, sử dụng nước trời và nước mưa hài hòa, xử lý rác thải theo hình thức khép kín, đơn vị ở được vận hành theo vòng cân bằng sinh thái, bản sắc vùng miền gắn chặt và chung sống “bạn bè” với điều kiện tự nhiên, xã hội… tuy nhiên sự mai một “xanh” đang diễn ra rất nhanh do ảnh hưởng đô thị hóa, tiếp nhận văn minh không đầy đủ…từ kiến thức và điều kiện. Vì vậy nhu cầu chuyển đổi xanh công trình xây dựng ở khu vực này cũng đang đòi hỏi ngày càng cấp thiết.
LOTUS là hệ thống tiêu chí đánh giá công trình xanh đầu tiên được phát triển dành riêng cho Việt Nam, do Hội đồng công trình Xanh thực hiện. Hình thành từ năm 2007, đến năm 2010 thì được áp dụng thử, đã được học tập từ hệ thống quốc tế tiên tiến, kết hợp các điều chỉnh phù hợp điều kiện Việt Nam. Tương tự hệ thống quốc tế, LOTUS gồm các tiêu chí bắt buộc (prerequisites) và các tiêu chí tự nguyện (credits), được chia thành các hạng mục. LOTUS có 06 hạng mục chính là: (1) Năng lượng; (2) Nước; (3) Vật liệu & Tài nguyên; (4) Sức khỏe & Tiện nghi; (5) Vị trí & Môi trường; (6) Quản lý; 01 tự nguyện, giải pháp sáng tạo, hoặc dự án có hiệu năng vượt trội. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên gia, hệ thống LOTUS của Việt Nam còn thiếu các tiêu chí mang tính định lượng gắn với chỉ tiêu cụ thể để đánh giá, do đó việc căn cứ để xem xét, công nhận còn gặp nhiều khó khăn hơn các hệ thống quốc tế tiên tiến.
1.4. Định hướng chuyển đổi xanh hiệu quả với công trình xây dựng ở Việt Nam
Chúng ta phải cùng nhau nhận thức rằng, mục tiêu lớn lao chuyển đổi xanh toàn cầu là cứu trái đất khỏi thảm họa diệt vong. Cùng với đó, việc chuyển đổi xanh trong công trình xây dựng ở Việt Nam còn đem lại lợi ích thiết thực cho tất cả các bên liên quan, từ chủ đầu tư, người sử dụng, đến cộng đồng và toàn xã hội. Định hướng chuyển đổi xanh ở Việt Nam, trong đó có chuyển đổi xanh công trình xây dựng cần phải được ráo riết thực hiện bằng những chương trình theo định hướng cụ thể, rõ ràng và có định lượng.
Với công trình, tổ hợp công trình hình thành mới, đó là:
- Xác định mục tiêu bền vững và cụ thể: Cần xác định rõ ràng mục tiêu bền vững của từng dự án công trình, tổ hợp công trình, dựa trên các tiêu chuẩn quy chuẩn quốc tế, Việt Nam và phù hợp từng địa phương, từ đó định hình chiến lược thiết kế xây dựng vận hành và cả kết thúc thay thế. Các mục tiêu này cũng cần được xác định theo từng nội dung cụ thể;
- Lựa chọn khung đánh giá phù hợp: Việc lựa chọn khung đánh giá xanh cũng cần được xác lập ngay từ giai đoạn đầu để từng bước triển khai sẽ tuân thủ nghiêm ngặt. Đảm bảo rằng tiêu chuẩn được áp dụng tối ưu cho môi trường và bối cảnh cụ thể của dự án;
- Sử dụng công nghệ và sáng tạo: Áp dụng tối đa các công nghệ tiên tiến và sáng tạo trong thiết kế, xây dựng và vận hành, để từ đó tối ưu hóa hiệu suất năng lượng và tài nguyên. Đồng thời chủ động (và cả bị động một cách chất lượng) tạo ra những giải pháp mới cho các thách thức hiện hữu và xuất hiện bất ngờ;
- Kiểm định và đánh giá liên tục suốt quá trình triển khai: Để có thể giúp theo dõi hiệu suất bền vững của dự án và đảm bảo công trình vận hành theo đúng các tiêu chuẩn đã đề ra;
- Kiểm soát và vận hành kết nối liên hệ: Mối liên hệ đã hình thành và dự báo theo chương trình quy hoạch đô thị của dự án cũng cần được xem xét, tích hợp từ đầu và trong suốt quá trình thiết kế xây dựng vận hành. Từ mối quan hệ này để xác lập tiêu chuẩn xanh theo vai trò phần tử của hệ thống cũng như những hạ tầng dùng chung và kết hợp.
Với công trình, tổ hợp đã hình thành từ trước khi chuyển đổi xanh: - Cần có sự đánh giá hiện trạng: Theo khung lựa chọn phù hợp, với cách đánh giá đảm bảo tính chính xác và đầy đủ nếu có hướng chuyển đổi xanh cho công trình. Từ đó xác định những tiêu chí đã đạt, cơ bản có thể điều chỉnh để đạt, những tiêu chí khả thi có thể tham gia chuyển đổi xanh cho công trình. Đánh giá này cũng cần gắn với mục tiêu và công năng sẽ sử dụng công trình sau khi chuyển đổi xanh;
- Sử dụng công nghệ và sáng tạo để triển khai phương án khả thi cho dự án: Cần tiến hành tùy thuộc vào cấp độ công trình cũng như những ưu nhược điểm so với công trình chuyển đổi xanh. Với sự liên kết chặt chẽ với địa điểm, bao gồm môi trường, con người và xã hội tại chỗ;
- Các bước kiểm soát suốt quá trình triển khai: Cũng cần được đặt ra và thực hiện nghiêm ngặt, thường xuyên;
- Vai trò mới trong kết nối quy hoạch: Sau chuyển đổi xanh, cũng cần đưa nội dung này vào tích hợp để tính toán đầy đủ, ngay từ giai đoạn khởi phát và kiểm soát tốt trong cả quá trình triển khai chương trình.
1.5. Các xu hướng công nghệ áp dụng trong chuyển đổi xanh cho công trình
- Tạo lập và vận hành công nghệ xanh: Bao gồm các công nghệ như pin mặt trời, gió, nước sinh khối, thu gom và tái sử dụng nước mưa – nước xám, quản lý thông minh, thu gom và xử lý thải, tái chế các chất sinh học…;
- Ra quyết định dựa trên dữ liệu lớn: Bằng hệ thống thu thập và phân tích dữ liệu nhờ hỗ trợ của trợ lý ảo để ra những quyết định về sử dụng hiệu quả năng lượng, các tích hợp yếu tố để đi đến thiết kế xây dựng tối ưu;
- Mô hình hóa thông tin công trình (BIM): Tạo ra mô hình kiểm soát hiệu quả toàn vòng đời công trình, lựa chọn công nghệ, vật liệu, kết nối kỹ thuật…;
- Tích hợp năng lượng tái tạo: Để giảm thiểu sử dụng năng lượng không thể tái tạo trong một sự kết hợp có lợi nhất;
- Đổi mới vật liệu: Công nghệ giúp xác định và tìm nguồn cung cấp vật liệu tái chế, thúc đẩy sử dụng vật liệu thân thiện môi trường;
- Thực tế ảo và thực tế tăng cường: Giúp trực quan hóa các thiết kế bền vững, cho phép trải nghiệm không gian ảo trước khi thật, để từ đó xác định chính xác các thay đổi và cải tiến tiềm năng;
- Công nghệ chuỗi khối: Tăng cường tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc. Đảm bảo tính hợp lệ của các chứng nhận;
- Hệ thống thiết bị thông minh: Giúp giảm tiêu thụ năng lượng các loại đến mức tối đa cho hoạt động công trình;
- Bảo trì, dự đoán: Giám sát hiệu suất thiết bị, dự đoán yêu cầu bảo trì, kéo dài tuổi thọ hệ thống;
- Hỗ trợ chứng chỉ và xếp hạng xanh: Thông qua theo dõi chỉ số tuân thủ, cung cấp định lượng về hiệu suất vận hành.
2. Kiến trúc xanh, xu hướng tất yếu của kiến trúc thế kỷ 21
2.1. Hiểu về kiến trúc xanh
Có thể hiểu là “Kiến trúc xanh là kiến trúc được áp dụng một cách sáng tạo, hiệu quả các giải pháp thiết kế mà khi xây dựng và vận hành cho đến khi loại bỏ đều đáp ứng sự thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Sử dụng hiệu quả tối ưu năng lượng, tài nguyên, vật liệu. Tạo tiện nghi và sức khỏe tốt cho người sử dụng. Hài hòa phù hợp với cảnh quan sinh thái tự nhiên, bản sắc văn hóa, điều kiện xã hội”. Hay như một số KTS nổi tiếng thế giới thì nói ngắn gọn hơn về kiến trúc sinh thái – kiến trúc xanh: “Kiến trúc xanh là yếu tố bản sắc đặc trưng của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền. Gắn với sinh thái tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu, môi trường) và sinh thái nhân văn (con người, văn hóa, xã hội)”.
Vậy Kiến trúc xanh có phải là công trình xanh không? Hai khái niệm này thực ra không trùng lặp nhưng có nhiều tương đồng. Công trình xanh thì phải thỏa mãn những yếu tố thân thiện môi trường toàn diện hơn kiến trúc xanh, nhưng yếu tố gắn với xã hội và con người về mặt nhân văn lại không cần đáp ứng như kiến trúc xanh. Cụ thể như với kiến trúc xanh thì các yếu tố: Tiếp cận giao thông xanh (phi carbon), quy trình quản lý toàn dự án, khả năng phục hồi trước biến đổi môi trường và thiên tai, xử lý rác thái không được đề cập như là những yếu tố độc lập, tham chiếu quyết định. Nhưng các yếu tố đó lại là tiêu chí cứng để đánh giá chuẩn công trình xanh. Ngược lại một công trình xanh có thể không được xếp hạng xanh kiến trúc khi không thỏa mãn: Yêu cầu thẩm mỹ và công năng tốt, không giải quyết hiệu quả về tính bản sắc, tiên tiến về hình thái – nội dung, hoặc không đạt hiệu ứng rõ ràng về đáp ứng tính bản địa gắn với phong tục tập quán địa phương. Nhưng xét về các cốt lõi xanh: Thân thiện môi trường; tính hợp lý về sử dụng và tiết kiệm năng lượng; đảm bảo sức khỏe và tiện nghi cho con người… thì công trình xanh và kiến trúc xanh đều cần thỏa mãn. Do đó trong nội hàm kiến tạo, chúng ta có thể cùng tích hợp để hình thành cùng một hệ sinh thái sản phẩm xây dựng nhằm đáp ứng phù hợp, có lợi cho Môi trường – Xã hội – Con người – Văn hóa trong hiện tại và tương lai phát triển bền vững.
2.2. Tiêu chí kiến trúc xanh ở Việt Nam
Với tinh thần đối mặt với những thách thức lớn về môi trường xuống cấp, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, tiện nghi sống và sức khỏe con người ngày càng không đảm bảo, đồng thời thực hiện theo đường lối của Đảng, Nhà nước, định hướng của Chính phủ về phát triển xanh bền vững, Hội KTS Việt Nam ngay từ năm 2011 đã ra tuyên ngôn kiến trúc, xác định 5 tiêu chí kiến trúc xanh phù hợp cho điều kiện bản địa. Cho đến nay, đây đang là bộ tiêu chí chính thống, duy nhất từ một tổ chức nghề nghiệp công bố về nội dung này.
2.2.1. Tiêu chí 1: Địa điểm bền vững
Địa điểm xây dựng phù hợp quy hoạch; Bảo vệ môi trường và cảnh quan tự nhiên; Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; Hòa nhập với cảnh quan tự nhiên; Phục hồi, nâng cấp môi trường cảnh quan tự nhiên và nhân tạo tái sử dụng.
2.2.2. Tiêu chí 2: Sử dụng tài nguyên, năng lượng hiệu quả
Khai thác, sử dụng hiệu quả không khí và ánh sáng tự nhiên; Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước; Sử dụng vật liệu thân thiện môi trường; Sử dụng hợp lý, tiết kiệm đất đai trong xây dựng; Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Áp dụng công nghệ xanh; Quản lý hiệu quả trong xây dựng, khai thác sử dụng công trình kiến trúc trong khu vực đô thị và toàn đô thị.
Chất lượng môi trường trong nhà
Tổ chức không gian trong nhà phù hợp với nhu cầu tâm sinh lý, giao tiếp cộng đồng; Vỏ bao che phòng chống giảm thiểu tác động của các yếu tố môi trường, tự nhiên, nhân tạo; vật liệu nội thất đảm bảo không phát thải khí độc hại và tác động đến sức khỏe, tâm sinh lý người sử dụng; chất lượng không khí đảm bảo; đáp ứng mức ồn trong nhà, khu đô thị thấp hơn giới hạn cho phép; giảm thiểu năng lượng sử dụng, quản lý, kiểm soát chiếu sáng, tiết kiệm năng lượng.
2.2.4. Tiêu chí 4: Kiến trúc tiên tiến, bản sắc
Giải pháp quy hoạch, kiến trúc tương thích với nhu cầu sống, hướng tới các giá trị văn hóa của xã hội tương lai; bảo tồn, kế thừa và khai thác giá trị văn hóa kiến trúc truyền thống, đặc trưng đân tộc, vùng miền; ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, thích ứng biến đổi khí hậu, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
2.2.5. Tiêu chí 5: Tính xã hội – nhân văn bền vững
Hòa nhập với môi trường nhân văn; đáp ứng các nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần của cá nhân, cộng đồng, dân tộc; tôn trọng, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; đáp ứng cho mục tiêu môi trường – kinh tế – xã hội ổn định.
2.3. Hệ thống giải pháp đồng bộ cho kiến trúc xanh tại Việt Nam
Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn các vùng miền rất khác nhau, chịu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu không giống nhau, bản sắc văn hóa khác nhau, con người lối sống khác nhau, các giải pháp kiến trúc xanh cần gắn chặt hơi thở cuộc sống tại các vùng đó. Vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ đề xuất một số gợi hướng mang tính chất khung chung cho thể loại công trình xây dựng mới. Với các công trình đã xây dựng (bao gồm cả di sản và kiến trúc truyền thống), chúng ta có thể vận dụng để áp dụng đánh giá mức độ đáp ứng hiện hữu và những giải pháp bổ sung khả thi.
2.3.1. Giải pháp với việc xác lập địa điểm bền vững
Ngày xưa, khi ông cha ta chọn đất làm nhà thường xem phong thủy, đó không phải là mê tín dị đoan, mà đó chính là một phần của kiến trúc xanh. Việc lựa chọn địa điểm ở đô thị và các vùng sẽ đô thị hóa dĩ nhiên yếu tố đầu tiên là phải phù hợp quy hoạch. Có sự xem xét khả thi để đáp ứng an toàn trước thiên tai (sụt sạt, mưa ngập). Có khả năng nương vào (chứ không phải can thiệp, cải tạo địa hình) tự nhiên tốt để hòa nhập cảnh quan tự nhiên và cả nhân tạo. Tốt nhất là đáp ứng được những mức độ càng nhiều càng tốt cân bằng sinh thái bền vững tại chỗ. “Ngồi xem hướng” cũng là một yếu tố quan trọng về địa điểm để có thể phát huy hết thế mạnh về sử dụng năng lượng tái tạo. Địa điểm tốt cũng tham gia hiệu quả vào tạo lập không gian tiện nghi, bản sắc, sinh thái khu vực.
2.3.2. Các giải pháp cho sử dụng tài nguyên, năng lượng hiệu quả:
Chú ý thiết kế giải pháp kiến trúc tốt để khai thác tối ưu năng lượng tự nhiên, nhất là chiếu sáng và thông gió (cửa sổ cửa đi đặt hướng lợi cho chiếu sáng, gió xuyên phòng tốt, nhưng chống bức xạ, ô nhiễm ánh sáng và hướng gió bất lợi theo mùa hiệu quả). Sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn nước theo hướng tuần hoàn, với quy trình càng khép kín càng tốt. Sử dụng vật liệu ưu tiên tái tạo và thân thiện cho cả tạo khung và hoàn thiện công trình. Tiết kiệm hợp lý đất xây dựng và xác lập vừa đủ diện tích đáp ứng công năng sử dụng. Sử dụng hiệu quả năng lượng, đi đôi với giải pháp tối thiểu hóa năng lượng không thể tái tạo. Áp dụng công nghệ xanh trong kiểm soát vận hành.
2.3.3. Các giải pháp đảm bảo chất lượng môi trường bên trong nhà
Sử dụng vật liệu tái chế không độc hại. Thông thoáng và chiếu sáng tính toán hợp lý. Có giải pháp chống ẩm mốc, tránh sử dụng các loại vật liệu, sơn trát hoàn thiện bất lợi, hại sức khỏe, không phù hợp cho từng không gian công năng. Tạo tiện nghi đáp ứng tốt với yêu cầu chức năng sử dụng. Thỏa đáng giải pháp không ô nhiễm tiếng ồn cho cả không gian trong nhà, và cả khu vực, vùng đô thị trong quá trình vận hành. Bằng các vật liệu cách nhiệt và giải pháp tính toán để tiết kiệm năng lượng điều tiết. Thiết kế, hoàn thiện nội thất có thẩm mỹ hài hòa giữa màu sắc, vật liệu và tính nhân văn của đối tượng sử dụng. Kinh tế nội thất cũng cần được tính toán hợp lý.
2.3.4. Các giải pháp đáp ứng tính bản sắc và tiên tiến của kiến trúc:
Từ quy hoạch xây dựng, đến tạo lập hình thái công năng cần phải có sự hài hòa không gian chung. Khai thác yếu tố bản sắc dân tộc, vùng miền một cách hài hòa trong kết nối với giao thoa hiện đại tiên tiến. Không cầu kỳ, phô trương, tốn kém, mô phỏng bắt chước nhại cổ một cách máy móc. Chú ý khía cạnh kiến trúc gắn kết hữu cơ với môi trường, khung cảnh, xã hội. Kiến trúc thích ứng với cảnh sắc môi trường tự nhiên, chứ không phải xung đột hoặc can thiệp, hoặc ép buộc cải tạo môi trường cảnh sắc tự nhiên phải theo mình. Thiết kế hợp lý các không gian xanh kết nối với thiên nhiên đa dạng phong phú theo hướng ngang và hướng đứng. Chú ý hướng tạo xanh lưỡng dụng, chuyển đổi tương đương xanh, kết hợp cải thiện vi khí hậu và cung cấp lương thực, thực phẩm.
2.3.5. Các giải pháp đáp ứng tính xã hội và nhân văn
Công trình kiến trúc xanh phải phù hợp vùng miền về khía cạnh nhân văn. Tăng tính thân thiện kết nối cộng đồng xã hội bằng các giải pháp mở và liên kết phù hợp. Cần có sự tôn trọng, bảo tồn, tôn vinh văn hóa lịch sử vùng miền. Không gian kiến trúc khi tạo lập từ bên trong đến bên ngoài cần chú ý kết nối chung sống đoàn kết gắn với tôn trọng riêng tư. Tổ chức ưu tiên theo hướng không gian mở đóng hợp lý, gắn với xu thế đa chức năng để khai thác tiết kiệm. Kiến trúc xanh cũng cần có các giải pháp cho xử lý chất thải, để ảnh hưởng tối thiểu đến môi trường sống cộng đồng và chính mình. Có chú trọng tuần hoàn, tái chế chất thải để bù đắp năng lượng hợp lý.
Hiện nay, phát triển xanh đang là vấn đề thời sự với tính cấp thiết, cần phải tập trung theo đuổi, thực thi của toàn thế giới. Trong đó, phát triển xanh lĩnh vực xây dựng đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng, với công trình xanh, kiến trúc xanh là những cấu thành cơ bản của lĩnh vực. Trong thực tế, tại Việt Nam, dù được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các Ban, Bộ, Ngành quan tâm đưa vào thành những chương trình chiến lược, toàn cộng đồng đã xác định được sự cần thiết đặc biệt. Nhưng đến nay, hiệu quả phát triển xây dựng xanh ở nước ta chưa được bao nhiêu, lại còn mang tính manh mún, nặng về lý thuyết. Sự hành động của giới chuyên môn cũng còn nhiều mơ hồ và kém hiệu quả. Chúng ta cần có chiến lược toàn diện, hướng đi gắn với thành công thực tiễn theo từng thời gian để tăng tốc, bứt phá nhằm đạt được nhiều kết quả tốt hơn trong thời gian tới. Những người tham gia trong hệ thống này cũng cần nâng cao vai trò trách nhiệm và cống hiến chuyên môn của mình cho công cuộc. Hội KTS Việt Nam và Hội KTS các tỉnh thành, cơ quan, đơn vị đã – đang – sẽ luôn nhập cuộc với tinh thần Tiên phong – Chủ động – Sáng tạo – Hiệu quả.
TS KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội KTS Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2025)



























