Đại học Đông Dương: Nơi hội tụ tinh hoa đông tây và khát vọng hồi sinh giá trị Việt 

Nhân kỷ niệm 120 năm thành lập Đại học Đông Dương và 100 năm ngày tuyển sinh khóa đầu tiên ngành kiến trúc tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, chúng ta có dịp nhìn lại một công trình không chỉ là biểu tượng của giáo dục hiện đại mà còn là minh chứng cho một sự lựa chọn văn hóa đúng đắn ngay từ những bước chân đầu tiên.

Đại học Đông Dương, mặt tiền với hai loại văn tự: Hán ngữ và Pháp ngữ

Thế kỷ 20 đã chứng kiến những xung đột văn hóa và va chạm khốc liệt, dẫn đến sự tàn lụi của nhiều nền nghệ thuật châu Á dưới gót giày thực dân. Song, thật may mắn khi tòa giảng đường chính của Đại học Đông Dương lại được thiết kế và trang trí bởi những khối óc sáng suốt, mang tầm vóc văn hóa vượt thời đại. Đó là KTS Ernest Hébrard và họa sĩ Victor Tardieu, những người thầy đầu tiên đã mở lối và định hình cho thế hệ KTS Việt Nam thuở sơ khai. Cả Hébrard và Tardieu đều mang một niềm tin mãnh liệt vào giá trị nghệ thuật bản địa. Đối với họ, công cuộc hiện đại hóa tại xứ sở này không phải là sự áp đặt khiên cưỡng các hình mẫu từ Paris, mà là một sự chuyển hóa nội tại. Tòa giảng đường chính, vì thế, không chỉ hiện thực hóa khẩu hiệu “Pháp – Việt đề huề” mà còn đặt nền móng cho Phong cách Kiến trúc Đông Dương (Style Indochinois) – một ngôn ngữ kiến trúc nỗ lực tìm kiếm sự hòa hợp giữa kỹ thuật phương Tây và tâm hồn bản địa. Trong bài viết “Góp phần giải mã kiến trúc Đông Dương qua tác phẩm của hoạ sĩ Victor Tardieu” (Tạp chí Kiến trúc số 11/2024), người viết có đề cập đến tư duy vượt gộp trong bức tranh ở giảng đường Đại học Đông Dương nói riêng và phong cách Kiến trúc Đông Dương nói chung. Lần này, xin được góp thêm một vài chi tiết nhỏ là những văn tự và đồ án trang trí kiến trúc mà ít người được biết để hiểu thêm triết lý của phong cách kiến trúc Đông Dương.

Tầm vóc văn hóa của những người thầy mở lối

Bàn về nghệ thuật trang trí Đông Dương, Ernest Hébrard gợi ý: “… Nhìn từ quan điểm trang trí, đối với chúng ta, dường như hoàn toàn vô ích khi để các nghệ nhân Ấn Độ hoặc Đông Dương sao chép các đầu cột, vòng hoa, móc, lan can và các họa tiết khác của thức Corinth, có nguồn gốc cổ điển hoặc Gothic. Mặt khác, những người thợ thủ công này có thể đáp ứng hoàn hảo những yêu cầu khó nhất bằng cách trang trí các tòa nhà mới, với những kiểu thức trang trí truyền thống mà họ thực hiện một cách khéo léo – những đồ án trang trí luôn hài hòa rất tốt với ánh sáng của xứ sở này…” (“Kiến trúc bản địa và các vấn đề thẩm mỹ ở Đông Dương” – Ernest Hébrard, Urbanisme, 02/1935).

Tòa nhà Đại học Đông Dương (Nguồn: Sưu tầm)

Ernest Hébrard cũng lưu ý: “… Kiến trúc ở Đông Dương cần tính đến đặc điểm của con người, thói quen và truyền thống của họ. Nó phải dựa trên những nghiên cứu về các di tích ở Đông Dương nhưng không sao chép chúng. Tất nhiên, người ta hiểu rằng việc áp dụng các phương tiện xây dựng hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các hình thức mới luôn phải thích ứng với điều kiện của xứ sở…” (“Kiến trúc bản địa và các vấn đề thẩm mỹ ở Đông Dương” – Ernest Hébrard, Urbanisme, 02/1935)

Cũng có nhiều điểm tương đồng, trong bản báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập một trường Mỹ thuật Trung ương, Victor Tardieu đã dành những lời trang trọng để ngợi ca Nhà thờ đá Phát Diệm. Tại sao một họa sĩ phương Tây lại bị mê hoặc bởi một công trình Công giáo được xây dựng hoàn toàn bằng kỹ thuật và thẩm mỹ phương Đông? – Tardieu nhận ra ở đó một khả năng tích hợp tinh hoa Á – Âu tuyệt vời: Đức tin phương Tây được biểu đạt qua hệ mái chồng diêm, những cột đá sừng sững và các mảng chạm khắc đậm chất dân gian.

Ông coi Phát Diệm là một gợi ý tuyệt vời, minh chứng rằng nghệ thuật bản địa hoàn toàn đủ nội lực để chứa đựng những giá trị mới của thời đại. Thái độ học hỏi này, vượt lên trên định kiến và kỳ thị chủng tộc, đã đảm bảo cho những cuộc đối thoại văn hóa bình đẳng. Việc công nhận các giá trị kiến trúc phương Đông, khi kết hợp với công nghệ xây dựng phương Tây, đã mở ra một “miền đất hứa” cho sự gặp gỡ văn hóa Đông – Tây đơm hoa kết trái.

Nhìn vào bản đồ quy hoạch Hà Nội năm 1923 của Ernest Hébrard, ta thấy một tầm nhìn đô thị đầy tinh tế. Đại lộ Boulevard Carreau (đường Lý Thường Kiệt ngày nay) được định hình như một trục xuyên tâm quan trọng, kết nối khu Nhượng địa với lõi di sản. Dù thực tế hiện nay trục đường bị ngắt quãng, nhưng về mặt ý đồ không gian nguyên bản, nó hướng thẳng về phía Tây – nơi tọa lạc của quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Sự kết nối này thiết lập một “trục tâm linh và tri thức” đầy ngụ ý giữa hai thời đại. Một đầu là tòa giảng đường cao vút trên phố Lê Thánh Tông – đại diện cho Tân học, đầu kia là Khuê Văn Các và những hàng bia đá – ngôi đền Cựu học nghìn năm. Bằng cách sử dụng ngôn ngữ kiến trúc Đông Dương, Hébrard đã tạo ra một sự “hồi đáp thẩm mỹ” khéo léo

Những hàng cột và vòm mái của Đại học Đông Dương như một lời đối thoại đầy kính trọng hướng về phía Văn Miếu. Dù nhìn thoáng qua có vẻ không liên quan, nhưng chiêm nghiệm kỹ, ta sẽ thấy đây là công trình công sở thời Pháp thuộc “giàu chất Việt” nhất, bởi nó không chỉ mô phỏng vẻ bề ngoài mà còn hiểu thấu tâm hồn của vùng đất Thăng Long, nơi tri thức luôn được đặt ở vị trí cao quý nhất.

Nếu quy hoạch của Hébrard tạo ra cái khung không gian, thì các văn tự Hán học trên mặt tiền chính là “linh hồn” khẳng định sự kế thừa ấy. Dòng chữ Hán “Đông Pháp Đại học” (東法大學) xuất hiện ở vị trí trang trọng nhất, thậm chí nằm phía trên dòng chữ Pháp UNIVERSITÉ INDOCHINOISE. Trong sách Luận Ngữ, “Đại học” có nghĩa là “Đại nhân chi học” (Cái học của bậc đại nhân). Đặc biệt nhất là hai chữ “Cách Trí” (格致) – rút gọn của mệnh đề “Cách vật trí tri”. “Cách” là nghiên cứu rốt ráo, “Trí” là đạt tới sự thấu triệt. Việc dùng khái niệm Nho gia để định danh cho khoa học thực chứng (Science) cho thấy một tư duy sâu sắc: Khoa học không đối lập với triết lý Á Đông, mà là sự thực hành rốt ráo để hiểu quy luật vạn vật. Sự hiện diện của chữ Hán – khi khoa cử vừa chấm dứt vào năm 1919 – là một hành động hòa giải lịch sử, đưa biểu tượng của “Cựu học” vào vị thế trang trọng nhất của “Tân học”.

Hình đôi chim phượng hoàng trên tấm bia Tiến sĩ ở Văn Miếu

Chim phượng hoàng và sự phục sinh của văn hiến Thăng Long

Trên đỉnh vòm tòa giảng đường, đôi chim phượng hoàng không chỉ là trang trí, mà là một minh chứng cho sự “khúc xạ văn hóa”. Hình ảnh đôi chim phượng này khiến ta liên tưởng đến trán bia khoa thi Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Hưng 12 (1589). Đây là tấm bia có đôi chim phượng chầu được chạm khắc vô cùng tinh tế, thanh thoát. Trong tâm thức Việt, phượng hoàng gắn liền với hiền tài – “nguyên khí quốc gia”. Trên văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 4 (1743) có viết rằng: “Làm kỳ lân có đức nhân, làm phượng hoàng có màu sắc khiến người nghe tiếng đều mừng là điềm lành của đời thịnh”. Có lẽ vì thế nên chim phương hoàng không chỉ xuất hiện trên bia Tiến sĩ mà trong không gian Văn Miếu – Quốc Tử Giám ta còn gặp thấy hình ảnh loài chim này trên các các mảng trang trí kiến trúc.

Trong văn

hóa phương Tây, nó mang thêm lớp nghĩa của loài chim Phoenix: Phục sinh từ tro tàn – “Theo như Herodote hoặc Plutarque đã ghi chép lại, phượng hoàng là một loài chim huyền thoại, có nguồn gốc từ xứ Éthiopie, có vẻ đẹp rực rỡ vô song, sống lâu khác thường và có được phép màu là sau khi đã tự thiêu trên giàn lửa, lại tái sinh ra từ đám tro tàn. Khi chim phượng hoàng biết mình sắp chết, nó tự làm cho mình một cái tổ bằng những nhánh cây có hương thơm và tự thiêu trong đó bằng nguồn nhiệt của bản thân. Như vậy ta thấy thể hiện rõ những khía cạnh quan trọng nhất trong biểu tượng: Phục sinh và bất tử, tái hiện theo chu kỳ”. (Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997) – Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới – Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, tr.744)

Hà Nội chính thức trở thành thủ phủ của Liên bang Đông Dương vào năm 1902. Sau hơn một thế kỷ bị lu mờ khi kinh đô thiên di vào Thuận Hóa, Hà Nội giờ đây được kỳ vọng sẽ lấy lại vị thế trung tâm thông qua giáo dục. Hình tượng phượng hoàng vừa kế thừa mỹ thuật Đại Việt, vừa là lời tuyên bố về một sự trỗi dậy của văn hiến Thăng Long. Tòa nhà không chỉ là giảng đường, mà là một “đền đài tri thức”, lối học mới kỳ vọng hồi sinh cốt cách Thăng Long – những người vừa giữ đạo đức truyền thống, vừa làm chủ tri thức hiện đại.

Nhìn lại và suy ngẫm

Đại học Đông Dương không chỉ là một di sản kiến trúc mẫu mực – Đó là một bài học về lòng tự trọng văn hóa và thái độ học hỏi không định kiến. Ernest Hébrard và Victor Tardieu đã không chọn cách áp đặt, mà chọn cách đối thoại. Họ nhìn thấy sức sống nội tại của bản sắc Việt đủ mạnh để dung nạp những giá trị mới của nhân loại. Tòa giảng đường tại số 19 Lê Thánh Tông vẫn đứng đó, thâm nghiêm với vòm trần có đôi phượng hoàng bay lượn và dòng chữ “Cách Trí” ngay trên lối vào, bất biến qua bao thăng trầm. Nó nhắc nhở rằng: Bản sắc chính là bệ đỡ vững chắc nhất để tri thức cất cánh. Khi cái tinh túy phương Tây gặp gỡ tâm hồn phương Đông ở “đỉnh cao” đầy thiện chí, kết quả để lại là một đóa hoa rực rỡ và bền bỉ của trí tuệ loài người, đặt nền móng cho dòng chảy tri thức hiện đại của Việt Nam xuyên suốt chiều dài lịch sử. Năm 2024, trong Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội, đại dự án Cảm thức Đông Dương đã chọn tòa nhà Đại học Đông Dương làm nơi bùng nổ những xúc cảm về di sản. Từ những khảo họa của người viết (THYT), họa sĩ Phạm Trung Hưng đã thực hiện tác phẩm video 3D mapping đôi chim phượng hoàng bay lượn trên đỉnh vòm tòa nhà Đại học Đông Dương. Có lẽ cho đến nay, đây là tác phẩm có đôi chim phượng hoàng bay lượn ở vị trí cao nhất. Điều đặc biệt khi đến với tác phẩm ArtTech này (viết tắt của Art – Nghệ thuật và Technology – Công nghệ) công chúng không chỉ được chiêm ngưỡng sự giao thoa, kết hợp giữa các giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật với những thành tựu của công nghệ hiện đại mà còn là dịp “đánh thức” một biểu tượng đã “ngủ quên” hàng thế kỷ.

TS. Trần Hậu Yên Thế
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)


Tài liệu tham khảo
1. Hoai Huong Aubert – Nguyen và Michel Espagne, (2017) Việt Nam: Một lịch sử chuyển giao văn hóa – NXB ĐH Sư phạm
2. Phạm Long, Trần Hậu Yên Thế (2025): “Bách niên bách vấn, 100 câu hỏi về lịch sử Trường Mỹ thuật Đông Dương, NXB Thế giới
3. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997): Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới – NXB Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du