Đào tạo kiến trúc sư ở Việt Nam

Nguồn gốc đào tạo kiến trúc sư trên thế giới

Kiến trúc hình thành khi con người biết làm ra nơi cư trú cho mình từ ngôi nhà đến quần cư. Nhiều ngàn năm tiếp theo, kiến trúc phát triển, trở thành một nghề thủ công dựa trên kinh nghiệm mà con người tích lũy được trong quá trình xây dựng. Truyền nghề để trở thành người thợ xây dựng thông qua thực hành là nguyên tắc căn bản của nghề thủ công.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Trước là Bảo tàng Louis Finot) – KTS E. Hebrard

Đến thời Phục hưng, thế kỷ 16 ở Ý, thời kỳ chuyển tiếp của nền văn minh thế giới, từ nền sản xuất thủ công sang công trường thủ công. Bấy giờ, nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng của xã hội tăng cao, kiến trúc lần đầu tiên thoát khỏi khuôn khổ của một nghề thủ công xây dựng, trở thành một ngành được đào tạo chính quy trong nhà trường và người được đào tạo là kiến trúc sư (KTS). Để đào tạo KTS một cách hàn lâm, hệ thống tài liệu giảng dạy được soạn thảo dựa trên việc đúc kết các tri thức dân gian về xây dựng cùng sự hỗ trợ của tri thức khoa học và kỹ thuật. Tiến bộ khoa học và kỹ thuật, đặc biệt là hình họa cho phép thể hiện chi tiết công trình dưới dạng bản vẽ, trong đó thuật phối cảnh giúp khách hàng hình dung rõ nét công trình trước khi được xây dựng [1]. Mô hình đào tạo KTS bài bản, chuyên nghiệp này, theo thời gian nhanh chóng được lan truyền và áp dụng tại nhiều nước trên thế giới.

Bằng tốt nghiệp KTS trường Mỹ thuật Đông Dương [2]
Đào tạo KTS luôn gắn liền với thực tế kiến trúc. Đến nay, kiến trúc thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển – Từ chỗ làm đẹp môi trường sống, gắn liền với nghệ thuật tạo hình ban đầu, đến gắn nhiều hơn với khoa học và kỹ thuật, nhất là công nghệ số hiện nay. Đào tạo KTS trên thế giới, vì thế luôn thay đổi từ triết lý đến phương thức đào tạo để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Tuy nhiên, suy cho cùng, kiến trúc, ngoài việc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của thời đại còn là hình ảnh nhận diện bản sắc văn hóa của một cộng đồng, dân tộc và quốc gia. Ở đó kiến trúc, ngoài yếu tố công năng còn tạo cảm xúc thẩm mỹ và sự gắn bó của con người với không gian kiến trúc – Và đó cũng là mục đích đào tạo KTS của mỗi quốc gia ở mọi thời đại.

Đào tạo kiến trúc sư ở Việt Nam qua các thời kỳ

Đào tạo kiến trúc sư thời Pháp thuộc

Trước khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, kiến trúc truyền thống Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm phát triển đã định hình bản sắc riêng.

Những năm đầu, sau khi chiếm được nước ta, chính quyền thực dân phá hủy không ít các di tích văn hóa lịch sử để xây dựng đô thị và nhiều công trình mới. Bằng kiến trúc Pháp uy nghi, thực dân Pháp muốn áp đặt văn hóa Pháp lên xã hội Việt Nam. Trên thực tế, ảnh hưởng của văn hóa Pháp mang đến cho xã hội Việt Nam những chuyển biến tích cực, nhưng đồng thời làm sâu sắc thêm khát vọng độc lập, tự do của dân tộc.

Từ những năm 1920, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh thế giới lần thứ I ở chính quốc. Trong giai đoạn này, chính quyền thuộc địa nhận thấy muốn phát triển lâu dài cần thu hút nhiều nhân lực, nhất là người bản xứ có trình độ, cần có sự kết hợp văn hóa phương Tây và phương Đông.

Ngày 1/10/1926, Khoa Kiến trúc thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập tại Hà Nội (ngày nay là số 42 phố Yết Kiêu). Đây là cơ sở đào tạo KTS duy nhất của Pháp ở nước ngoài thời bấy giờ. Kiến trúc được đào tạo theo chương trình của Trường Mỹ thuật Paris (Ecole des Beaux Arts de Paris). Thời gian đào tạo là 5 năm sau khi hoàn thành khóa học dự bị [2]

Victor Tardieu (1876-1937), họa sĩ Pháp nổi tiếng, Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925-1937) là người có tư tưởng tiến bộ, đã đặt nền móng đào tạo mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam mới dựa trên sự kết hợp văn hóa Đông – Tây. Tham gia giảng dạy là các KTS Pháp nổi tiếng, trong đó nhiều KTS đã thành công trong thực tế hành nghề theo xu hướng kết hợp văn hóa, điển hình là KTS Ernest Hebrard với phong cách kiến trúc Đông Dương.
Do ảnh hưởng của thời cuộc, sự nghiệp đào tạo KTS ở Đông Dương trải qua nhiều biến động. Chiến tranh thế giới lần thứ II buộc các trường phải sơ tán khỏi Hà Nội. Tháng 12/1943, Khoa Kiến trúc chuyển vào Đà Lạt. Tháng 2/1944, Khoa Kiến trúc Đà Lạt trở thành Trường Kiến trúc Đà Lạt trực thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Trường đóng cửa năm 1945 do Nhật đảo chính Pháp và hoạt động trở lại vào năm 1947. Từ năm 1950, Trường Kiến trúc chuyển về Sài Gòn. Cuối năm 1945, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương giải thể sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, khai sinh nước Việt Nam DCCH ngày 02/09/1945. Từ năm 1926 đến năm 1945, Khoa Kiến trúc thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương, sau này là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã tổ chức đào tạo 11 khóa với trên 50 sinh viên tốt nghiệp KTS [2].

Biệt thự 215 Đội Cấn, Hà Nội. Văn phòng kiến trúc Luyện – Tiếp – Đức [2]
Để đánh giá, có thể khẳng định, khoa Kiến trúc là nơi mở đầu sự nghiệp đào tạo KTS chuyên nghiệp ở nước ta. Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức kiến trúc thế giới cơ bản và hàn lâm, thì việc chú ý đến văn hóa bản địa trong bối cảnh xã hội thực dân là một quan điểm tiến bộ mang tính nhân văn. Điều đó khích lệ cảm hứng và khát khao sáng tạo của các KTS Việt Nam. Kết quả là, trên cơ sở tiếp nhận kiến thức kiến trúc phương Tây kết hợp với hiểu biết sâu sắc văn hóa dân tộc, các thế hệ KTS được đào tạo thời Pháp đã có những thành công nhất định. Trong đó, một số KTS thế hệ đầu tiên đã sáng tác những công trình mang tính chất mở đường cho xu hướng kiến trúc hiện đại và dân tộc ở nước ta.

Đào tạo KTS từ 1954 đến 1975

Đây là giai đoạn đất nước bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Bối cảnh ấy đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kiến trúc và đào tạo KTS, trong đó, ở cả hai miền tiếp tục có sự tham gia hiệu quả của các KTS được đào tạo thời Pháp.

Ở miền Bắc, trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp cam go, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn sáng suốt, ngày 27/04/1948 đã cho phép lập Đoàn KTS Việt Nam (tiền thân của Hội KTS Việt Nam hiện nay) để tập hợp các KTS, trước là phục vụ kháng chiến, sau là kiến quốc lâu dài. Hòa bình được lập lại ở miền Bắc, chính phủ nhận thức rõ tầm quan trọng của đào tạo KTS phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã tổ chức đào tạo lớp KTS đầu tiên khi thành lập Trường ĐH Bách khoa Hà Nội vào năm 1956. Năm 1966, để chuẩn bị lực lượng kiến thiết đất nước thống nhất sau chiến tranh chống Mỹ, Trường ĐH Xây dựng được thành lập, trong đó có Khoa Kiến trúc và Đô thị. Năm 1969, thành lập Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội .

Những năm đầu sau chiến tranh, miền Bắc gặp vô vàn khó khăn. Tất cả dường như phải làm lại từ đầu, trong đó có đào tạo KTS. Các KTS thế hệ đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương từ chiến khu trở về, với lòng yêu nước, trách nhiệm xã hội và lòng yêu nghề đã có nhiều đóng góp quý báu trong việc xây dựng trường, nhất là trong soạn thảo chương trình và phương pháp đào tạo KTS theo mô hình của các nước XHCN. Tham gia giảng dạy là các KTS được Pháp đào tạo trước đây và các KTS mới tốt nghiệp từ các nước XHCN. Tri thức kiến trúc Pháp hàn lâm kết hợp với kiến trúc XHCN mới mẻ cùng kinh nghiệm nghề nghiệp được các thầy truyền dạy đã khích lệ niềm say mê sáng tạo của sinh viên hướng về một nền kiến trúc mới hiện đại và dân tộc. Mặc dù trong điều kiện miền Bắc còn nhiều khó khăn, nhưng các KTS đã thiết kế và xây dựng nhiều công trình mới với hình thức kiến trúc đơn giản, mạch lạc thể hiện tinh thần của kiến trúc hiện đại XHCN.

Trường ĐH Thủy Lợi – KTS Đoàn Văn Minh [2]
Ở miền Nam, chịu sự chi phối của Mỹ, xã hội phát triển theo hướng TBCN nên đào tạo KTS và hành nghề kiến trúc diễn ra khác với ở miền Bắc. Đào tạo KTS ở miền Nam giai đoạn này là sự tiếp nối truyền thống đào tạo của Pháp ở Đông Dương, đồng thời thích ứng với nhu cầu phát triển mới của thời đại. Truyền thống đào tạo bắt đầu từ chương trình và cách dạy theo kiểu Pháp mang tính truyền nghề dưới dạng họa thất do chính các KTS Pháp và Việt Nam tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Paris hay Khoa Kiến trúc Trường Mỹ thuật Đông Dương trực tiếp giảng dạy. Những năm tiếp theo, có thêm nhiều KTS tu nghiệp ở Mỹ và các nước tư bản khác về tham gia giảng dạy, mở ra cách tiếp cận kiến trúc mới, hiện đại hướng về kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong đào tạo KTS.

Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM –
KTS Nguyễn Hữu Thiện,
KTS Bùi Quang Hanh [2]
Như vậy có thể thấy, ở giai đoạn này, đào tạo KTS ở miền Nam có những điểm chung và khác biệt với miền Bắc. Điểm chung là các KTS – giảng viên ở cả 2 miền đều giàu lòng yêu nước và say mê nghề nghiệp, không chỉ truyền thụ kiến thức mà hơn hết còn kiên trì khơi dậy khát vọng sáng tạo kiến trúc Việt Nam mới – hiện đại và dân tộc. Điểm khác biệt là: Miền Nam chỉ có một trường đào tạo KTS; có sự kế thừa và tiếp nối liên tục truyền thống đào tạo kiến trúc của Trường Mỹ thuật Đông Dương; đội ngũ giảng viên đa dạng được đào tạo từ nhiều nguồn theo triết lý đào tạo khác nhau; thị trường xây dựng phát triển mạnh, xuất hiện nhiều thể loại công trình, có điều kiện tiếp cận các thành tựu kiến trúc và kỹ thuật hiện đại phương Tây, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội để KTS hành nghề. Trong đó, nhiều KTS – giảng viên là tác giả của không ít công trình nổi tiếng, góp phần khẳng định xu hướng tìm tòi giải pháp kiến trúc hiện đại thích hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ở miền Nam. Đó là phong cách Kiến trúc nhiệt đới hiện đại Việt Nam, được đánh giá là: Thành công, có giá trị của kiến trúc hiện đại miền Nam. Tất cả ảnh hưởng trực tiếp đến đào tạo KTS ở miền Nam với đặc điểm nổi bật là đào tạo gắn với thực hành và thị trường.

 Đào tạo KTS từ 1975 đến nay

Đây là giai đoạn khá đặc biệt. Đất nước vừa mới hòa bình, thống nhất, lại phải đối diện với chiến tranh biên giới và cấm vận, khó khăn chồng chất. Trong bối cảnh ấy, chính sách Đổi mới của Đảng đã mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tất cả chi phối đến đào tạo KTS. Để làm rõ quá trình phát triển của công tác đào tạo KTS, có thể chia thời kỳ từ 1975 đến nay thành 2 giai đoạn trước và sau Đổi mới.

Giai đoạn trước Đổi mới (1975-1986)

Giai đoạn này đất nước gặp nhiều khó khăn. Không có nhiều công trình mới được xây dựng, số lượng tuyển sinh không nhiều, nhưng công tác đào tạo KTS vẫn được duy trì và kiện toàn để chuẩn bị cho tương lai. Cả nước chỉ có 3 cơ sở đào tạo KTS, là Trường ĐH Xây dựng, Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội và Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM, không tính Trường ĐH Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội có đào tạo ngành Thiết kế nội thất. Đây là 3 cơ sở đào tạo công lập có vai trò quan trọng, đặt nền móng mang tính dẫn dắt sự nghiệp đào tạo KTS của đất nước. Cả 3 cơ sở đào tạo đều tập trung vào việc kiện toàn tổ chức, chương trình và phương thức đào tạo nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng XHCN. Tuy nhiên, là ngành cần năng khiếu nghệ thuật, thì đặc trưng sáng tạo là quan trọng nên mỗi cơ sở đào tạo vẫn nỗ lực theo cách của mình, trên cơ sở phát huy truyền thống để tìm tòi thế mạnh đào tạo, làm nên đặc trưng riêng với mong muốn phục vụ tốt nhất nhu cầu của xã hội.

Ở miền Bắc, 2 trường ĐH Xây dựng và Kiến trúc, trở về Hà Nội từ nơi sơ tán, dần ổn định cơ sở vật chất và tổ chức đào tạo để đáp ứng nhu cầu khắc phục hậu quả chiến tranh trước mắt và xây dựng XHCN. Trong khi ở miền Nam, trường ĐH Kiến trúc TP.HCM mới được thành lập không gặp khó khăn về cơ sở vật chất, nhưng lại thiếu nghiêm trọng lực lượng giáo viên do một số giảng viên rời nhà trường.
Bấy giờ được sống trong niềm vui đất nước thống nhất, dẫu còn nhiều khó khăn nhưng lòng yêu nghề, nhiệt huyết sáng tạo kiến trúc chưa bao giờ nguôi, được truyền từ thầy sang trò. Lực lượng giáo viên được bổ sung thêm các KTS và kỹ sư tốt nghiệp từ các nước XHCN về. Riêng đối với Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM còn được bổ sung thêm nhiều giảng viên từ miền Bắc, nhiều nhất là từ Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội. Nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo từng bước được hoàn thiện chủ yếu theo mô hình đào tạo KTS của Liên Xô với thời gian là 5 năm, đồng thời đáp ứng nhu cầu của thực tiễn xây dựng đất nước. Như trường hợp sinh viên khóa 73 (nghĩa là vào trường năm 1973) Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội, năm 1976, khi vào năm thứ 4 đã được cử về các địa phương phục vụ Chương trình phát triển nông thôn với 500 pháo đài huyện và được đặc cách tốt nghiệp trên cơ sở đồ án quy hoạch, kiến trúc tại địa phương.

Cung Thiếu nhi Hà Nội – KTS Lê Văn Lân [9]
Hội trường Trường ĐH Cần Thơ – KTS Huỳnh Kim Mãng [2]
Có thể nói đây là giai đoạn tìm tòi, thể nghiệm trong kiến trúc và đào tạo KTS với mong muốn phát triển lớn, trong khi thực tế phát triển kinh tế – xã hội và trình độ chuyên môn còn hạn chế.

Giai đoạn sau Đổi mới (1986 đến nay)

Mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, nhất là sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận kinh tế, năm 1994, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử. Theo đó là nhu cầu cao về nguồn nhân lực, trong đó có KTS. Đào tạo KTS vì thế có những thuận lợi nhưng không ít những thách thức khó khăn để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển nhanh của đất nước.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, thị trường kiến trúc, xây dựng trong nước mở rộng với sự tham gia của KTS nước ngoài. Các KTS Việt Nam, tiếp nối các thế hệ trước có những thành công ở trong nước và quốc tế được đánh giá cao, đặc biệt đối với các công trình quy mô vừa và nhỏ theo hướng hiện đại hóa bản địa, kiến trúc xanh, kiến trúc cộng đồng… Nhưng nhìn chung, để có thể tham gia hiệu quả trong thị trường hành nghề, nhất là hành nghề quốc tế chuyên nghiệp và giàu tính cạnh tranh thì KTS Việt Nam vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Điều đó đòi hỏi công tác đào tạo KTS phải có những thay đổi để kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Về số lượng các cơ sở đào tạo KTS. Từ chỗ chỉ có 4 trường công lập trước Đổi mới đến năm 2025 đã có 45 cơ sở có đào tạo KTS, chủ yếu là trường dân lập, tập trung nhiều nhất ở hai thành phố lớn (Hà Nội có 14 cơ sở đào tạo và TP.HCM có 10) [6]. Theo đó là số lượng tuyển sinh và KTS tốt nghiệp tăng dần theo thời gian. Ví dụ: Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM, tính toàn khóa, từ 500 sinh viên thời kỳ đầu nay là 2250 sinh viên [5]

Về cơ cấu ngành đào tạo, ngành kiến trúc vẫn chiếm ưu thế so với ngành quy hoạch đô thị, trong khi quy hoạch nông thôn, di sản kiến trúc – đô thị và phê bình kiến trúc chưa được chú trọng đào tạo. Trong khi xuất hiện thêm một số ngành mới, như: Thiết kế đô thị, Kiến trúc nội – ngoại thất, Kiến trúc cảnh quan, Kiến trúc công nghệ,… Các ngành mới này thường được các cơ sở đào tạo dân lập quan tâm, do nhu cầu thị trường và sự thuận lợi trong đầu tư cho đào tạo.

Trung tâm Hội nghị quốc tế – KTS Nguyễn Thúc Hoàng, Đặng Kim Khôi [9]
Đài Tưởng niệm Tuyên Quang – KTS Lê Hiệp [9]
Vấn đề chất lượng đào tạo KTS mới là cốt lõi. Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào cơ sở đào tạo thông qua triết lý đào tạo, truyền thống đào tạo, đội ngũ giảng viên, chương trình, phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất và tinh thần đổi mới sự nghiệp đào tạo. Nhưng dù là triết lý đào tạo nào thì cũng đều hướng tới mục tiêu tạo dựng nền kiến trúc Việt Nam hiện đại và dân tộc như đã được thể hiện trong Chiến lược phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Đây là những vấn đề ngày càng được các cơ sở đào tạo chú trọng. Mỗi cơ sở đào tạo đều nỗ lực xây dựng định hướng đào tạo với mong muốn tạo dựng bản sắc riêng. Thật khó đánh giá bản sắc riêng của mỗi cơ sở đào tạo khi chưa có tiêu chí thống nhất. Tuy nhiên, trên cơ sở một số nghiên cứu điều tra về đào tạo KTS và đánh giá kết quả 30 năm Giải thưởng Loa Thành (1988-1988) của Hội KTS Việt Nam cũng như gần đây là Giải thưởng đồ án tốt nghiệp ngành Quy hoạch của Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt Nam, có thể sơ bộ nhận định là: Trong 3 cơ sở đào tạo công lập có truyền thống đào tạo, thì Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM, là trường có bề dày lịch sử lâu nhất về đào tạo KTS, bản sắc đào tạo là tiếp nối truyền thống đào tạo gắn với thực hành và thị trường. Trường ĐH Xây dựng Hà Nội phát triển lợi thế đào tạo KTS trên cơ sở nhấn mạnh tính nghiên cứu và kỹ thuật. Còn Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội lại tập trung vào tính tạo hình nghệ thuật trong kiến trúc [7,8]. Trong khi một số cơ sở đào tạo dân lập, như Trường ĐH Duy Tân (Đà Nẵng), Trường ĐH công nghệ TP.HCM, Văn Lang, Tôn Đức Thắng,… (TP.HCM) đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong đào tạo KTS hướng tới hội nhập toàn cầu.

Kho Bạc Nhà nước, TP. HCM – KTS Nguyễn Trường Lưu [9]
Toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và kỹ thuật, trong những năm gần đây đã làm thay đổi nhận thức về bản chất của kiến trúc không chỉ thiên về nghệ thuật tạo hình như trước đây mà có sự tham gia trực tiếp của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và thuật toán. Bên cạnh đó, thị trường kiến trúc mở rộng, đòi hỏi tính chuyên nghiệp và mang tính cạnh tranh toàn cầu. Các nước phát triển đã tiên phong nhanh chóng thay đổi triết lý đào tạo KTS và đã có nhiều thành công trong đào tạo KTS có chất lượng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của thời đại. Trong bối cảnh ấy, để có thể theo kịp thời đại, lại là nước đi sau, các cơ sở đào tạo KTS Việt Nam cần học tập có chọn lọc kinh nghiệm đào tạo KTS của các nước phát triển, đồng thời nhất thiết phải đổi mới, đúng hơn là thay đổi căn bản về chiến lược, triết lý đào tạo, nội dung, chương trình và phương thức đào tạo dựa trên các chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo đội ngũ KTS có năng lực quốc tế nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhà ở công nhân Lào Cai – KTS Hoàng Thúc Hào [9]

Nhận xét

Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự chi phối của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, đổi mới theo hướng hội nhập quốc tế là đòi hỏi tất yếu đối với đào tạo KTS ở nước ta để cung cấp nguồn nhân lực, không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước mà còn tham gia hiệu quả thị trường kiến trúc quốc tế. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế nhưng vẫn tạo được bản sắc kiến trúc Việt Nam mới là quan trọng. Như vậy, đổi mới đào tạo KTS ở nước ta cần lưu ý một số vấn đề chính:

  •  Trước hết, nhất thiết phải xây dựng triết lý đào tạo chung, làm nền tảng cho hệ thống đào tạo KTS của cả nước. Triết lý chung thể hiện chiến lược đào tạo KTS theo quan niệm “Thống nhất trong đa dạng”. Nghĩa là triết lý chung tạo nên sự thống nhất nhưng đủ linh hoạt để khuyến khích sự đa dạng, để mỗi cơ sở đào tạo xây dựng triết lý và bản sắc đào tạo riêng, trên cơ sở lựa chọn mô hình đào tạo, nội dung, phương pháp và chuẩn mực đào tạo phù hợp [4].
  • Về nội dung chương trình và phương thức đào tạo. Chú trọng tính chất liên ngành trong đào tạo KTS, cùng với sự thay đổi về xu hướng đào tạo từ truyền đạt kiến thức sang thúc đẩy năng lực sáng tạo và phát triển kỹ năng mềm thích ứng với các nhân tố mới, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo. Trong đó, chú ý đào tạo kết hợp với thực tế bằng việc liên kết đào tạo với doanh nghiệp.
  •  Nghiên cứu, lựa chọn mô hình, cấu trúc và thời gian đào tạo theo hướng hành nghề và nghiên cứu được thực hiện thành công ở nhiều nước phát triển trên thế giới để vận dụng phù hợp với điều kiện của từng cơ sở đào tạo là cần thiết. Đó là các bậc đào tạo phổ biến ở nhiều nước như: Cử nhân kiến trúc thời gian học 4 năm, Thạc sĩ – Hành nghề (KTS hành nghề) thời gian thêm 2 năm, tổng là 6 năm (hiện là 5 năm), Thạc sĩ – Nghiên cứu (KTS nghiên cứu) thời gian thêm 2 năm, tổng là 6 năm (hiện là 5 năm) và Tiến sĩ thời gian 3-4 năm, thường cho KTS nghiên cứu.
  •  Tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế trong đào tạo KTS dưới nhiều hình thức, cấp độ và chương trình trao đổi, liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học khác nhau. Thông qua hợp tác khu vực và quốc tế trong đào tạo KTS, không chỉ giúp nâng cao năng lực đào tạo theo chuẩn quốc tế mà còn từng bước khẳng định uy tín quốc tế và tiến tới công nhận văn bằng KTS của cơ sở đào tạo Việt Nam trong khu vực ASEAN và quốc tế.

Cuối cùng là vai trò của Hội KTS đối với đào tạo. Đào tạo nghề nghiệp liên tục trong chương trình cấp chứng chỉ hành nghề và giám sát năng lực hành nghề của KTS là đương nhiên. Vấn đề là cần thiết tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa Hội KTS với công tác đào tạo KTS. Bên cạnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng và quảng bá rộng rãi các hoạt động truyền thống như: Giải thưởng Loa Thành, Festival Sinh viên kiến trúc, cần thiết tổ chức thêm các hoạt động dành cho sinh viên kiến trúc, đặc biệt trong kết nối đào tạo với thực hành thông qua chương trình thực tập và kết nối sinh viên với các văn phòng kiến trúc trong nước và quốc tế,…

GS. TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
TS. KTS Nguyễn Vũ Bảo Minh
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Quốc Thông: Lịch sử xây dựng đô thị cổ đại và trung đại phương Tây – NXB Xây dựng, 2000;
2. Hội KTS Việt Nam: Thế hệ kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên – NXB Văn hóa – Thông tin, 2008;
3. Lê Quân, Lê Chiến Thắng, Nguyễn Hoàng Minh: Đào tạo kiến trúc ở Việt Nam hướng tới hội nhập quốc tế – Hội KTS Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo: Kiến trúc Việt Nam 50 năm đất nước thống nhất, NXB Xây dựng, 2025;
4. Lê Quân, Nguyễn Thái Huyền, Lương Thùy Trang: Triết lý và quan điểm đào tạo KTS: Cơ sở lý luận và đề xuất cho công tác đổi mới chương trình đào tạo KTS ở Việt Nam – Tạp chí Kiến trúc, 2025;
5. Phạm Phú Cường: Chặng đường 50 năm đào tạo KTS tại Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM – Hội KTS Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo: Kiến trúc Việt Nam 50 năm đất nước thống nhất, NXB Xây dựng, 2025;
6. Trần Minh Tùng: Toàn cảnh bức tranh đào tạo KTS trong nửa thế kỷ đất nước thống nhất – Hội KTS Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo: Kiến trúc Việt Nam 50 năm đất nước thống nhất, NXB Xây dựng, 2025;
7. Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội: Đánh giá kết quả đào tạo KTS của Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội so sánh với Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM. Đề tài NCKH cấp trường, 1992;
8. Nguyễn Quốc Thông, Doãn Minh Khôi: Đánh giá 30 năm (1998-2018) Giải Loa Thành dành cho sinh viên với đồ án tốt nghiệp ngành Quy hoạch, Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam, 2018;
9. Hội KTS Việt Nam: Kiến trúc Việt Nam. 50 năm đất nước thống nhất – NXB Xây dựng, 2025.