Di sản kiến trúc làng kép (Gia Lai) nhận diện giá trị không gian truyền thống trong bối cảnh bảo tồn

Tóm tắt

Làng Kép, hay còn gọi là Plei Kép thuộc xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai cũ, là một cộng đồng cư trú lâu đời của người Jrai. Nơi đây vẫn còn lưu giữ được nhiều công trình nhà Rông, nhà sàn truyền thống, khu nhà mồ cùng các phong tục, lễ hội mang đậm bản sắc tộc ngừơi. Bài viết này tập trung vào việc nhận diện các giá trị di sản của làng Kép Jrai dưới góc nhìn kiến trúc và văn hóa, bao gồm các giá trị vật thể (công trình kiến trúc, cảnh quan, bố cục làng…) và phi vật thể (lễ hội, tín ngưỡng, âm nhạc dân gian, nghệ thuật điêu khắc…). Thông qua kết quả khảo sát điền dã và đối thoại với cộng đồng địa phương, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy di sản làng Kép gắn với phát triển du lịch bền vững tại địa phương.

Từ khóa: Di sản kiến trúc, Làng Plei Kép, Văn hóa Jrai, Nhà sàn truyền thống.

1. Tổng quan

Di sản văn hóa (DSVH) đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của một quốc gia, đồng thời là nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Tại Việt Nam, nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của văn hóa đã được thể hiện rõ nét từ những chủ trương, chính sách đầu tiên của Đảng, Nhà nước, khẳng định sự cần thiết của việc kế thừa, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống. DSVH không chỉ là minh chứng cho lịch sử và bản sắc dân tộc, mà còn là “Sức mạnh mềm” – Thế mạnh quan trọng [1], góp phần ổn định xã hội, thực hiện chức năng giáo dục, cung cấp tri thức dân gian/bản địa, và là tài nguyên quý giá thúc đẩy phát triển bền vững (PTBV) đặc biệt trong lĩnh vực du lịch văn hóa – di sản.

Tây Nguyên (vùng cao nguyên Nam Trung Bộ) là một trong những vùng văn hóa lớn của Việt Nam, được hình thành từ hàng nghìn năm về trước với những giá trị phong phú, đặc sắc. Phát triển bền vững Tây Nguyên không thể không chú trọng bảo tồn và phát triển văn hóa. Hệ thống di sản văn hóa Tây Nguyên nổi bật như Không gian văn hóa cồng chiêng (được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại), cùng với kho tàng sử thi, luật tục, các kiến trúc Nhà Rông, Nhà Sàn, Nhà Dài đặc trưng và những lễ hội truyền thống đầy màu sắc trong không gian rừng đại ngàn mênh mông [2]. Tuy nhiên, hiện nay các giá trị văn hóa này đang đối mặt với nguy cơ mai một và biến đổi sâu sắc trước tác động của bối cảnh kinh tế – xã hội hiện đại. Do đó, công tác bảo tồn di sản văn hóa Tây Nguyên đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết, không chỉ nhằm lưu giữ bản sắc độc đáo của các dân tộc mà còn góp phần làm phong phú sự đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa Việt Nam.

Plei Kép là ngôi làng thuộc xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai cũ, cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng 40 km về phía Đông Bắc (Hình 1), với cư dân cư trú chủ yếu là người Jrai, một trong các dân tộc thiểu số lâu đời ở Việt Nam. Làng Kép nằm trên vùng đất có địa hình đa dạng, nhiều đồi núi và thung lũng, cảnh quan tự nhiên hoang sơ, đất đai màu mỡ phù hợp phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây cà phê và cao su.

Lịch sử hình thành làng Kép gắn liền với quá trình khai hoang và lập làng của cộng đồng người Jrai trong khu vực Tây Nguyên. Các thế hệ người Jrai tại đây đã tạo dựng một nền văn hóa đặc trưng với những giá trị truyền thống như kiến trúc – cảnh quan bản địa, nghi lễ thờ cúng, phong tục tập quán, các hình thức sinh hoạt cộng đồng, nghề thủ công… vẫn tiếp tục được duy trì cho đến ngày nay.

Là một bản làng mộc mạc và hoang sơ giữa núi rừng đại ngàn, bối cảnh không gian và văn hóa của làng Kép thể hiện sự hòa quyện giữa yếu tố thiên nhiên và văn hóa cộng đồng. Các ngôi nhà ở được xây dựng kiểu nhà sàn truyền thống với các vật liệu tự nhiên, tạo nên một không gian sống gần gũi và hài hòa với thiên nhiên. Bên cạnh đó, không gian văn hóa của làng còn bao gồm những điểm sinh hoạt cộng đồng như Nhà Rông, sân sinh hoạt cộng đồng, khu vực nhà mồ nằm ẩn vào thiên nhiên, hài hòa cùng với những cánh rừng cao su, cà phê bạt ngàn, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân địa phương.

Hình 1. Vị trí làng Kép (Nguồn: [7])
Làng Kép phản ánh một sự hòa hợp giữa các thế hệ trong cộng đồng Jrai, người cao tuổi giữ gìn các giá trị văn hóa và truyền thống, trong khi thế hệ trẻ đang dần tiếp nhận và phát triển những yếu tố mới từ xã hội hiện đại, tạo nên một bối cảnh xã hội đặc trưng với sự giao thoa giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại cho cộng đồng người Jrai tại đây. Tuy nhiên, trước sức ép của quá trình đô thị hóa, nhiều ngôi làng người Jrai ở Pleiku đã có những thay đổi cả về cấu trúc, sinh hoạt và văn hóa truyền thống dẫn đến việc dần bị phân hóa một phần về văn hóa hoặc đã bị phân hóa hoàn toàn. Đó là sự thật và cũng là quy luật khách quan [2]. Làng Kép cũng không ngoại lệ, nhiều phong tục, tập quán của người Jrai trong làng đang dần bị mai một do sự tác động của lối sống đô thị và sự chuyển biến trong nhu cầu sinh kế của người dân. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện, tư liệu hóa và bảo tồn các giá trị văn hóa tại làng Kép không chỉ mang ý nghĩa giữ gìn bản sắc vùng miền mà còn là cơ sở để phát triển du lịch văn hóa bền vững tại Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung.

2. Phương pháp nguyên cứu và khung nhận diện giá trị di sản

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình khảo sát điền dã tại làng Kép đã được nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện 2 lần, trong tháng 8 và tháng 11/2024. Các chuyến khảo sát tập trung vào việc nghiên cứu, đo vẽ và ghi nhận giá trị các kiến trúc truyền thống của người Jrai như nhà Rông, nhà sàn, khu nhà mồ… Việc phỏng vấn với người dân địa phương ngay tại ngôi nhà của họ cũng được tiến hành nhằm tiếp cận trực tiếp những tri thức dân gian, thói quen sinh hoạt, quan điểm văn hóa và phong tục tín ngưỡng của cộng đồng Jrai, đồng thời nhận diện những thách thức mà làng đang phải đối diện trong quá trình bảo tồn và phát triển. Các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn đáng tin cậy như công trình nghiên cứu khoa học, báo chí, luận văn, tài liệu chuyên đề… sẽ được tổng hợp, đối chiếu, phân tích và đánh giá một cách hệ thống. Đặc biệt, phương pháp mô hình hóa không gian làng truyền thống đã được áp dụng nhằm nhận diện rõ hơn các giá trị vật thể về tổ chức không gian kiến trúc và cảnh quan trong làng Kép.

2.2 Khung nhận diện giá trị di sản văn hóa làng Kép

Trong nghiên cứu này, một khung lý thuyết được đề xuất như nội dung Bảng 1, nhằm nhận diện các giá trị di sản kiến trúc truyền thống tại làng Kép, dựa trên các giá trị vật thể và phi vật thể có tính đặc thù đối với không gian sống và văn hóa của cộng đồng người Jrai. Khung này được phát triển từ kết quả nghiên cứu nhận diện giá trị di sản nhà cổ tại làng cổ Đông Hòa Hiệp (2024) của nhóm tác giả Lê Thị Hồng Na và Trần Công Danh [3], kết hợp các đặc điểm văn hóa – xã hội đặc trưng vùng Tây Nguyên.

Bảng 1. Khung nhận diện giá trị di sản làng Kép (Nguồn: nhóm tác giả)

3. Kết quả nguyên cứu

Làng Kép, một không gian văn hóa đặc trưng của người Jrai tại Gia Lai, là nơi lưu giữ nhiều giá trị di sản quý báu. Từ những giá trị vật thể như kiến trúc bản địa, cảnh quan thiên nhiên, cho đến các giá trị phi vật thể như các lễ hội, phong tục tập quán và hoạt động kinh tế – du lịch đều phản ánh bản sắc văn hóa phong phú và bền vững của cộng đồng Jrai nơi đây.

Bảng 2. Giá trị di sản kiến trúc làng Kép (Nguồn: nhóm tác giả)

Bảng 2 trình bày tổng quan các giá trị di sản kiến trúc của làng Kép. Trong đó, phần di sản vật thể bao gồm hệ thống nhà Rông, nhà sàn, khu nhà mồ, là những công trình mang đặc trưng kiến trúc bản địa, được xây dựng bằng kỹ thuật truyền thống với vật liệu địa phương, đồng thời gắn kết chặt chẽ với đời sống cộng đồng và môi trường tự nhiên. Phần di sản phi vật thể thể hiện chiều sâu lịch sử – niên đại, đời sống tâm linh, đặc biệt là các nghi lễ đặc trưng như lễ Pơ thi hay nghệ thuật cồng chiêng cùng các hoạt động kinh tế – xã hội như làng nghề, du lịch cộng đồng,…

Qua bảng này, có thể thấy rõ những giá trị di sản chủ đạo của cộng đồng Jrai ở làng Kép, là cơ sở quan trọng để đánh giá các giá trị tổng thể và tiềm năng bảo tồn, PTBV di sản của dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

3.1. Giá trị vật thể làng Kép

Tổng thể làng

Làng Kép có khoảng 201 hộ dân với hơn 80% là người đồng bào Jrai. Tổng thể làng được quy hoạch kiểu ô cờ, mỗi ô có diện tích trung bình khoảng 2 héc-ta với 4 đến 6 hộ dân sinh sống và canh tác. Các ngôi nhà ở được xây dựng bám theo các tuyến đường lộ, cùng với nhà Rông và sân sinh hoạt cộng đồng ở trung tâm làng, từ khu nhà Rông này có thể đi thẳng đến khu nhà mồ và tiếp tục di chuyển đến khu giọt nước là nơi lấy nước suối tự nhiên cho sinh hoạt, tắm giặt…

Hình 2. Tổng thể làng Kép với kiểu quy hoạch dạng bàn cờ (trái), Sơ đồ di chuyển từ đường DT673 đến nhà Rông, khu nhà mồ và khu Giọt nước (phải) (nguồn: [7])
Hình 3. Mặt cắt mô phỏng cảnh quan và kiến trúc điển hình làng Kép (nguồn: [7])
Làng Kép có được lợi thế về cảnh quan tự nhiên với nhiều mảng xanh trải khắp làng. Các ngôi nhà ở được bao bọc bởi các vườn cây nông lâm sản, cây ăn trái… là nơi người dân sinh sống và canh tác trên khu đất của mình. Người Jrai vẫn giữ được các hình thức ở nhà sàn hài hòa cùng thiên nhiên, và tạo ra nét đặc trưng dễ nhận diện của một bản làng dân tộc. Bên cạnh đó để duy trì những sinh hoạt cộng đồng và lễ hội truyền thống, khu nhà Rông ở vị trí trung tâm ngôi làng có sân sinh hoạt rộng lớn với cảnh quan điểm nhấn là hàng cây cổ thụ xanh mát có thể nhận diện từ xa. Người Jrai cũng đặc biệt quan tâm đến yếu tố tâm linh thể hiện qua khu nhà mồ được xây dựng công phu cùng với các nghi lễ đặc biệt dành cho người đã khuất. Khu nhà mồ nằm ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ linh thiêng, tạo nên không gian tâm linh yên bình và huyền bí. Từ khu nhà mồ đi theo lối mòn về hướng Tây Nam là khu giọt nước với những dòng nước suối chảy không ngừng qua bao thế hệ mang đến những giọt nước trong lành cho người dân làng. Mộc mạc và yên bình với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của núi đồi, của những khu vườn và cánh rừng bạt ngàn trù phú ôm ấp những ngôi nhà truyền thống, có thể nói làng Kép là một trong những di sản quý báu mà các thế hệ sau cần gìn giữ và phát triển.

Tại làng Kép hiện vẫn còn giữ được một số công trình kiến trúc bản địa. Đó là các nhà sàn để ở, nhà Rông cho sinh hoạt cộng đồng và khu nhà mồ là nơi chôn cất người chết cũng như là nơi tổ chức nghi lễ truyền thống. Các kiến trúc này là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng của người Jrai, thể hiện sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên và còn là biểu tượng của sự đoàn kết, tôn kính tổ tiên.

Nhà Rông

Trong khu vực sân sinh hoạt cộng đồng trung tâm ở làng Kép hiện có một Nhà Rông lớn, một Nhà Rông nhỏ và một Nhà Dài (Hình 4). Nhà Rông có hình dáng mái vút cao như hình “lưỡi rìu” một công cụ quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của người Jrai. Nhà Rông tọa lạc ở khu vực trung tâm như là “trái tim” của ngôi làng, có sân lớn cùng hàng cây cổ thụ che mát bao quanh. Nơi đây thường được tổ chức các sự kiện quan trọng phục vụ cộng đồng như các hoạt động lễ hội, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng… và cũng là nơi tạo cảm hứng cho thế hệ trẻ Jrai về các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, do tình trạng xuống cấp, hiện nay khu vực nhà Rông này cũng đang được chính quyền địa phương tiến hành sửa chữa cải tạo lớn nằm trong hạng mục công trình xây dựng hạ tầng du lịch cộng đồng xã Ia Mơ Nông thuộc Dự án Hỗ trợ phát triển khu vực biên giới, vốn ADB [4].

Hình 4. Từ trái qua phải: Nhà Rông lớn, nhà sàn và nhà Rông nhỏ tại làng Kép (nguồn: nhóm tác giả)

Nhà ở truyền thống và không gian phụ trợ

Nhà ở của người Jrai tại làng Kép chủ yếu là kiểu nhà sàn truyền thống, nằm trong một khuôn viên đất rộng lớn (Hình 5), ngôi nhà thường được dựng trên nền đất cao ráo, có cổng vào trực tiếp từ đường lộ. Phía trước nhà thường là sân phơi, bên cạnh là kho thóc (Hình 6) chứa nông sản sau thu hoạch hoặc thóc giống cho mùa sau. Xung quanh nhà là vườn cà phê, hồ tiêu, hoặc cây lâm sản như bời lời, cao su… kết hợp với chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Hình 5. Mặt bằng tổng thể một ngôi nhà sàn điển hình tại làng Kép (nguồn: nhóm tác giả)
Hình 6. Nhà sàn (trái) và kho thóc (phải) tại làng Kép (Nguồn: Nhóm tác giả)

Nhà sàn của người Jrai có mặt bằng hình chữ nhật như kiểu nhà dài. Phía dưới gầm sàn là nơi để chứa gỗ, củi,… phía trên là không gian sinh hoạt, nghỉ ngơi. Bộ khung nhà thường được làm bằng gỗ quý địa phương, chống mối mọt tốt như cà chít (sến cát, tên khoa học: shorea roxburghii thuộc họ Dầu), hương, pờ lũ… Các hệ vì cột, trụ đỡ, xà gồ mái… được liên kết với nhau bằng các kỹ thuật lắp ghép mộng truyền thống hoặc buộc dây, thể hiện sự khéo léo và bền vững của người Jrai. Sàn và vách nhà được làm từ các vật liệu tự nhiên như gỗ, tre, nứa, lồ ô… cùng với mái nhà lợp lá tranh, giúp ngôi nhà có thể đối lưu không khí tạo không gian sống thông thoáng.

Người Jrai có chế độ mẫu hệ và truyền thống nhiều thế hệ cùng sống chung một mái nhà. Ngôi nhà sẽ được nối dài hoặc mở rộng khi cần thêm không gian sống. Nhà sàn của người Jrai ở làng Kép thường có tổ hợp gồm nhà chồ, nhà chính và nhà phụ (Hình 7). Nhà chồ có mái, không có vách, cấu trúc như một hàng hiên, có thang lên nhà và là nơi đón khách. Nhà chính có dạng nhà dài, có nhiều gian tùy theo số lượng gia đình sống trong nhà, các gian được phân chia cho việc tiếp khách, ngủ nghỉ. Nhà phụ thường ở phía sau và dùng cho việc cất giữ các vật dụng có giá trị của gia đình như: Ghè, cồng chiêng, lương thực,.. hoặc có thể tận dụng làm gian ngủ phụ.

Hình 7. Hình thức kiến trúc của một ngôi nhà sàn điển hình tại làng Kép
(nguồn: nhóm tác giả)
Hình 8. Một số tổ hợp ghép nối mái nhà sàn điển hình tại làng Kép (nguồn: Nhóm tác giả)

Mái nhà chủ yếu là mái hai dốc, ba dốc hoặc bốn dốc, cấu trúc đối xứng. Mái nhà chồ, mái nhà chính và mái nhà phụ có một số kiểu ghép nối thông thường như ghép đôi song song, ghép đôi vuông góc, ghép hỗn hợp… Từ đó, tùy theo nhu cầu cần mở rộng không gian ở – sinh hoạt, có thể tạo nên nhiều kiểu mái phát sinh như thể hiện trong Hình 8.

Nhà mồ

Tọa lạc ở phía Tây của làng Kép, khu nhà mồ của người Jrai không chỉ là một phần quan trọng trong tín ngưỡng và đời sống tâm linh của cộng đồng mà còn là biểu tượng của sự gắn kết cộng đồng qua những nghi lễ và phong tục truyền thống, cùng với nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ độc đáo, khu nhà mồ đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa và truyền thống của dân tộc Jrai.

Khu nhà mồ được xây dựng trên một khu đất rộng lớn, gồm quần thể cây cổ thụ rêu phong hàng trăm năm tuổi uy nghiêm và huyền bí, dưới những tán cây là các ngôi nhà mồ đã hoàn thành nghi lễ Bỏ mã và dần tự phân hủy, mục nát trở về với thiên nhiên một cách tự nhiên nhất. Ở hướng Đông Nam của khu nhà mồ là các nhà mồ còn mới, được bố trí song song và dọc theo hướng Đông Tây, cửa ra vào quay về hướng Đông. Giữa khu nhà mồ là các khoảng đất trống đủ cho các hoạt động nghi lễ, tiếp đón, nấu ăn, chế biến thực phẩm… (Hình 9).

Hình 9. Mặt bằng tổng thể (trái) và mặt cắt khu nhà mồ (phải) (nguồn: [7])

Nhà mồ Jrai có kiểu nhà trệt thấp với mái dốc truyền thống, quy mô lớn nhỏ khác nhau tùy theo điều kiện của mỗi gia đình. Mỗi nhà mồ là nơi chôn cất tập thể những người đã khuất có quan hệ cùng gia đình, dòng tộc. Nhìn từ bên ngoài có thể thấy trên đỉnh nóc mái nhà mồ được trang trí hoa văn có họa tiết diễn tả các hình thức sinh hoạt, lễ hội, đời sống của người Jrai. Xung quanh nhà mồ là hàng rào gỗ được liên kết bởi các cột gỗ, trên mỗi cột gỗ là các tượng mồ lớn nhỏ khác nhau. Bên trong nhà mồ là các quan tài (một hoặc nhiều quan tài), cùng các vật dụng sinh hoạt hàng ngày như ghè rượu, nông cụ, nhạc cụ, vật dụng cá nhân,… được sắp xếp bên cạnh với niềm tin người đã khuất có thể tiếp tục sử dụng khi sang thế giới bên kia (Hình 10, Hình 11).

Hình 10. Mặt bằng nhà mồ điển hình kiểu truyền thống tại làng Kép (nguồn: [7])
Hình 11. Mặt đứng hướng Đông (trái) và mặt đứng hướng Bắc (phải) của nhà mồ điển hình kiểu truyền thống trong làng Kép (nguồn: [7])
Hình 12. Tượng mồ làng Kép với các hoạt động và sắc thái biểu cảm khác nhau (Nguồn: [7])
Xung quanh nhà mồ được trang trí bằng các tượng gỗ mô phỏng lại các hoạt động đời thường của con người, tượng động vật… tất cả đều được đẽo tạc công phu bằng kỹ thuật bản địa, thể hiện được nét biểu cảm buồn thương, khắc khổ, tư lự, xa xăm… (Hình 12) hệ thống tượng gỗ dân gian trang trí khu vực nhà mồ đã để lại nhiều cảm xúc, suy nghĩ cho người xem về kiếp nhân sinh [8].

Hình 13. Nhà mồ truyền thống với vật liệu tự nhiên tại làng Kép (Nguồn: Nhóm tác giả)
Hình 14. Vòng đời sinh thái của nhà mồ (Nguồn: Nhóm tác giả)

Nhà mồ của người Jrai thể hiện một chu trình sinh thái, hòa hợp với tự nhiên. Các nhà mồ truyền thống đều được xây dựng bằng phương pháp thủ công và làm từ các loại vật liệu có nguồn gốc hữu cơ như gỗ, tranh, lá… (Hình 13). Theo thời gian, toàn bộ vật liệu sẽ dần mục nát và phân hủy dưới tác động của tự nhiên, cây cối lại tiếp tục mọc lên xanh mát, hoàn thiện một vòng đời khép kín (Hình 14). Trong thời gian chờ cho các nhà mồ tự phân hủy, người dân trong làng tuyệt đối không phá hỏng hay đụng đến các nhà mồ này và cũng không ai nhớ vị trí nhà mồ cũ trừ người trưởng làng (già làng).

Nhà mồ làng Kép với những giá trị đặc biệt, không chỉ mang giá trị văn hóa tâm linh đặc sắc của người Jrai mà còn thể hiện một triết lý sống hài hòa với môi trường, có thể trở thành cảm hứng cho những mô hình kiến trúc có công năng tương tự, gắn với bản sắc văn hóa địa phương trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.

3.2. Giá trị phi vật thể làng Kép

Làng Kép không chỉ nổi bật với nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Jrai mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị di sản văn hóa kiến trúc truyền thống. Người Jrai tại đây có nền văn hóa phong phú với các lễ hội truyền thống như lễ Pơ Thi, lễ mừng lúa mới, lễ đâm trâu, cúng giọt nước… cùng với tiếng Jrai (Gia Rai), trang phục truyền thống và các ngành nghề thủ công lâu đời như đan lát, dệt thổ cẩm, làm gốm… cũng góp phần tạo nên những nét riêng biệt của cộng đồng này.

Nổi bật nhất trong những di sản phi vật thể của làng Kép chính là lễ Pơ Thi (lễ bỏ mả), một nghi lễ đặc biệt của người Jrai, mang ý nghĩa tiễn đưa linh hồn người chết về thế giới của thần linh (Yang). Đây cũng là dịp cuối cùng để gia đình sum họp cùng người quá cố trước khi chính thức chia tay, để người đã mất tái sinh trong một kiếp sống khác. Sau Lễ này, người sống không còn phải chăm lo cơm nước hằng ngày cho người chết còn người ở lại được xem như đã hoàn thành bổn phận với người đã khuất. Lễ bỏ mả thường được tổ chức sau khi người mất đã qua đời ít nhất một năm, phổ biến là từ 3 đến 5 năm, nhưng cũng có trường hợp kéo dài đến 10 hay 20 năm mới tiến hành.

Hình 15. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống vẫn được duy trì ở làng Kép (Nguồn: Nhóm tác giả)

Pơ Thi là lễ hội lớn nhất, giàu giá trị văn hóa tinh thần và thể hiện quan niệm sâu sắc về sự sống – cái chết và vòng luân hồi theo quan niệm của người Jrai. Không chỉ là lễ tiễn biệt linh hồn người mất về với thế giới của thần linh, Pơ Thi còn là dịp gắn kết cộng đồng, là sân khấu của những tinh hoa văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực đặc trưng. Lễ hội không chỉ là dịp quy tụ gia đình của người đã mất, mà còn có sự hiện diện của cả dòng họ, người dân làng Kép và cả những làng lân cận về cùng nhau tổ chức, chia sẻ và gìn giữ truyền thống. Cũng trong Lễ hội này, văn hóa cồng chiêng – di sản quý báu của Tây Nguyên được thể hiện một cách tự nhiên, sống động và mang đậm bản sắc của người Jrai.

Nghề dệt thổ cẩm của người Jrai là nghề thủ công truyền thống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ (Hình 15). Người Jrai quan niệm rằng là phụ nữ thì phải biết dệt vải, người con gái Jrai khi lớn lên phải tập dệt vải để có thổ cẩm làm sính lễ lấy chồng. Khi đến nhà trai, người con gái phải đưa bố mẹ chồng quần, áo, vải… coi như đồ sính lễ. Sản phẩm dệt thường là chăn mền, túi địu con nhỏ, khăn, áo, váy… thường có các màu chủ đạo như đỏ, đen, xanh, trắng… dệt xen kẽ nhau với hoa văn là thế giới tự nhiên xung quanh như hình con chim, cá, cỏ, cây, hoa, lá… Các tấm vải đều được dệt thủ công, thể hiện sự khéo léo, tài năng của từng người Jrai.

4. Thách thức đối với làng Kép

Do điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, những ngôi nhà truyền thống được xây dựng bằng vật liệu tự nhiên này ngày càng xuống cấp theo thời gian. Trong khi đó, nguồn gỗ quý phục vụ cho việc xây dựng ngày nay không còn nhiều hoặc không được phép khai thác. Kết cấu nhà Rông và nhà sàn dần được thay thế bởi cột bê tông cốt thép và sử dụng các vật liệu công nghiệp như hệ vách và mái lợp tôn do chi phí rẻ và dễ tìm thấy tại địa phương. Điều này làm ảnh hưởng đến yếu tố thẩm mỹ nguyên bản của ngôi nhà. Bên cạnh đó, có thể xuất hiện những bất tiện trong việc sinh sống của người dân do các vật liệu này có khả năng làm cho nhiệt độ bên trong ngôi nhà có thể quá nóng vào mùa hè hay quá lạnh vào mùa đông, cũng như làm giảm đi các giá trị văn hóa và tính bền vững.

Di sản nhà mồ truyền thống tại làng Kép cũng đang gặp vấn đề tương tự như nhà ở và nhà Rông. Phương thức xây dựng truyền thống ngày càng bị thay thế bởi các giải pháp hay vật liệu công nghiệp (như cột bê tông, tường xây gạch đá, mái lợp tôn), kiểu dáng cũng bị pha lẫn bởi các hình thức kiến trúc hiện đại hay các tôn giáo khác, làm mất đi nét riêng biệt của kiến trúc gỗ truyền thống Jrai.

5. Kết luận

Làng Kép Jrai là một không gian di sản đặc sắc của vùng Tây Nguyên, mang trong mình hệ thống giá trị văn hóa phong phú và đa dạng, bao gồm cả yếu tố vật thể lẫn phi vật thể. Các kiến trúc truyền thống như nhà Rông, nhà sàn, khu nhà mồ và cảnh quan tự nhiên của làng không chỉ đóng vai trò là biểu tượng của bản sắc văn hóa địa phương, mà còn là những chứng tích lịch sử quan trọng góp phần phản ánh quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng cư dân bản địa qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, các giá trị phi vật thể như tín ngưỡng, tập quán, lễ hội, lối sống và tri thức dân gian đã tạo nên chiều sâu văn hóa, thể hiện bản sắc riêng biệt và bền vững của cộng đồng làng Kép.

Việc nhận diện rõ ràng các giá trị này là bước đầu tiên nhưng mang tính quan trọng và cấp thiết trong quá trình xây dựng các chiến lược bảo tồn và phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập và biến đổi xã hội hiện nay, vai trò văn hóa truyền thống lại càng được thể hiện rõ hơn, là cầu nối giữa quá khứ hiện tại và tương lai, giữa truyền thống và hiện đại, gắn kết cộng đồng. Bảo tồn không chỉ là giữ lại nguyên trạng mà còn phải gắn với việc phát huy giá trị một cách linh hoạt, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó, phát triển du lịch văn hóa dựa trên nền tảng bản địa được xác định là hướng đi bền vững, đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

Cần có các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững kiến trúc Nhà Rông, Nhà Sàn, khu nhà mồ, giọt nước… hướng dẫn người dân trong việc gìn giữ, duy tu các kiến trúc này theo đúng phương pháp và khoa học, kết hợp các chính sách hỗ trợ, tuyên truyền ý thức bảo vệ di sản, khôi phục các lễ hội, tập tục truyền thống, duy trì các làng nghề, xây dựng mô hình du lịch cộng đồng… Qua đó, giúp cho làng Kép không chỉ gìn giữ được bản sắc văn hóa độc đáo mà còn có cơ hội chuyển mình trở thành điểm đến du lịch văn hóa độc đáo và đặc trưng của Gia Lai – Tây Nguyên, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế địa phương và lan tỏa giá trị văn hóa ra cộng đồng rộng lớn hơn.

Từ nghiên cứu này, có thể khẳng định rằng, bảo tồn di sản văn hóa Jrai nói riêng và cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam nói chung, cần được nhận diện và nhìn nhận dưới góc độ toàn diện nhằm đảm bảo sự sống động, bền vững và thích ứng với thời đại mới.

KTS Trần Công Danh
Bộ môn Kiến trúc, Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM
PGS.TS.KTS Lê Thị Hồng Na
ĐH Quốc gia TP.HCM
Ghi chú: Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-HCM hỗ trợ nghiên cứu này
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2025)


Tài liệu tham khảo
[1]. Báo điện tử chính phủ (2023): Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa là nhiệm vụ then chốt.. [online] đăng ngày 23/02/2023. Website: https://baochinhphu.vn/bao-ton-va-phat-trien-di-san-van-hoa-la-nhiem-vu-then-chot-102230223171214816.htm;
[2]. Báo Vietnamplus (2024): Phát huy và bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. [online] đăng ngày 20/11/2023 .Website: https://www.vietnamplus.vn/phat-huy-va-bao-ton-gia-tri-van-hoa-cac-dan-toc-thieu-so-o-tay-nguyen-post908351.vnp;
[3]. Lê Thị Hồng Na, Trần Công Danh (2024): Nhận diện các giá trị di sản kiến trúc nhà cổ tại làng cổ Đông Hòa Hiệp – Tạp chí Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam: Số 6/2024, trang 56-61;
[4]. Báo Gia Lai trực tuyến (2025): Hoàn thành Công trình du lịch cộng đồng xã Ia Mơ Nông trước 15-8. [online] đăng ngày 28/05/2025 .Website: https://baogialai.com.vn/hoan-thanh-cong-trinh-du-lich-cong-dong-xa-ia-mo-nong-truoc-15-8-post325162.html;
[5]. Báo Công an Nhân dân (2024): Độc đáo du lịch cộng đồng ở Ia Mơ Nông [online] đăng ngày 30/12/2024. Website: https://cand.com.vn/So-tay/doc-dao-du-lich-cong-dong-o-ia-mo-nong-i754604/;
[6]. Báo Gia Lai trực tuyến (2024): Chư Păh đa dạng hóa sản phẩm du lịch. [online] đăng ngày 06/05/2024. Website: https://baogialai.com.vn/chu-pah-da-dang-hoa-san-pham-du-lich-post275070.html
[7]. Nhóm sinh viên ngành Kiến trúc (2024): Kết quả báo cáo môn học Thực tập Di sản Kiến trúc và Đô thị, GVHD: Lê Thị Hồng Na và Trần Công Danh, Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-HCM.
[8]. Hoàng Thanh Hương (2016): Điêu khắc gỗ dân gian trong kiến trúc nhà mồ của người Jrai ở Gia Lai – Tạp chí Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam: Số 6/2016, trang 52-55.