Trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô – Tầm nhìn 100 năm vừa công bố tháng 3/2026, Hà Nội sẽ tiếp tục mở rộng theo các trục giao thông và đường vành đai. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp ở nhiều vùng ngoại ô. Bài toán cho một đô thị 20 triệu dân trong tương lai sẽ là: Làm thế nào để tự sản xuất và cung cấp lương thực, khi đất trồng trọt bị thu hẹp, hay ta sẽ phải nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp từ các vùng ngày càng xa hơn? – Nghịch lý của việc phụ thuộc vào nhập lương thực là đôi khi chất lượng sản phẩm kém, đồ không tươi mà giá lại cao hơn do chi phí vận chuyển tăng. Ngoài ra, biến động kinh tế thế giới sẽ còn ảnh hưởng sức mua và do đó làm giảm khả năng tiếp cận lương thực của những người dân có thu nhập khiêm tốn. Hiện tượng này sẽ tăng nguy cơ dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương ở đô thị.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, phần lớn dân số làm nông, mặc dù một bộ phận đã thành người đô thị, nhưng truyền thống và thói quen nông nghiệp vẫn còn tồn tại. Ở nước ta, hiếm khi thấy những gia đình không trồng cây trong nhà, ngay cả những gia đình sống trong các chung cư ở trung tâm thành phố. Theo số liệu Bộ NN&PTNT, nông nghiệp đô thị cung cấp 33% sản phẩm thực phẩm của Hà Nội, 10% ở TP.HCM. Từ quan điểm kiến trúc đô thị, chúng tôi thấy cần phải nhìn nhận hoạt động nông nghiệp như một chức năng không thể tách rời của thành phố tương lai và đặt nó trong mối liên hệ với toàn bộ chức năng xã hội, kinh tế, sinh thái. Đô thị nông nghiệp (Urb-agriculture) không đơn thuần là thiết kế một thành phố có nhiều cây xanh hay một vùng nông thôn có nhà cao tầng: “Về bản chất, đây là một mô hình quy hoạch và phát triển đô thị bền vững, trong đó nông nghiệp được tích hợp hữu cơ vào cấu trúc hạ tầng, hệ thống kinh tế và đời sống xã hội của thành phố. Ở đó, ranh giới giữa “nơi sinh sống” và “nơi sản xuất thực phẩm” được xóa nhòa”.
Tiềm năng phát triển đô thị nông nghiệp tại Hà Nội
Với dự án quy hoạch tổng thể thủ đô tầm nhìn 100 năm, chúng tôi nhận thấy những cơ hội thích hợp và tiềm năng ứng dụng bền vững mô hình đô thị nông nghiệp ở Hà Nội. Cơ sở của mô hình này là sự giao thoa của 3 yếu tố: Tích hợp về kinh tế – xã hội; tích hợp về không gian và tích hợp về hệ sinh thái.
Thứ nhất, về kinh tế – xã hội, người dân có nhu cầu rất lớn về sản phẩm sạch (hữu cơ), với tỷ lệ 47,3% rau trong bữa ăn hàng ngày. Hầu hết các hộ gia đình, đặc biệt ở vùng ven đô, đều có gốc nông dân và vẫn giữ được thói quen, kinh nghiệm về hoạt động trồng trọt. Do đó, họ có khả năng tự cung cấp rau quả tươi và cung cấp cho khu vực nội đô, đồng thời duy trì khoảng xanh cho thành phố;
Thứ hai, về không gian, diện tích đất vành đai xanh, định hướng đến năm 2030, Thủ đô sẽ có 32% đất phát triển đô thị, chúng ta còn 68% không gian. Đó là cơ hội dành cho các hoạt động sản xuất sạch, nuôi trồng thông minh, xây dựng hệ thống tự cung cấp cho thành phố;
Thứ ba, về hệ sinh thái – Điều này vừa duy trì sự cân bằng quan trọng, vừa cho phép bảo vệ tài nguyên và dư địa phát triển trong tương lai.
Nhờ những nguồn tài nguyên này, Hà Nội có đủ điều kiện để ứng dụng nông nghiệp đô thị bền vững, một khi mô hình thành công, hình thái đô thị sẽ phát triển theo một hướng xanh hơn và sinh thái hơn, thay vì dàn trải như hiện nay. Trong lĩnh vực kiến trúc đô thị – nghiên cứu về không gian nông nghiệp trong thành phố, chúng tôi đưa ra giả thuyết về Hà Nội trên hai quy mô: Đô thị và khu dân cư.
Đối với quy mô của thành phố, theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô – Tầm nhìn 100 năm, thành phố dự báo dân số tăng gấp đôi và đất đô thị sẽ tăng lên 55-60% vào 2065. Khi đó, các không gian nông nghiệp sẽ trở nên “đô thị” hơn, không chỉ về vị trí mà cả về cấu trúc và chức năng. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi tư duy chiến lược cho quy hoạch đô thị bền vững. Cụ thể, trong định hướng tổng thể, chúng ta hướng tới hình ảnh thành phố xanh. Theo GS Tai Lee Siang, ĐH Công nghệ và Thiết kế Singapore, nguyên tắc của thành phố xanh được xây dựng trên cơ sở các đặc tính sinh thái, bền vững và thông minh của thành phố. Theo kịch bản, để xây dựng một thành phố xanh, chúng ta sẽ phải bắt đầu phủ xanh môi trường đô thị với tỷ lệ thảm thực vật đáng kể. Công việc này trên lý thuyết sẽ giúp tạo ra đa dạng sinh học và cân bằng hệ sinh thái của đô thị. Sau đó, bằng cách phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng xanh phù hợp và khai thác tài nguyên hợp lý, chúng ta có thể giải quyết các vấn đề về môi trường, xã hội và kinh tế. Tại nhiều thành phố trên thế giới, nông nghiệp đô thị đã chứng minh khả năng đáp ứng những tiêu chí này. Đối với nguyên tắc về tính thông minh, trong thời đại AI, các tiến bộ công nghệ hoàn toàn có trở thành tác nhân khiến việc áp dụng nông nghiệp đô thị trở nên phổ biến và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, tất cả viễn cảnh này sẽ chỉ là lý thuyết nếu chúng ta chỉ hô hào rồi tiếp tục phương pháp quy hoạch phân lô như hiện nay.
Đối với quy mô của các dự án và tòa nhà lân cận, chúng ta có khả năng xây dựng một hệ thống không gian nông nghiệp bên trong và bên ngoài các tòa nhà ở Hà Nội. Ta có thể tham khảo nhiều công trình đã được xây ở Hải Phòng, Đồng Nai. Ở quy mô này, vai trò của cư dân là rất quan trọng. Trên thực tế, người dân vẫn là tác nhân chính trong hoạt động nông nghiệp đô thị. Họ có thể tự mình tìm ra giải pháp canh tác ở bất cứ đâu trong không gian công cộng, riêng tư hoặc bán công, bán tư. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả và bền vững các hoạt động này, chúng ta cần nghiên cứu chuẩn hóa các mô hình, nguyên tắc nông nghiệp đô thị. Trong lĩnh vực kiến trúc và cảnh quan, các không gian canh tác sẽ đóng góp và củng cố cấu trúc của cảnh quan đô thị bằng cách kết nối giữa những dự án có quy mô khác nhau.
Tính bền vững và giải pháp xanh
Trong khi thuật ngữ “phát triển bền vững” được sử dụng trong lĩnh vực chiến lược và bị “tầm thường hóa” trong các diễn ngôn chung chung thì khái niệm “tính bền vững” lại được các nhà khoa học lựa chọn. Đó là một khái niệm tích cực, đưa ra rõ ràng các mục tiêu cần thiết. Từ đó, thuật ngữ “đô thị bền vững” được kiến thiết không chỉ thể hiện mục đích của quá trình phát triển, nó còn nhấn mạnh vị trí ưu tiên của việc bảo vệ môi trường trong lịch sử phát triển đô thị. Đặc biệt, một nguyên tắc quan trọng khác của “tính bền vững” là sự tham gia của người dân vào các dự án của thành phố, đặc biệt là giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương của thành phố trước các vấn đề môi trường và an ninh lương thực.
Trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, lý thuyết về thành phố bền vững được nghiên cứu trong nhiều công trình. Cách tiếp cận lý thuyết cũng rất đa dạng – “Ở Canada, thành phố bền vững được định nghĩa là “đáng sống”. Khái niệm này được coi là đã làm nổi bật các khía cạnh văn hóa và xã hội. Một định nghĩa khác coi thành phố bền vững là một tổ chức đô thị nơi người dân có thể đáp ứng nhu cầu và sống mà không hủy hoại chất lượng môi trường cũng như không đe dọa đến điều kiện sống của các cộng đồng khác trong hiện tại hoặc tương lai” [Burnett, 2007]. Quan niệm này chịu ảnh hưởng từ châu Âu, thường tập trung vào khía cạnh môi trường. Dựa trên lý thuyết này, nông nghiệp đô thị có thể được tích hợp vào các quy hoạch bền vững. Nhờ tính đa chức năng, các không gian canh tác có thể được khai thác hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng đô thị. Sau đó, nó tạo ra các phương tiện để xử lý ô nhiễm và rác thải đô thị – có thể cải thiện chất lượng môi trường. Ngoài ra, nông nghiệp đô thị là một trong những chiến lược có thể được chính quyền thành phố đưa ra để gắn kết cộng đồng trong quan hệ đối tác với các bên liên quan khác trong khu ở. Hoạt động này có thể thu hút sự tham gia của người dân, đặc biệt là người có thu nhập khiêm tốn vào các dự án cộng đồng. Nó cung cấp cho cư dân các dịch vụ sinh thái để cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao trách nhiệm của người dân đối với các vấn đề môi trường. Điều đó được kiểm chứng tại nhiều nơi trên thế giới.
Kinh nghiệm thế giới về tích hợp nông nghiệp trong chiến lược tổng thể
Thành phố đi đầu trong khu vực Đông Nam Á là Singapore, họ đang phát triển mục tiêu “30 by 30” – Tự cung cấp 30% nhu cầu dinh dưỡng, tích hợp trong quy hoạch tổng thể 2030. Đây là một chiến lược an ninh lương thực đầy tham vọng của Chính phủ Singapore, quy hoạch này được công bố lần đầu vào năm 2019. So với Hà Nội vào thời điểm đó, con số này đã là 33%, nhưng tại Singapore chỉ đạt 10%. Trong bối cảnh thể giới đối mặt với biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng và sau đó là đại dịch, Singapore hiểu rằng họ không thể dựa dẫm 90% vào nhập khẩu mãi mãi. Để đạt được con số 30%, họ đang biến mọi không gian có thể thành nơi sản xuất thực phẩm. Vì đặc thù khan hiếm đất, họ không canh tác kiểu truyền thống mà biến nông nghiệp thành một ngành công nghiệp công nghệ cao với Nông nghiệp đa tầng với các mô hình trang trại thẳng đứng tiết kiệm diện tích và nuôi trồng thủy sản khép kín.
Kết quả thực tế, Singapore vừa khánh thành trang trại thẳng đứng cao nhất thế giới (23m) với vốn đầu tư 80 triệu USD, công suất thiết kế lên tới 2.000 tấn rau/năm, gấp 45 lần năng suất canh tác trên mặt đất thông thường. Theo Cơ quan Thực phẩm Singapore, các trang trại thẳng đứng (vertical farms) có thể đạt năng suất gấp nhiều lần so với canh tác truyền thống. Cụ thể hiện nay, năng suất rau đạt trung bình 231.4 tấn/hecta/năm. Về thủy hải sản, họ có 72 trang trại trên biển sử dụng hệ thống tuần hoàn nước để nuôi cá trong nhà kính hoặc các sà lan nồi khổng lồ. Tổng giá trị thực phẩm sản xuất nội địa ước tính khoảng 231 triệu SGD (khoảng 170 triệu USD). Con số này là động lực để chúng ta tìm hiểu, học hỏi mô hình tiên tiến của họ và cách áp dụng cho Hà Nội, mục tiêu là tăng tỷ lệ tự cung cấp lương thực cho toàn thành phố.
Một ví dụ khác là Strasbourg, một trong những thành phố tiên phong tại Pháp về việc đưa nông nghiệp trở lại phố thị. Thay vì chỉ thiết kế các công viên, vườn hoa trang trí đô thị, Strasbourg tập trung vào tính tự cung tự cấp và gắn kết xã hội. Tại khu ở sinh thái Fluvial, thành phố đã chuyển đổi các dải đất ven sông và các khoảng trống giữa các tòa nhà thành các khu vườn rau tập thể. Cư dân tại đây được hướng dẫn canh tác theo phương pháp Permaculture (nông nghiệp vĩnh cửu), giúp tối đa hóa sản lượng trên diện tích nhỏ mà không cần phân bón hóa học. Sản phẩm thu hoạch là rau củ, thảo mộc được chia sẻ trực tiếp giữa các hộ gia đình trong khu phố. Chính sách của Strasbourg là cấp giấy phép “Cùng nhau xanh hóa”, cho phép người dân tự ý trồng rau trên vỉa hè hoặc quanh gốc cây. Tính đến năm 2023, đã có hơn 300 giấy phép được cấp cho các cá nhân và nhóm cư dân để trồng trọt trên vỉa hè, gốc cây và dải phân cách. Mỗi năm, thành phố tiếp nhận trung bình khoảng 50 đến 70 dự án mới từ người dân.
Về quy hoạch tổng thể, Strasbourg đã triển khai một chính sách mang tên “Quy hoạch lãnh thổ về thực phẩm”, trong đó khuyến khích biến các không gian công cộng thành nguồn cung thực phẩm: Ví dụ như mô hình vườn cây ăn quả cộng đồng. Tại các công viên như Parc de l’Orangerie hay khu vực ngoại vi, thành phố trồng các loại cây ăn quả và cho phép người dân tự do hái lượm khi đến mùa. Nhiều tòa nhà công sở và trường học tại Strasbourg đã lắp đặt các bồn cây để trồng rau xanh, cung cấp một phần nguyên liệu cho các bếp ăn tập thể tại chỗ. Trong đó, thành phố đặc biệt quan tâm đến giáo dục, 100% các trường tiểu học tại Strasbourg có dự án liên quan đến giáo dục môi trường, trong đó khoảng 40 trường sở hữu vườn rau ngay trong khuôn viên để học sinh tự tay canh tác và thu hoạch cho bữa trưa. Có thể tham khảo dự án cụ thể ở khu vực khác như rừng Robertsau, đây không chỉ là nơi sản xuất mà còn là trung tâm giáo dục. Áp dụng mô hình nông lâm kết hợp, cơ sở này cung cấp hạt giống, cây giống và kỹ thuật cho người dân nội thành để họ có thể tự thiết lập các “vườn ban công” hoặc “vườn sân thượng” nhằm mục đích tự cấp tự túc tại gia. Ví dụ của Strasbourg cho thấy nông nghiệp đô thị không chỉ là trồng cây, mà là xây dựng một hệ sinh thái: Từ hạt giống, đất trồng, ủ phân compost đến cung cấp thực phẩm sạch tới bàn ăn của từng nhà. Trong quy hoạch tổng thể, Strasbourg đặt ra các con số tham vọng là tăng 20% diện tích đất dành cho nông nghiệp đô thị trong vòng 5 năm tới. Trong khi ở nhiều thành phố đang phát triển, trong đó có Hà Nội, con số này lại có xu hướng giảm theo chiều ngược lại.
Hướng tới Thủ đô xanh trong tương lai
Quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở ta đang tạo ra sự tương phản giữa các khu dân cư “giàu có” và các vùng ngoại ô hay khu ổ chuột. Mâu thuẫn thể hiện ở khả năng tiếp cận các nguồn lực và ở việc thu hồi đất đai. Khủng hoảng nhà, đặc biệt với những người nghèo nhất, đã góp phần gây ra hiện tượng lấn chiếm đất trái phép, tạo ra những khu ở bấp bênh, tự phát. Các giải pháp của chính phủ, ví dụ như nhà xã hội, còn chậm và chưa thể giải quyết được vấn đề đang ngày càng nghiêm trọng này. Trên thực tế tại Hà Nội, sự cạnh tranh giữa không gian thành thị và nông thôn sẽ vẫn tiếp tục. Tại hội nghị ngày 15/1/2026, Phó Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh: Hà Nội mong muốn “đặt hàng” các nhà khoa học xây dựng khung kiến trúc phát triển nông nghiệp đô thị. Quy hoạch tổng thể Thủ đô – Tầm nhìn 100 năm chính là cơ hội để tích hợp chủ trương đó vào chiến lược chung của thành phố.
Bằng cách tuân thủ các nguyên tắc của “Thành phố xanh” và “tính bền vững”, kinh nghiệm tích hợp nông nghiệp đô thị tại nhiều thành phố trên thế giới như Singapore, Strasbourg… đã cho thấy khả năng áp dụng và gắn kết mối quan hệ thành thị với nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Đây là lý do tại sao cách tiếp cận này được Tổ chức nông lương (FAO) khuyến khích áp dụng. Nó mang lại cho chúng ta phương tiện để đưa mảng xanh vào không gian đô thị, sử dụng các giải pháp sinh khí hậu để cải thiện chất lượng đô thị. Nó cũng góp phần củng cố cấu trúc cảnh quan và bản sắc thủ đô. Cách làm này đang tạo ra sự thay đổi không chỉ trong tư duy của các thành phố trên thế giới mà còn trong tư duy về nông nghiệp. Vậy Hà Nội có thể học hỏi và áp dụng được gì để kiến thiết một thủ đô xanh tương lai? – Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đang có những cơ hội tốt để đưa ra những định hướng chiến lược về một đô thị nông nghiệp xanh và bền vững, làm mô hình mẫu cho các thành phố khác tại Việt Nam.
TS. KTS Bùi Duy Đức
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2026)
Tài liệu tham khảo:
– Aubry, C., Kebir, L. (2013): Rút ngắn chuỗi cung ứng thực phẩm: Một phương tiện để duy trì nền nông nghiệp gần các thành phố;
– Bùi Duy Đức (2017): Kiến trúc và đô thị nông nghiệp trong bối cảnh cảnh quan của Hà Nội;
– Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2016): “Phát triển nông nghiệp đô thị tại Việt Nam”;
– UBND TP Hà Nội (2023): Quyết định số 5568/QĐ-UBND ngày 01/11/2023 phê duyệt Đề cương Đề án nông nghiệp đô thị thành phố Hà Nội;
– UBND TP Hà Nội (2026): Quy hoạch tổng thể Thủ đô – Tầm nhìn 100 năm;
– Cơ quan Thực phẩm Singapore (2020): “30 by 30” – Thể hiện Tầm nhìn An ninh Lương thực của Singapore;
– Cơ quan Tái phát triển đô thị Singapore (2019) – Quy hoạch tổng thể 2019 – Tích hợp canh tác đô thị tại các thành phố đông đúc;
– Eurométropole de Strasbourg (2019): Chiến lược Nông nghiệp Đô thị và Dinh dưỡng Bền vững;
– Thành phố Strasbourg (2021): Quy hoạch lãnh thổ về thực phẩm của Strasbourg.

























