Đổi mới thiết kế trường học trong bối cảnh cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 – Phần I

Trên thế giới, công nghệ truyền thông mới đang buộc các tổ chức phải thích nghi bằng cách tự thay đổi. Trong một số lĩnh vực như kinh doanh, giao thông vận tải, thông tin liên lạc… đã có sự thay đổi để thích nghi và xu thế này đã lan rộng trong hơn hai thập kỷ qua. Trong bối cảnh đó, chúng ta lại nhận thấy trường học đã không phải là một “người chơi” tích cực.

Hầu hết các hệ thống trường lớn hơn công lập hay tư thục và nhiều trường nhỏ được đánh giá là “tốt” hiện nay đều dựa trên các tiêu chí riêng mang tính nội bộ về “kiểm soát chất lượng” như một phương pháp để phát triển nhà trường. Tuy nhiên, tất cả các công tác kiểm soát chất lượng này gần như không hẹn mà gặp có rất nhiều sự giống nhau và ít đổi mới. Đây chính là vấn đề mà nhóm nghiên cứu đang tìm kiếm, cố gắng tìm ra lý do tại sao các trường học cần phải thay đổi. Chúng ta cần sự đổi mới trong giáo dục, hay chúng ta đang thất bại trong cấu trúc trường học? Trường học của chúng ta trong cả vấn đề hình thức và công năng đang không theo kịp tốc độ thay đổi của thế kỷ 21.

Hiện tại hệ thống giáo dục không phục vụ đầy đủ nhu cầu của người học. Tại Hoa Kỳ, hơn 80% khoản chi cho giáo dục được dùng để sửa chữa và trang thiết bị công nghệ [11]. Còn đối với Việt Nam, tiêu chuẩn thiết kế trường học có từ những năm 1985 với tiêu chuẩn trường học đạt chuẩn quốc gia rất bó hẹp và tiêu chí còn khá chung chung [7], [8]. Chúng ta vẫn phải duy trì một mô hình học tập với các bàn kê thành dãy đối diện với bảng phấn trong các nhà học chính của các trường học trong khi một trường học tốt cần phù hợp với nhiều phương thức học tập [5].

Bảng 1: Quá trình thay đổi của các mô hình giáo dục

Trong giáo dục, chức năng có xu hướng tuân theo hình thức nhưng trường học thường lại không dễ dàng tiếp thu sự thay đổi. Cần phải hướng tới một trường học không xác định bởi thời gian và không gian, việc học trong tương lai về cơ bản là một quá trình kết nối mạng và tạo ra các ứng dụng kiến thức cá nhân. Kiến trúc phải năng động và thích nghi với việc học tập của thế kỷ 21 [11]. Bước sang một thời đại mới chúng ta thấy rằng “thể chất, cảm xúc, xã hội, văn hóa, thân thể, sáng tạo và trực giác” cũng quan trọng không kém tư duy. Theo TS.KTS Trần Thanh Bình, trong tiêu chuẩn thiết kế trường học của chúng ta có khoảng trống rất lớn, đó là [14] chưa theo kịp nội dung, chương trình giáo dục, chủ yếu là các tiêu chuẩn sửa đổi, từ 1984 đến 2011 mới ban hành tiêu chuẩn mới, còn ở dạng định tính; chưa đồng bộ về các mức chi tiết theo thông lệ quốc tế và không song hành với tiêu chuẩn xây dựng trường chuẩn quốc gia [8].

H1: Mô hình trường học truyền thống – Mô hình xu hướng thay đổi
H2: Mô hình trường học dạng bàn tay

Có thể thấy trường học của giai đoạn mới là một cấu trúc hoàn toàn mở. Giáo dục tích hợp, cộng đồng cùng học tập, học theo dự án… không gian trường học cần phải bắt nhịp và thay đổi [9]. Cần phải biết người học cần gì, mong muốn gì, suy nghĩ gì và làm thế nào để họ có thể phát triển nhất để đề xuất các tiêu chuẩn, định hướng phù hợp thời đại.

Với các nhà giáo dục thì chương trình giảng dạy sẽ hiệu quả hơn khi sử dụng các kỹ thuật giảng dạy khác nhau nhưng lại bị phụ thuộc bởi các không gian làm việc và thiết kế của tòa nhà. Và các KTS thường không có kinh nghiệm thiết kế các trường học mà có những phương pháp tiếp cận mới trong giảng dạy. Vì vậy, thiết kế trường học thời kỳ công nghệ mới sẽ được định hướng một cách rõ ràng nhất với 28 thành tố bao gồm các phòng học, xưởng, sảnh, không gian trưng bày, khu rèn luyện kỹ năng sống, kết nối với cộng đồng…

Điểm qua mô hình giáo dục và mô hình kiến trúc trường học qua các thời kỳ chúng ta sẽ thấy rõ hơn về sự phát triển của nó:

  • Giai đoạn 1650-1849: Trường học với một phòng học, nội thất đơn giản, thông gió kém;
  • Giai đoạn 1850-1949: Trường học có mô hình nhà máy-hai tầng học khép kín và chưa có thiết kế cảnh quan. Sang thế kỷ 20, các không gian phụ trợ đã được thêm vào như thính phòng, phòng thí nghiệm…;
  • Giai đoạn 1940-1999: Trường học có quy mô hơn, nhiều không gian chuyên biệt, phụ trợ và việc học được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc;
  • Giai đoạn 2000-2025: Xã hội của thời đại thông tin, cộng đồng kết nối toàn cầu được hỗ trợ bởi công nghệ. Việc học có thể được học tại nhà hoặc trường học ảo.

Còn mô hình của Việt Nam vẫn thụ động, kiến thức một chiều, không gian chức năng học tập không phù hợp với “xã hội số hóa”, không tạo cho người học sự hưng phấn và sự khác biệt cho mỗi cá nhân. Các mô hình trường học sáng tạo thời kỳ mới là những lớp học được thay thế bằng cộng đồng học tập, hay mô hình phòng đa năng chữ L [4],[12] liệt kê sau đây:

  • Mô hình lớp học hành lang: Lớp học được ví như những cái “hộp” trong trường học;
  • Mô hình xu hướng thay đổi – Ford model: Cấu trúc hành lang dài chạy dọc khối lớp học được mở rộng đáp ứng nhu cầu học tập cộng đồng (H1).
  • Mô hình cộng đồng học tập – Learning Community: Sắp xếp cụm lớp học trở thành một nhánh, biến hành lang giao thông chính thành “Phố học tập” (H2). Không gian học tập nhỏ, công nghệ mới và môi trường thuận lợi cho sự tương tác. Cấu trúc này cần được mở rộng cho cộng đồng và xã hội;
  • Lớp học chữ L – Learning Studio: Đây không phải là một ý tưởng mới. Trường Crow Island, Winnetka, Illinois (Hoa Kỳ) đã tạo ra không gian này từ năm 1940;
  • Phòng học dạng cặp đôi – Learning Suite: Thiết kế mặt bằng dựa trên hai Learning Studio phù hợp cho việc học tập theo dự án (H6);
  • Cộng đồng học tập nhỏ – Small Learning Community: Các phòng làm việc nhóm nhỏ riêng biệt có đầy đủ các chức năng gọi là cộng đồng học tập nhỏ (SLC) (H7). Ở mức độ cao hơn, các SLC được tập hợp xung quanh trung tâm là chức năng cà phê giải khát và có các phòng cố vấn quản lý học tập của từng nhóm nhỏ (H8);

Làm cho môi trường học tập truyền thống sáng tạo hơn là một thách thức lớn nhưng đầy tính hấp dẫn. Do vậy chúng ta có thể nhìn nhận và học tập các xưởng làm việc của các nhà thiết kế thiên tài Leonardo da Vinci, Albert Einstein và Jamie Oliver để thấy rõ [10]: Với Da Vinci Studio các bản vẽ khoa học là một tác phẩm nghệ thuật và ngược lại – Xưởng làm việc là một không gian không giới hạn, kết nối với thiên nhiên, tiếp cận với các yếu tố năng lượng, mạng máy tính không dây và nhiều kho lưu trữ. Với Studio Einstein, nơi làm việc là nơi để phát triển những ý tưởng, cảm hứng đã được sinh ra ở bất cứ đâu. Thực tế luôn phải có chỗ trong lý thuyết trừu tượng. Lớp học Einstein chào đón những cá nhân hoặc nhóm nhỏ, cung cấp các tiện ích để không gian đó có thể nuôi dưỡng khát vọng và cảm hứng. Studio Jamie Oliver: Không gian làm việc của đầu bếp và doanh nhân người Anh Jamie Oliver là một nhà bếp dạy học kết hợp một quán cà phê, không gian với các đường cong mềm mại thay thế cho không gian được xác định bởi bốn bức tường. Học viên là trung tâm của các hoạt động. Studio Oliver là một ví dụ điển hình về không gian cho xu hướng giáo dục mới.

Nghiên cứu bởi Prakash Nair, Randall Fielding và Jeffery Lackney đã đưa ra Hai mươi tám thành tố trong cuốn sách “Ngôn ngữ thiết kế trường học”. Tác giả giải thích nội dung các thành tố và chỉ ra ý nghĩa dẫn dắt về ý tưởng quan trọng trong xu hướng thiết kế trường học hiện đại.

Trong xu thế toàn cầu hóa, việc hội nhập giúp chúng ta có thêm thông tin, nhưng kiến trúc mang yếu tố bản địa có thể bị ảnh hưởng. Trong 28 thành tố, chúng ta – những người đào tạo và hành nghề – nhận thức rõ tầm quan trọng của các thành tố này trong xu hướng mới. Đó sẽ là kim chỉ nam để chúng ta học tập trong một không gian và môi trường mới. Các thành tố này đa phần đều có thể được áp dụng trong quá trình định hướng và thực thi thiết kế. Với điệu kiện hiện nay thì việc tổ chức và hiện thực hóa một trường học đáp ứng 28 thành tố nêu trên là hoàn toàn có thể.

KTS Doãn Thế Trung – KTS Vũ Thị Hương Lan
Bộ môn Kiến Trúc Dân Dụng, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, trường Đại Học Xây Dựng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2020)