1. Thực trạng và nhu cầu đối với các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
Năm 1960, Việt Nam đã có văn bản tiêu chuẩn đầu tiên và đến năm 1996 mới có văn bản quy chuẩn xây dựng được ban hành đưa vào áp dụng. Những năm 2001-2003, Bộ Xây dựng đã định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống Quy chuẩn và Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam và đưa ra danh mục các tiêu chuẩn cần biên soạn, soát xét sửa đổi. Nhưng mới chỉ có một số ít các tiêu chuẩn trong danh mục này được thực hiện theo lộ trình.
Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ và sự phát triển nhanh chóng của ngành xây dựng, hệ thống Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực Quy hoạch, Kiến trúc và Xây dựng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng công trình, an toàn cho người sử dụng và phát triển bền vững. Hiện nay các hệ thống Tiêu chuẩn và Quy chuẩn đang được Việt Nam áp dụng bao gồm:
- Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) có tính chất bắt buộc áp dụng.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) có tính chất tự nguyện có thể áp dụng.
- Tiêu chuẩn ISO (International Organization for Standardization) cũng được áp dụng song hành cùng với TCVN do mức độ phổ biến và chấp nhận rộng rãi tại hầu hết các nước trên thế giới nhưng chủ yếu là những tiêu chuẩn chung về thuật ngữ – định nghĩa, phân loại, bản vẽ, ký hiệu, phương pháp thử, phương pháp đo, vật liệu xây dựng…
- Các tiêu chuẩn của các quốc gia như: Mỹ, Liên bang Nga, Trung Quốc, Liên minh châu Âu… để áp dụng cho các nội dung/lĩnh vực khác mà TCVN chưa có;
Hàng trăm TCVN và QCVN do Bộ Xây dựng ban hành đã bao phủ trong các lĩnh vực sau: - Quy hoạch xây dựng: QCVN 01:2021/BXD áp dụng cho việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phân khu đô thị, quy hoạch chi tiết, quy hoạch xây dựng nông thôn và các khu chức năng đặc thù; TCVN 4454:2012 – Quy hoạch xây dựng nông thôn – Tiêu chuẩn thiết kế…
- Kiến trúc và thiết kế công trình: Các tiêu chuẩn về nhà ở, công trình công cộng, trường học, bệnh viện… đảm bảo khả năng tiếp cận cho người khuyết tật, tính thích ứng với biến đổi khí hậu, an toàn cháy nổ.
- Kết cấu và vật liệu xây dựng: Bao gồm các quy chuẩn và tiêu chuẩn về bê tông, thép, nền móng, kết cấu chịu lực, chống thấm, cách nhiệt…
- Hạ tầng kỹ thuật đô thị: Bộ QCVN 07 và các tiêu chuẩn quy định kỹ thuật về cấp thoát nước, chiếu sáng, giao thông, cây xanh, Quản lý chất thải rắn sinh hoạt …
Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, của khoa học kỹ thuật xây dựng, vật liệu… khiến các Tiêu chuẩn kỹ thuật cũng luôn bị lạc hậu, cần phải cập nhật, bổ sung liên tục. Bên cạnh đó, cùng với sự hội nhập quốc tế, việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ và hợp tác giữa các quốc gia khiến việc công nhận, áp dụng/sử dụng các Tiêu chuẩn của nhau trong lĩnh vực xây dựng là cần thiết. Thậm chí trong cùng một quốc gia cũng cần có sự liên thông, thống nhất Tiêu chuẩn giữa các Bộ ngành.
2. Một số thách thức trong áp dụng các văn bản quy chuẩn xây dựng
Trong những năm gần đây, Bộ Xây dựng đã đẩy mạnh việc soát xét, cập nhật và tích hợp các tiêu chuẩn quốc tế, hướng đến đồng bộ hóa với thông lệ quốc tế như tiêu chuẩn ISO, IEC, Eurocode, tiêu chuẩn của ASEAN… đồng thời dần đưa chuyển đổi số vào hệ thống tiêu chuẩn. Mặc dù vậy, hệ thống Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Việt Nam vẫn đang tồn tại những bất cập và đối mặt với một số thách thức:
- Một số tiêu chuẩn đã lỗi thời, đến nay vẫn chưa được cập nhật, chưa theo kịp với vật liệu, công nghệ xây dựng mới.
- Tình trạng chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa Tiêu chuẩn với Quy chuẩn, hoặc Tiêu chuẩn với Tiêu chuẩn giữa các ngành khi phối hợp áp dụng. Ngay hiện nay khi Bộ Xây dựng hợp nhất hai bộ Giao thông và Xây dựng cũng dẫn đến nhiều Tiêu chuẩn cũng cần có sự thống nhất hoặc hợp nhất.
- Một số tiêu chuẩn còn chung chung, thiếu các chỉ dẫn cụ thể, gây khó khăn cho thiết kế và thẩm tra/thẩm định. Ví dụ QCXDVN 05:2008/BXD về nhà và công trình công cộng – an toàn sinh mạng và sức khỏe; QCVN 04:2021/BXD về Nhà chung cư chỉ nêu những yêu cầu kỹ thuật chung chung, chưa có các giải pháp, hướng đẫn thiết kế kiến trúc cũng như quản lý sử dụng không gian kiến trúc cụ thể nào để đảm bảo an toàn cho người sử dụng trong các tòa nhà cao tầng.
- Một số Quy chuẩn, tiêu chuẩn lại chưa theo tình hình thực tế ở Việt Nam, dẫn đến đưa ra các yêu cầu quá cao, thậm chí còn cao hơn một số nước tiên tiến khác dẫn đến gây khó khăn cho áp dụng và ảnh hưởng trong triển khai. Ví dụ, QCVN 06 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về An toàn cháy cho nhà và công trình liên tục được sửa đổi, bổ sung các thông tư hướng dẫn.
- Việc dịch nguyên văn các ISO, tiêu chuẩn nước ngoài thường có sự khác biệt trong sử dụng ngôn ngữ dẫn đến khó hiểu và khó áp dụng. Ví dụ dự thảo TCVN 9254:**** Nhà và công trình dân dụng – từ vựng, trong đó phần 1: Thuật ngữ chung (được dịch từ ISO 6707-1:2020 ISO Buildings and civil engineering works – Vocabulary Part 1: General terms International standard) và phần 2: Thuật ngữ về hợp đồng và thông tin (được dịch từ ISO 6707-2 : 2017 Buildings and civil engineering works – Vocabulary Part 2: Contract and communication terms), tuy nhiên nhiều chỗ đọc rất khó hiểu, chưa Việt hóa.
3. Một số đề xuất
Để thuận tiện cho hoạt động quy hoạch, kiến trúc xây dựng, tiến tới hội nhập quốc tế, trong thời gian tới Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan cần cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng các nội dung sau:
- Rà soát tổng thể lại các bộ tiêu chuẩn hiện hành, xây dựng lộ trình các bước thực hiện để chuẩn hóa dần;
- Phân định rõ quy chuẩn/tiêu chuẩn, tránh nhầm lẫn. Tránh quy chuẩn (có tính chất bắt buộc) dẫn chiếu đến các tiêu chuẩn (có tính chất tự nguyện) gây hạn chế sự lựa chọn, không rõ ràng tính pháp lý;
- Loại bỏ các chuẩn lỗi thời, không còn phù hợp (do cơ chế đã thay đổi, do trùng lặp nội dung, do lạc hậu về công nghệ,…);
- Xác định các vấn đề còn chưa thống nhất, chồng chéo giữa các quy chuẩn, tiêu chuẩn, giữa các ngành với nhau;
- Lựa chọn thứ tự các quy chuẩn, tiêu chuẩn cần thiết phải sửa đổi, bổ sung phù hợp với nhu cầu của xã hội.
- Bổ sung các tiêu chuẩn, nội dung còn thiếu hoặc lạc hậu:
- Để nhanh chóng, hội nhập với khu vực và thế giới, có thể chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và khu vực (EU) để biên soạn các TVCN, nhưng cũng cần Việt hóa các khái niệm và cách hành văn, tránh dịch nguyên gốc nhưng lại gây khó hiểu cho người sử dụng.
- Đối với các tiêu chuẩn còn chung chung, thiếu tính định lượng, cần xây dựng các bộ tài liệu hướng dẫn chi tiết, rõ ràng, logic, đầy đủ định lượng kỹ thuật, có ví dụ minh họa cụ thể;
- Định kỳ cập nhật, sửa đổi, đáp ứng theo nhu cầu phát triển và thế giới. Số hóa các tiêu chuẩn và công khai đăng tải trên các trang chính thức của các Bộ ngành để minh bạch, thuận tiện cho người sử dụng dễ dàng tiếp cận, tra cứu online. Tăng cường sự phản biện xã hội, lấy ý kiến từ KTS, kỹ sư, doanh nghiệp và các hội nghề nghiệp trước khi ban hành chính thức.
4. Kết luận
Hệ thống Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia trong lĩnh vực Quy hoạch, Kiến trúc và Xây dựng là nền tảng không thể thiếu để hướng đến một nền xây dựng hiện đại, an toàn và bền vững. Đây là công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng, đảm bảo chất lượng công trình, tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu rủi ro trong quá trình phát triển đô thị. Chúng sẽ là các công cụ pháp lý và kỹ thuật thiết yếu để hướng dẫn, điều chỉnh và kiểm soát hoạt động trong lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc và xây dựng. Việc hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống này không chỉ đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng công trình mà còn góp phần thúc đẩy phát triển đô thị bền vững và hội nhập quốc tế.
TS.KTS Vương Hải Long
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2025)
Tài liệu tham khảo:
1. TS.KTS Đào Thị Tiến Ngọc: “Công tác nghiên cứu khoa học về tiêu chuẩn, quy chuẩn trong lĩnh vực thiết kế công trình” (2024);
2. TS.KTS Vương Hải Long: “Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn các giải pháp thiết kế kiến trúc và quản lý sử dụng không gian kiến trúc nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng trong các tòa nhà cao tầng”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2023);
3.https://vienkientrucquocgia.gov.vn/wp-content/uploads/2022/10/Duthao_TCVN-9254-1-10-22.pdf;
4.https://vienkientrucquocgia.gov.vn/wp-content/uploads/2022/10/Duthao_TCVN-9254-2-10-22.pdf;





















