Kiến trúc Long An: Đôi điều suy nghĩ

Tỉnh Long An, với tên gọi có từ năm 1956, trước đó là Phủ Tân An, Phủ Tân Long (1862), Tham biện Tân An (1867) và tỉnh Tân An (1899), nằm cạnh phía Tây Nam TP HCM.

Chợ Tân An (1901) – Ảnh chụp năm 1925
Tháp pháo trên Đồn Rạch Cát (1903).

Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, vùng đất Long An hiện nay, đã từng là địa phận (hoặc 1 phần) của các tỉnh: Hậu Nghĩa (Đức Hòa, Đức Huệ, Trảng Bàng và Củ Chi), Kiến Tường (Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh ), Chợ Lớn (Cần Giuộc, Cần Đước và Bến Lức), Tân An (Châu Thành và Tân Trụ).

Là địa bàn chuyển tiếp từ Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam bộ, Long An luôn chịu ảnh hưởng và tác động phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của TP HCM, vùng đô thị lớn nhất nước.

Như nhiều nơi khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trước năm 1975, công sở, công trình công cộng, cơ sở tôn giáo, công trình công nghiệp và nhà ở trong tỉnh phần lớn là tạm bợ do điều kiện tự nhiên ít thuận lợi (nền đất yếu, ngập lụt hàng năm, vật liệu ít đa dạng), luôn mất ổn định vì chiến tranh.

Một số nhà ở, công sở, trường học, cơ sở y tế, dù có kiên cố hơn, cũng chỉ tồn tại được ít lâu sau ngày thống nhất đất nước. Hầu hết đã bị xuống cấp hư hỏng, phải tháo dỡ, hoặc được cải tạo, sửa chữa và xây dựng mới đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Quy hoạch đô thị và khu dân cư trong khoảng thời gian 1954 – 1975 chỉ tập trung cho các khu vực đô thị (tỉnh lỵ và quận lỵ lớn), các khu dinh điền, khu trù mật và ấp chiến lược hầu hết chỉ nhằm mục đích gom dân trong thời chiến của chính quyền thời kỳ này.

Chỉ từ sau ngày thống nhất đất nước, chính quyền và người dân có điều kiện hơn để tập trung khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế. Quy hoạch đô thị, kiến trúc trong tỉnh từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng.

Kiến trúc Long An – Xưa

Chùa Cổ Sơn (Tuyên Bình – Vĩnh Hưng)
Lăng Tiền quân Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức (Tân An)
Di tích Nhà Tổng Thận (Phường 1 – TP Tân An) đã được phục chế

Trải qua hàng trăm năm hình thành vùng đất Long An, cho đến nay, nhiều phế tích kiến trúc, mộ táng, di tích khảo cổ học ở Đức Hòa (Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước, khoảng thế kỷ thứ 7); An Sơn (Lộc Giang, hơn 2500 năm trước); Cần Giuộc (Rạch Núi, hơn 2400 năm trước); Vĩnh Hưng (Gò Ô Chùa, khoảng thế kỷ thứ 9 trước công nguyên) đã dần dần được khai quật, tìm hiểu, phát hiện, lưu giữ và được công bố.

Kiến trúc còn lại, cho đến nay, có thể kể là: Lăng mộ và đền thờ Tiền quân Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức (1817), ở Phường Khánh Hậu, Tp Tân An; chùa Phước Lâm (1881), ở xã Tân Lân, huyện Cần Đước; Nhà Tổng Thận (1892), ở Phường 1, TP Tân An; Nhà Trăm cột (1901-1904), ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước; đồn Rạch Cát (1903) trên cửa sông Vàm Cỏ và sông Rạch Cát (Cần Giuộc) đổ ra sông Soài Rạp (Cần Đước); cụm nhà cổ (khoảng 1905), ở xã Thanh Phú Long; đình Vĩnh Phong (1886), thị trấn Thủ Thừa, chùa Tôn Thạnh (chùa Lan Nhã, 1808), xã Mỹ Lộc, Cần Giuộc và Chùa Cổ Sơn (còn gọi là chùa Gò Nổi, khoảng đầu thế kỷ 19), bên bờ sông Vàm Cỏ Tây (Xã Tuyên Bỉnh, huyện Vĩnh Hưng); Chùa Cây Trôm (với cây Trôm, cây di sản, khoảng 350 năm tuổi), Khánh Hậu, TP Tân An.

Một số công trình hành chính trong thời kỳ Pháp thuộc và chính quyền Sài Gòn có thể kể như: Nhà Dinh quận Đức Hòa (1917, tỉnh Chợ Lớn), nay là Phòng triển lãm thuộc Khu Di tích Lịch sử Ngã tư Đức Hòa, Nhà hành chánh tỉnh Hậu Nghĩa (1961), nay được cải tạo, mở rộng là Trụ sở UBND huyện Đức Hòa. Các công trình khác như: Chợ Tân An (1901), Cầu Đúc Tân An (khoảng năm 1920); Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận (1892-1893, biệt thự kiểu Pháp, Trụ sở công khai đầu tiên của Tỉnh ủy Long An sau Cách mạng tháng Tám 1945);…
Kến trúc Long An – Nay

Khó khăn do chiến tranh tàn phá và những trận lũ lớn (1978, 1984), nhà ở và công trình công cộng trong thời gian này phần lớn còn tạm bợ, bán kiên cố. Lãnh đạo tỉnh tập trung vào công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười, nâng cao năng suất, sản lượng lúa gạo đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Rất ít công trình kiên cố được xây dựng ngoài một số cơ quan hành chính, văn hóa, thể dục thể thao của tỉnh, liên huyện, hoặc huyện mới chia tách được xây dựng đáp ứng nhu cầu quản lý hành chính, giáo dục, y tế, thương mại dịch vụ và sinh hoạt văn hóa.

Đến những năm 1990, cùng với sự đổi mới của đất nước, các chủ đầu tư nhà ở, công trình thương mại dịch vụ, công trình công cộng trong và ngoài ngân sách có nhiều lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế hơn trước. Một số công trình được xây dựng trong thời gian này đã làm cơ sở cho sự phát triển về sau như: Sân vận động Long An, Nhà Khách Tỉnh Ủy, Trường Cao đẳng Sư phạm Long An, Nhà Khách Liên đoàn Lao động tỉnh, …

Liên tiếp những trận lũ lụt lớn 1994, 1996, 2000, 2001, 2002, vùng Đồng Tháp Mười Long An, cùng với các tỉnh vùng ngập sâu Đồng bằng sông Cửu Long tập trung vào Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ. Trọng tâm của chương trình này ở Long An nhằm bảo đảm cho hơn 30.000 hộ dân cư vùng Đồng Tháp Mười có thề sống chung với lũ lụt một cách ổn định lâu dài. Gần 200 cụm và tuyến dân cư được quy hoạch với qui mô từ 3-15 ha cho mỗi cụm, tuyến.

Mặc dù, còn có nhiều ý kiến khác nhau về những hạn chế, nhưng thành tựu lớn nhất của chương trình là đã đảm bảo cho người dân vùng ngập lũ có thể sinh sống ổn định, phát triển dài lâu, sau bao năm phải di dời, chạy lũ, nhà cửa tạm bợ. Các công trình thiết yếu về giáo dục, y tế, văn hóa, hành chính, thương mại dịch vụ, từ đây, có thể được đầu tư xây dụng kiên cố hơn để phục vụ lâu dài cho người dân.
Quy hoạch vùng, quy hoạch xây dựng đô thị được quan tâm, nhiều đồ án quy hoạch chung đô thị đã được phê duyệt, là cơ sở cho bước đầu thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình phục vụ quản lý, phát triển kinh tế được căn cơ, bài bản hơn.

Nhiều công trình hành chính, y tế, văn hóa, xã hội được hình thành trong giai đoạn này như: Nhà Khách và Hội trường UBND tỉnh; Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, Khu Di tích lịch sử Ngã tư Đức Hòa, Khu công viên tượng đài Long An, Khu tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo, Bệnh viện Đa khoa Long An, các Bệnh viện huyện Cần Giuộc, Thạnh Hóa, Bến Lức, trường phổ thông trung học ở các huyện,… đã được công chúng, xã hội tiếp nhận đánh giá và sử dụng tốt đẹp, hiệu quả.

Quy hoạch, thiết kế đô thị, đã góp phần lớn vào định hướng phát triển đô thị của tỉnh. Điểm nhấn quan trọng trong giai đoạn này là Thị xã Tân An đạt tiêu chí đô thị loại III và được chính thức công nhận là thành phố thuộc tỉnh vào tháng 9 năm 2009. Tiếp theo đó, các huyện cũng bắt đầu tập trung vào đầu tư và xây dựng các thị trấn đạt tiêu chí đô thị loại V, IV và nâng cấp đô thị. Kiến trúc văn hóa, giáo dục, y tế được quan tâm đầu tư xây dựng. Một số công trình quan trọng trong thời gian này đã đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân, được xã hội đánh giá cao.
Đến tháng 4/2014 toàn tỉnh có 28 Khu công nghiệp tập trung, 32 cụm công nghiệp. Đã có hơn 120 đồ án qui hoạch hoặc điều chỉnh qui hoạch các khu cụm công nghiệp được lập và phê duyệt, tạo động lực phát triển công nghiệp, đô thị, làm nền tảng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Qui hoạch chung, qui hoạch phân khu, qui hoạch chi tiết các đô thị Tân An, Mộc Hoá, Hậu Nghĩa, Bến Lức đã được lập, điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cải tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện hoàn thiện, nâng cấp, mở rộng đô thị. Chương trình phát triển các đô thị mới: Đông Hòa, Long Đức Đông (Cần Giuộc), Rạch Kiến (Cần Đước), Lương Hòa, Gò Đen (Bến Lức), Mỹ Hạnh (Đức Hòa), Mỹ Quí (Đức Huệ), Hậu Thạnh Đông (Tân Thạnh), Bình Hiệp (Kiến Tường), Bình Phong Thạnh (Mộc Hóa) thúc đẩy các địa phương tập trung đầu tư xây dựng để sớm đủ điều kiện hình thành và nâng cấp đô thị. Khu đô thị trung tâm chính trị – hành chánh tỉnh Long An (Tân An) đã từng bước được triển khai đầu tư xây dựng, hình thành bộ mặt mới, có trật tự, nề nếp.

Một số công trình có thiết kế kiến trúc khá tốt như: Nâng cấp mở rộng Trụ sở huyện ủy, UBND các huyện, thị xã, thành phố, Trường Mầm non, Trường phổ thông trung học ở TP Tân An và các huyện; các bệnh viện huyện; Các công trình văn hoá, di tích lịch sử như: Khu Di tích lịch sử cách mạng tỉnh (Bình Hòa Hưng – Đức Huệ), Khu tưởng niệm và Đền thờ Liệt sỹ Trung đoàn 207 (Thạnh Hóa); Khu nhà phố ở các thị trấn; Nhà ở riêng lẻ, các khu dân cư, khu đô thị mới,…

Đến đầu năm 2020, toàn tỉnh có 31 Khu công nghiệp tập trung, diện tích 10.400ha (16 KCN đang hoạt động, với 4.000ha), 62 cụm công nghiệp với 3.100ha (22 CCN đang hoạt động với 1.100ha). Các khu, cụm công nghiệp được đẩy nhanh tốc độ lấp đầy, góp phần tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Qua 10 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM), không gian, cảnh quan, hạ tầng nông thôn Long An đã có diện mạo mới. Đến tháng 6/2020 có 88/166 xã đạt tiêu chí NTM, huyện Châu Thành đạt chuẩn NTM và TP Tân An hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM.

Khá nhiều những công trình kiến trúc về di tích văn hóa – lịch sử được xây dựng trong thời gian từ 2015-2020 như: Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính – Kháng chiến Nam bộ (Nhơn Hòa Lập – Tân Thạnh), Các Khu di tích lịch sử, Địa điểm thành lập cơ quan chính trị Quân khu 8, Căn cứ liên quân thuộc Khu ủy Sài gòn – Chợ Lớn – Gia Định, khu tưởng niệm anh hùng, liệt sỹ, bia, miếu, đình, nhà nuôi dưỡng, che dấu cán bộ cách mạng ở các huyện, thị, thành phố trong tỉnh, Nhà lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ,…

Những công trình văn hóa, giáo dục, công sở khác như: Nhà Thiếu nhi tỉnh, Trung tâm Văn hóa thể thao TP Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ, Cần Giuộc; Bờ kè Thị trấn Thạnh Hóa, Trung tâm văn hóa và Nhà Thiếu nhi Huyện Tân Thạnh, Trung tâm lưu trữ, Trung tâm phục vụ hành chính công, Trụ sở Cục Thuế, Trụ sở Công ty Xổ số kiến thiết, Viện Kiểm sát, Tòa án, Bảo hiểm xã hội Tp Tân An, Trụ sở Huyện ủy Cần Giuộc, Nghĩa trang tư nhân ở Bến Lức, Cần Giuộc, Thạnh Hóa,….

Các trường mầm non, tiểu học, trung học, nhà ở riêng lẻ, nhà phố, Khu Trung tâm thương mại Vingroup, Tổ hợp nhà liên kế của Tran Anh Group ở Bến Lức, Tân An, Khu đô thị Cát Tường Phú Sinh ở Đức Hòa,… góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân đô thị, nông thôn trong tỉnh.

Và cũng lần đầu tiên, Nhà máy may mặc Đức trong Khu công nghiệp Long Hậu, nhận chứng chỉ công trình xanh (Leed), mở đầu cho các công trình công nghiệp sẽ được thiết kế, xây dựng theo tiêu chí xanh.

Khu đô thị Cảng Long An (sông Soài Rạp, Tân Tập, Cần Giuộc) với hệ thống cầu cảng có khả năng tiếp nhận tàu biển có tải trọng đến 50.000 DWT (và tương lai đến 100.000 DWT), cùng với hệ thống kho, nhà xưởng và các công trình dân dụng đã được xây dựng, làm cơ sở cho Khu đô thị phía Đông của tỉnh hình thành phát triển.

Cảng Long An (Tân Tập – Cần Giuộc).
Sân vận động Long An
Nhà thi đấu thể thao Long An

Hoạt động của Kiến trúc sư tỉnh Long An

Chi hội Hội KTS Long An (trực thuộc Hội KTS Việt Nam) được thành lập (8/1988) với 10 hội viên và Chủ tịch (Chi hội trưởng) đầu tiên là KTS Nguyễn Hoàng. Và cũng kể từ đó, hầu hết các công trình dự án kiến trúc, quy hoạch của tỉnh đều có sự tham gia góp ý, phản biện của Hội KTS. Nhiều công trình hành chánh, văn hóa, xã hội của tỉnh do Hội chủ trì tổ chức thi tuyển kiến trúc. Hình thức, tính đa dạng của kiến trúc được dịp nẩy nở, phát huy. KTS có nhiều cơ hội sáng tác, có tác phẩm của riêng mình, mỗi cá nhân được thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội nhiều hơn.
Tập thể KTS Long An, dù lực lượng không nhiều, chỉ xấp xỉ khoảng 100, với hơn 70 hội viên, nhưng luôn đoàn kết, thống nhất, cùng nhau xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Đến tháng 6/2020, có 16 đơn vị tư vấn kiến trúc trong tỉnh có KTS là lãnh đạo, trong số đó có 1 đơn vị tư vấn kiến trúc trực thuộc Hội. Mỗi KTS đều có ý thức thực hiện tốt trách nhiệm của mình với xã hội, môi trường, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, luôn được lãnh đạo tỉnh và người dân tôn trọng, tín nhiệm.

Bệnh viện Đa khoa Long An
Khu Di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An (Bình Hòa Hưng – Đức Huệ).

Những điều đọng lại

Trung tâm Khu đô thị Cát tường Phú sinh (Đức Hòa).

Tuy khối lượng xây dựng, kiến trúc, qui hoạch đô thị trong thời gian qua khá nhiều, nhưng chất lượng chậm được cải tiến. Ít thấy rõ nét đặc trưng hoặc bản sắc trong kiến trúc, không gian qui hoạch đã xây dựng. Các công trình văn hóa, phúc lợi xã hội chưa được quan tâm đầu tư nghiên cứu thích đáng về tính biểu trưng, thẩm mỹ. Trách nhiệm này không chỉ của các chủ đầu tư, nhà quản lý, nhưng gần gũi, trực tiếp nhất vẫn là của KTS.

Công trình xanh, kiến trúc xanh, phát triển đô thị sinh thái, bền vững, thông minh, vẫn còn dừng lại ở ý tưởng và mong muốn. Quản lý kiến trúc qui hoạch vẫn còn nhiều bất cập do cơ chế, chính sách thiếu nhất quán, chưa gắn kết giữa chuyên môn và công chúng, giữa ngành và địa phuơng. Những qui định quản lý cụ thể không đủ hiệu lực, bộ máy quản lý nhà nước chưa đủ chuyên nghiệp và tư duy quản lý không theo kịp với yêu cầu thực tiễn.

Chậm đổi mới ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, công nghệ thông tin trong thiết kế để đáp ứng yêu cầu thực hiện qui định của nhà nước về “Mô hình thông tin công trình” trong thời gian tới còn rất nhiều trăn trở.

Các công trình trong trung tâm xã Nông thôn mới

Thay lời kết

Sự phân cấp mạnh việc quản lý nguồn vốn đầu tư công và vốn đầu tư xã hội làm cho số lượng chủ đầu tư tăng nhanh. Trong khi đó năng lực quản lý dự án, tư duy về sử dụng vốn, đóng góp công trình, tác phẩm kiến trúc cho xã hội còn rất hạn chế. Phần lớn chủ đầu tư chủ yếu chạy theo nhu cầu sử dụng đơn thuần, trước mắt.
Tin tưởng rằng, Luật Kiến trúc 2019 có hiệu lực, sẽ đem lại nhiều điều mới mẻ, hứng khởi, không chỉ cho giới nghề nghiệp chuyên môn mà còn tác động đến toàn xã hội để tính đặc thù nghề nghiệp, vai trò của KTS được nhà nước, người dân thấu hiểu, đánh giá, tôn trọng đúng mức hơn.
Tự lực vươn lên, đảm nhiệm sứ mệnh của mình trước xã hội, người dân đang là yêu cầu rất bức thiết không chỉ riêng của KTS Long An.

KTS Lưu Đình Khẩn – Hội KTS Long An

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2020)


Tài liệu tham khảo:

  1. Khảo cổ học Long An, thời tiền sử. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2015.
  2. Báo cáo tổng kết công tác Hội KTS Long An 2010, 2014, 2019.
  3. Báo cáo Kỷ niệm 30 năm Hội KTS Long An (1988-2018).
  4. Cổng thông tin điện tử Long An (longan.gov.vn).
  5. Báo Long An online (baolongan.vn).
  6. Các báo cáo năm, báo cáo chuyên đề của Sở Xây dựng Long An.