Xu hướng Hiện đại trong phát triển Đô thị

Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng Quá trình đô thị hóa nước ta diễn ra nhanh và mạnh từ khi chuyển sang kinh tế thị trường – gần như đồng thời với quá trình định hình đô thị hóa hậu hiện đại trên thế giới. Trong bối cảnh đó, nước ta có thể tiếp cận ngay với tư duy phát triển đô thị tiên tiến để đô thị hóa hiệu quả hơn. Hạn chế của Chủ nghĩa Hiện đại trong phát triển đô thị

Đầu thế kỷ XX, đô thị các nước Châu Âu, Châu Mỹ phát triển nhanh. Giá đất đô thị tăng vọt trong khi dân số đô thị ngày càng đông khiến vấn đề nhà ở trở nên cấp bách; đồng thời công nghiệp ô tô phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có mạng lưới đường xá thuận tiện. Le Corbusier (1887-1965) – KTS gốc Thụy Sĩ sang định cư ở Pháp, từ năm 1920 đưa ra các tư tưởng cách tân về kiến trúc và về công nghiệp hóa, sản xuất hàng loạt nhà ở, mà ông gọi là “cỗ máy để ở” (a machine for living in)(1) . Về phát triển đô thị, ông đưa ra ý tưởng xây dựng có quy luật trật tự, theo mô hình đô thị không có phố phường, gồm 3 không gian công năng riêng biệt về cư trú, sản xuất và dịch vụ giải trí, được kết nối với nhau bằng không gian công năng giao thông, gồm các đại lộ rộng rãi, cho phép ô tô chạy với tốc độ nhanh và các đường nhánh dẫn đến đại lộ. Ông gọi con đường là “cỗ máy cho đi lại” (a machine for traffic) và tuyên bố “một đô thị xây dựng cho tốc độ là xây dựng cho thành công” (a city built for speed is built for success). “Đại hội quốc tế kiến trúc hiện đại” (Congrès International de l’Architecture Moderne/CIAM) do Le Corbusier lập ra năm 1928, kỳ họp năm 1933 công bố “Hiến chương CIAM” nổi tiếng, đề cao Chủ nghĩa Hiện đại (Modernism) trong kiến trúc và trong quy hoạch đô thị với cốt lõi là hiệu suất, công năng và công nghiệp hóa. Chủ nghĩa hiện đại nhanh chóng lan truyền khắp thế giới, nhất là trong giai đoạn khôi phục và phát triển sau Thế chiến II (1950-1970) mà sản phẩm tiêu biểu là Brasilia, thủ đô mới của Bra-xin. Thế nhưng, trong khi Chủ nghĩa Hiện đại mở đường cho kiến trúc thế giới phát triển mạnh mẽ và đưa ra nhiều quan điểm tiến bộ trong tiếp cận vấn đề đô thị thì đồng thời nó lại nhanh chóng bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng trong thực tiễn phát triển đô thị, dẫn đến bất đồng quan điểm trong CIAM khiến nó phải giải thể năm 1959 (2). Tiếp đó, nữ ký giả Jane Jacobs (1916-2006) trong cuốn sách nổi tiếng “Cái chết và sự sống của các thành phố lớn Hoa Kỳ” (1961) (3) mở đầu cho cuộc phê phán Chủ nghĩa Hiện đại một cách rộng rãi, chỉ ra các mặt hạn chế sau đây: 

1) Phân khu chức năng quá mức khiến người dân cả ngày phải di chuyển từ khu này sang khu khác;

2) Đô thị trở nên buồn chán, bị các đại lộ chia cắt, không có phố phường;  

3) Công năng đô thị yếu kém, nhiều người bỏ ra ở dọc các đường ngoại thành; 

4) Truyền thống văn hóa và lịch sử bị xem nhẹ do chủ trương triệt hạ các khu đô thị cũ để xây mới (Le Corbusier: We must build on a clear site); 

5) Khuyến khích công trình kiến trúc mang tính tượng đài, xa rời môi trường chung quanh và tầm vóc con người; 

6) Nhà ở lắp ghép, đơn điệu; khu nhà ở bố trí như doanh trại, thiếu công năng hỗn hợp, đi lại dựa vào xe hơi; 

7) Mạng giao thông gồm các đại lộ và đường nhánh tạo ra tắc nghẽn giao thông. 

Đòn giáng đầu tiên vào Chủ nghĩa Hiện đại là việc thành phố St. Louis (Mỹ) năm 1972 quyết định dỡ bỏ tổ hợp nhà ở Pruitt-Igoe, gồm 33 tòa nhà 11 tầng với 2780 căn hộ mới xây được 17 năm, vì cư dân da đen ở đó không kiếm được việc làm (không có phố phường) nên hơn 30% căn hộ bỏ trống, tệ nạn xã hội trầm trọng, trong khi một khu phố dạng truyền thống cũng của người da đen ở gần đó thì không như vậy.

Ở Miền Nam nước ta trước 1975, Khu Sonadezi ở Biên Hòa cùng với xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa, rồi Khu Thanh Đa ở Sài Gòn cũng được phát triển theo Chủ nghĩa Hiện đại. Sự phát triển đô thị miền Bắc sau  năm1954 và cả nước sau năm 1975 chịu ảnh hưởng rất lớn của Chủ nghĩa Hiện đại được truyền thụ qua nhà trường Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, mà theo lời GS Trương Quang Thao thì “xây dựng nhà ở tiền chế và quan niệm tiểu khu nhà ở là hai cột trụ cơ bản không gì thay thế của toàn bộ quan niệm và chính sách xây dựng đô thị nước Nga Xô viết những năm 60 và 70 của thế kỷ XX” (4). Từ khi Đổi mới, có thể dễ dàng nhận thấy những hạn chế của các tiểu khu nhà ở: chỉ có đường nội bộ, còn đường đô thị không được đi ngang qua nên phải cách nhau hàng km, khiến giao thông đô thị khi có nhiều xe máy thì bị dồn nén, tắc nghẽn; không có đường phố nên cư dân tự phát cơi nới nhà ở tầng một làm cửa hàng và tạo thành đường phố (!) (chỉ duy nhất tiểu khu Giảng Võ tại Hà Nội có phố Giảng Võ vì lúc đó quy hoạch được đặc biệt điều chỉnh), và còn nhiều hạn chế khác nữa. Đáng chú ý là hiện nay nhiều khu đô thị mới đã hoàn thành hoặc sắp xây là biến tướng có cải tiến của mô hình tiểu khu nhà ở, trừ một số không nhiều như Khu đô thị Phú Mỹ Hưng ở TP Hồ Chí Minh hay thành phố mới Bình Dương…