Phê bình kiến trúc: Từ “đọc” đến “đối thoại” trong kỷ nguyên số – Phần 2: Sự chuyển dịch ý nghĩa kiến trúc trong bối cảnh mới

Nếu lăng kính Ký hiệu học ở Phần 1 đã giúp chúng ta tiếp cận bản chất ý nghĩa của kiến trúc (KT) như một “văn bản” có cấu trúc đang biến đổi; sang Phần 2 với góc nhìn Hiện tượng sẽ đưa văn bản ấy hòa vào bối cảnh đương đại. Bởi lẽ, kiến trúc chưa bao giờ đứng ngoài cuộc sống – Dưới sự bùng nổ của truyền thông và sự can thiệp của kỷ nguyên số AI, ý nghĩa kiến trúc đang tự dịch chuyển, vận hành như một thực thể sống động, nơi những trải nghiệm nhân văn chân thật và những ảo ảnh truyền thông liên tục đan xen, đòi hỏi một phương pháp luận nhận diện linh hoạt và tỉnh táo hơn.

Nhìn từ Hiện tượng học, ý nghĩa không còn là một thông điệp tĩnh lặng chờ được giải mã đơn hướng. Người đọc sẽ nhận ra những chuyển dịch mạnh mẽ: Ranh giới giữa “đóng” và “mở” dần mờ nhạt, cái “đơn” nhường chỗ cho sự “đa” nghĩa và những khối tích vốn “tĩnh” trở nên “động” qua trải nghiệm và bối cảnh. Chính những chuyển dịch này của ý nghĩa đã thúc đẩy bản thân văn bản kiến trúc phải tự tiến hóa để bao quát được thực tại, qua đó làm lộ ra những lỗi nhịp của những tư duy “đọc” truyền thống.

Kiến trúc luôn tiếp diễn

Nhìn lại bước ngoặt trong định nghĩa kiến trúc – Khi khái niệm “biểu tượng” của Kenzo Tange xuất hiện để thay thế cho phạm trù “hình thức/cái đẹp”, khiến chúng ta đặt câu hỏi: Phải chăng chính vì ý nghĩa kiến trúc luôn tiếp diễn, nó như một dòng chảy tự thích nghi theo thời đại, nên định nghĩa về kiến trúc cũng đổi thay theo?

Trước hết cần phải vượt qua lối tư duy coi kiến trúc đơn thuần là một thực thể vật chất câm lặng. Trong lịch sử, chúng ta thường bám vào các định nghĩa về sự vững chãi (kết cấu) hay sự tiện dụng (công năng), nhưng chính trụ cột thứ ba, dù được gọi là cái đẹp/ hình thức hay biểu tượng, mới là nơi chứa đựng “ý nghĩa” nhiều nhất. Nếu kiến trúc chỉ là xây tường và lợp mái, nó chỉ dừng lại ở hành vi xây dựng – Nhưng khi những bức tường và mái nhà đó bắt đầu “nói” với con người về một giá trị nào đó, nó đã bước vào lĩnh vực của ý nghĩa. Cái đẹp nay không chỉ để ngắm nhìn, mà còn cần cái-đẹp-có-nghĩa, với cộng đồng, với ký ức, với nơi chốn,… Vì thế, chức năng tinh thần về cái đẹp không chỉ có chức năng mỹ cảm, ứng với vật thể nghệ thuật của kiến trúc, mà còn chức năng biểu trưng mang tính biểu tượng – Vật thể biểu tượng ra đời. Kenzo Tange đã khẳng định bằng một tam nguyên như định nghĩa mới về kiến trúc: Công năng – Kết cấu – Biểu tượng. Nay vật thể kiến trúc có thêm vật thể biểu tượng chuyển tải ý nghĩa về chức năng biểu trưng cho kiến trúc.

Biểu tượng khác với ký hiệu ở chỗ nó có nhiều tầng nghĩa, nhiều lớp nghĩa. Lúc này, tư duy Hình thức luận buộc phải tự điều chỉnh từ xu hướng đơn nghĩa sang đa nghĩa để thỏa mãn chức năng biểu trưng của kiến trúc. Chức năng tinh thần của kiến trúc không còn bó hẹp ở chức năng mỹ cảm ứng với một vật thể nghệ thuật, mà nâng cấp thành chức năng biểu trưng mang tính biểu tượng.

Như thế, ý nghĩa kiến trúc luôn vận động dẫn đến sự thay đổi trong định nghĩa về chính nó. Bởi kiến trúc chứa đựng trong không gian nó tạo ra cùng lúc ba vật thể: Vật lý, xã hội và nghệ thuật/ biểu tượng – Chúng không bất biến nên ý nghĩa kiến trúc biểu hiện qua ba vật thể này cũng không bất biến. Theo dòng chảy của thời gian, sự dịch chuyển của bối cảnh lịch sử và văn hóa xã hội luôn đặt bộ ba vật thể này vào một tiến trình “tái cài mã” liên tục để ứng phó với hoàn cảnh mới. Ví như vật thể vật lý với chức năng sử dụng không hề bất biến mà luôn biến đổi với thời đại, minh chứng qua các trường hợp tái sử dụng thích ứng công trình cũ, nơi cái vỏ vật chất xưa đón nhận một công năng hoàn toàn mới.

Thực tế còn cho thấy: Sự vận động này càng trở nên mạnh mẽ khi xã hội chuyển dịch từ việc ưu tiên công năng sang ưu tiên biểu tượng và trải nghiệm – Hệ hình của kiến trúc thời Hiện tượng luận. Khi trải nghiệm của con người được đặt vào trung tâm, nguồn thu của quá trình truyền thông kiến trúc không còn bó hẹp ở một vài cá nhân đơn lẻ mà mở rộng ra gồm nhiều đối tượng khác nhau: Từ người sử dụng trực tiếp, người quản lý, người quan sát đại chúng, cộng đồng xã hội, cho đến người làm công tác giáo dục KT và các nhà phê bình chuyên nghiệp. Tất cả các nhóm đối tượng này liên tục tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau. Vì thế, thông điệp kiến trúc không thể chỉ truyền đi duy nhất ý chí độc thoại của tác giả như một mã đóng kín; mà trở thành một hệ thống thông điệp động, liên tục được tái tạo, bồi đắp và diễn giải lại qua các thời kỳ lịch sử để thích ứng với từng bối cảnh. Ý nghĩa kiến trúc, vì vậy, luôn trong một tiến trình tiếp diễn.

Từ sự thay đổi trong định nghĩa về kiến trúc hay chính xác hơn là sự thay đổi về ý nghĩa của kiến trúc đã dẫn đến sự thay đổi trong cách chúng ta “đọc” và hiểu các thông điệp kiến trúc.

Bước chuyển của văn bản kiến trúc: Từ vi mô sang vĩ mô

Để giải nghĩa kiến trúc luôn trong tiến trình tiếp diễn, không thể chỉ nhìn “vào trong” bản thân cấu trúc nội tại của vật thể hữu hình, một lối tiếp cận vốn thuộc về hệ hình Ký hiệu học tĩnh ở cấp độ văn bản vi mô (micro-text) [3]. Có một sự dịch chuyển về quy mô đối tượng cần được xét đến: Từ việc nhìn nhận công trình cô lập, bước sang một thực thể văn bản vĩ mô (macro-text), nơi kiến trúc phóng tầm nhìn “ra ngoài” để hòa mình vào mạng lưới tương tác với các hệ thống liên ngành: Từ đô thị, kinh tế, sinh thái, truyền thông số cho đến văn hoá, kinh tế…

 Tiếp cận từ Hệ thống luận – Tính liên ngành

Dưới lăng kính của Tư duy hệ thống, một công trình kiến trúc không bao giờ đứng một mình. Bản thân nó vốn là một hệ thống trọn vẹn, song lại là một thành tố trong hệ thống lớn hơn nhiều – Đó là các hệ sinh thái: Tự nhiên, nhân văn… Chính vì vậy, muốn hiểu trọn vẹn thông điệp của một kiến trúc, ta không thể chỉ nhìn vào bản vẽ kỹ thuật hay những viên gạch, mảng tường hữu hình (vốn ở cấp độ văn bản vi mô). Chúng ta buộc phải mở rộng tầm nhìn sang chiều kích của văn bản vĩ mô, nơi kiến trúc bắt đầu đối thoại trực tiếp hay gián tiếp với các ngành khoa học khác như xã hội học, sinh thái học, lịch sử, văn hóa … và cả với triết học.

Để giải thích cho bước chuyển này, lý thuyết “Tính liên văn bản” (Intertextuality) của Julia Kristeva [6], một tư duy quan trọng thuộc hệ hình Hậu cấu trúc luận – là một điểm tựa. Khác với Cấu trúc luận vốn luôn đi tìm một hệ thống đóng kín với ý nghĩa cố định nội tại, Hậu cấu trúc luận tuyên bố: Không một văn bản nào có ranh giới cô lập. Kristeva lập luận rằng: Mỗi văn bản luôn là “một bức tranh khảm được ghép lại từ các trích dẫn”, là kết quả của việc hấp thụ và biến đổi mã nguồn từ các văn bản khác.

Khi “chiếu” qua kiến trúc, bản thân một công trình đơn lẻ thực ra là một cấu trúc liên văn bản phức tạp. Hệ thống ký hiệu bên trong cái “vỏ” vật chất vi mô kia vốn chỉ ở dạng tiềm năng. Ý nghĩa của nó thực sự được kích hoạt khi nó thoát khỏi tính đóng kín, để tham gia vào cấu trúc vĩ mô liên ngành, đan cài với nhiều hệ văn bản khác: Từ văn bản của Kinh tế học (suất đầu tư, bài toán thương mại), Sinh thái học (hướng nắng, hướng gió, cách thích ứng khí hậu, tiết kiệm năng lượng), cho đến Xã hội học (hành vi, lối sống và nhân khẩu của con người). Sự tương tác hệ thống mang tinh thần Hậu cấu trúc này giải phóng ý nghĩa kiến trúc khỏi thế độc thoại của tác giả, khiến nó không đứng yên hay đóng cứng, mà luôn biến đổi và liên tục vận động theo bối cảnh.

Ở khía cạnh học thuật, việc công trình đan cài vào cấu trúc vĩ mô này đã xóa nhòa đi ranh giới giữa tư duy lý luận thuần túy và thực hành thực tế, từ đó khai sinh ra khái niệm “thực hành mang tính lý thuyết” (theoretical practice) [4]. Lúc này, lý luận không còn là những câu chữ đứng ngoài để quan sát hay phán xét một cách thụ động nữa, mà nó dấn thân, trực tiếp nhào nặn nên ý nghĩa không gian. Loạt sách lý luận nổi tiếng như Thinkers for Architects, Thinking Architecture, hay Rethinking Architecture chính là những minh chứng rõ nhất. Chúng khẳng định một thực tế: Một công trình kiến trúc đương đại muốn tự định vị giá trị của mình thì bắt buộc phải bước ra khỏi cái vỏ vi mô chật hẹp, để học cách dung chứa và đối thoại với cả một mạng lưới tri thức liên ngành rộng lớn xung quanh.

Tiếp cận từ Hiện tượng luận – Tính bối cảnh

Hơn nữa, sự giao thoa liên ngành này cũng chính là tác nhân tạo nên các hệ bối cảnh động, tác động trực tiếp lên văn bản vĩ mô kiến trúc. Do đó, việc đặt kiến trúc vào bối cảnh cụ thể của không gian, thời gian và trải nghiệm giác quan thực địa không chỉ là phương thức hiện thực hóa tư duy hệ thống, mà còn là con đường để giải mã và thấu cảm trọn vẹn “tiến trình nghĩa” đang liên tục tiếp diễn của kiến trúc.

Để làm được điều này, tư duy nghiên cứu buộc phải dịch chuyển sang lăng kính của Hiện tượng luận, nhìn nhận rằng: Ý nghĩa kiến trúc không nằm ngoài dòng chảy sống động của thực tại, mà luôn chịu sự va chạm bởi bối cảnh thời đại. Khái niệm “ngữ cảnh” giờ đây đã vượt ra ngoài những giới hạn vật lý cố định như địa hình hay khí hậu, để mở rộng thành một hệ bối cảnh phi vật thể phức hợp. Trong đó, cấu trúc ý nghĩa của kiến trúc đang bị tái định hình mạnh mẽ nhất bởi hai làn sóng đương đại: Xã hội truyền thông đại chúng và kỷ nguyên số của trí tuệ nhân tạo (AI).

i. Thời xã hội truyền thông: Văn bản số và văn bản trải nghiệm số đông

Nếu bối cảnh truyền thống neo giữ công trình bằng các yếu tố vật chất (gạch đá, địa hình, cây xanh, khí hậu…), thì bối cảnh đương đại được bao quanh thêm bởi dòng chảy dữ liệu và hình ảnh. Làn sóng truyền thông tạo nên các khái niệm: Bối cảnh phi vật thể, hạ tầng truyền thông và môi trường thông tin. Hệ sinh thái phi vật lý này định hình cách công chúng tiếp cận và hiểu về công trình trước cả khi đến thực địa. Lúc này, công trình không còn đóng khung ở cấp độ văn bản vi mô, mà bị đẩy vào mạng lưới văn bản vĩ mô của truyền thông. Đồ án Bảo tàng Do Thái tại Berlin của Daniel Libeskind là một minh họa cho xu hướng này – Khi bản vẽ thiết kế đã kịp sinh nghĩa và tạo dư luận toàn cầu trước khi công trình được xây dựng [4]. Điều đó cho thấy, ý nghĩa của kiến trúc thời nay không chỉ là kết quả của sự va chạm phức hợp giữa thực tế vật chất, mà còn bởi trí tưởng tượng của truyền thông đại chúng.

Trong bối cảnh này, sự lưu hành ý tưởng và hình ảnh về công trình dưới dạng các “văn bản số” (hình ảnh render, video review, dữ liệu tương tác) có vai trò quan trọng ngang bằng, thậm chí có chiều hướng lấn át cả trải nghiệm vật lý. Khái niệm “trải nghiệm giác quan” không còn bó hẹp ở việc tiếp xúc thực địa, mà mở rộng ra quy mô cho số đông trên cộng đồng mạng qua “thế giới màn hình”.

Mạng lưới này tạo nên các định kiến và luồng dư luận, tác động liên tục đến tiến trình nghĩa của kiến trúc. Hiện tượng này buộc Hiện tượng học truyền thống, vốn chỉ chú trọng vào trải nghiệm trực tiếp, đơn lẻ tại thực địa, phải tự thay đổi quy mô để thích ứng. Lúc này, kiến trúc vận hành như một “văn bản trải nghiệm số đông”. Trải nghiệm không gian không còn là trạng thái độc thoại của một cá nhân, mà chuyển hóa thành một cấu trúc trải nghiệm tập thể được chia sẻ liên tục. Thông qua các tương tác phản hồi (review, bình luận, thảo luận, chia sẻ…), cộng đồng mạng trực tiếp tham gia vào tiến trình đồng sáng tạo và tái cài mã cho công trình. “Văn bản trải nghiệm số đông” biến kiến trúc từ một cấu trúc vật chất cố định thành một hiện tượng văn hóa trực tuyến, nơi ý nghĩa không gian liên tục được thương lượng và định hình bởi bối cảnh truyền thông.

Nhà House for trees
[Nguồn: https://kienviet.net/2014/4/23/house-for-trees-vo-trong-nghia-architects]
Tuy nhiên, các tranh luận quá đà trên không gian mạng cũng dễ làm lệch hướng giá trị thực của kiến trúc. Trường hợp công trình “House for trees” là ví dụ, khi hiệu ứng truyền thông số tập trung nhấn mạnh tính trình diễn vĩ mô, đã làm mờ đi bài toán sử dụng thực tế ở cấp vi mô. Bởi công trình chú trọng vào ý tưởng sinh thái mang tính thời đại, nhưng lại bỏ quên tính kết nối không gian, yếu tố cần thiết tạo sự thuận tiện cho sinh hoạt hằng ngày. Việc tách biệt các không gian ở (phòng ăn, phòng ngủ,…) thành những khối bê tông độc lập hình chậu cây khiến người sử dụng gặp những bất tiện nhất định khi thời tiết bất lợi. Mảng xanh sáng tạo này dường như không phục vụ trực tiếp cho chủ nhà, mà dường như hướng nhiều hơn đến việc tạo ra các góc chụp ấn tượng phục vụ mục đích quảng bá hình ảnh. Điều này vô tình biến người ở thành những “sinh thể” chui ra chui vào giữa các chậu cây. Nếu nói về bản chất, kiến trúc phải là nhà cho con người (house for people) và cây vì con người (trees for people); không phải là nhà cho cây (house for trees). Chính những hình ảnh lung linh lan truyền trên mạng đã làm người quan sát quên đi sự bất tiện công năng và cả bản chất của kiến trúc. Thử trả lời cho câu hỏi: “Chúng ta xây nhà cho thiên hạ nhìn hay chăm lo cho trải nghiệm thực tế của chính mình?” thì sẽ tiếp cận được vấn đề.
Dưới lăng kính của Hiện tượng học số (digital phenomenology), sự kiện truyền thông trở thành một thành tố hợp pháp cấu thành nên thực tại kiến trúc, nơi vật thể vật lý chỉ còn là một mắt xích trong mạng lưới [4].

ii. Kỷ nguyên số và AI: Văn bản số phức hợp và văn bản trải nghiệm nhân văn

Tiếp nối làn sóng truyền thông, kỷ nguyên số với sự can thiệp của các thuật toán toán học và trí tuệ nhân tạo (AI) đã hiện thực hóa tính liên ngành của văn bản vĩ mô. Thông qua công cụ thiết kế tham số (Parametric design) để kiểm soát dữ liệu kỹ thuật và các hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) để khơi mở ý tưởng hình khối, kiến trúc vận hành như một “văn bản số phức hợp”. Văn bản này có thể tích hợp đồng thời hai lớp dữ liệu: Một bên là các tham số vật lý chính xác từ môi trường sinh thái (nắng, gió, bức xạ nhiệt, bài toán tối ưu hóa năng lượng…) – Giải quyết các bài toán về vật thể vật lý cho kiến trúc; một bên là các câu lệnh ngôn ngữ điều khiển tư duy thẩm mỹ – Chăm lo cho vật thể nghệ thuật của kiến trúc. Sức mạnh xử lý của hệ thống thuật toán này giải quyết thỏa đáng các bài toán liên văn bản mà tư duy truyền thống khó có thể bao quát.

Nhờ tư duy tham số hóa, hình khối công trình không còn bị giới hạn bởi hình học cơ bản hay các giải pháp kết cấu thông thường. Những cấu trúc hữu cơ, bề mặt cong phức tạp hay hệ lưới toán học phi đối xứng nay đã có thể tính toán chính xác để thi công khả thi. Hơn nữa, công trình nay còn bứt phá khỏi vỏ bao che vật chất đơn thuần để trở thành thực thể số dệt bằng ánh sáng và dữ liệu điểm ảnh (pixels). Mặt đứng công trình biến thành màn trình diễn thị giác, làm nhòa ranh giới giữa thực và ảo. Tuy nhiên, sự biến đổi liên tục này đòi hỏi người sử dụng phải tỉnh táo đánh giá: Liệu cấu trúc tham số này có phục vụ chất lượng cuộc sống thực sự hay chỉ thỏa mãn thị giác nghe nhìn của cộng đồng mạng trên thế giới màn hình.

Ở mặt khác, dù AI rất mạnh về tính toán kỹ thuật và dựng hình khối phức tạp, công nghệ này vẫn có giới hạn trong việc hiểu sâu về văn hóa, ký ức đô thị hay tạo ra cảm giác thuộc về (belonging) cho con người – Những khía cạnh thuộc về vật thể xã hội, vật thể biểu tượng trong kiến trúc. Khi mọi trải nghiệm không gian bị đẩy lên môi trường mạng, nguy cơ làm mất đi bản sắc và giá trị đặc trưng của nơi chốn (vốn là của Hiện tượng luận trải nghiệm thực) sẽ xuất hiện.

Sự đổi thay này đã dịch chuyển vai trò của KTS từ người vẽ phương án, sang người quản lý dữ liệu và thiết lập câu lệnh. Điều này có thể làm lu mờ yếu tố nhân văn, đòi hỏi KTS phải có năng lực diễn giải cao hơn những khía cạnh thuộc về vật thể xã hội (như hành vi, lối sống và nhân khẩu của con người) và cả về vật thể biểu tượng mang tính định tính để chuyển hóa thành các thuật toán mang tính định lượng – Để neo giữ công nghệ vào cảm xúc và đời sống thực tại, khi đó kiến trúc đáp ứng được yêu cầu là những “văn bản trải nghiệm nhân văn”.

Tòa nhà Đô thị nghệ thuật Seoul (Dongdaemun Design Plaza – DDP), Hàn Quốc – KTS Zaha Hadid (Hoàn thành 2014)
[Nguồn: https://worldarchitecture.org/architecture-news/emenn/in-the-memory-of-zaha-hadid-the-dongdaemun-design-plaza.html]
Như vậy, khi văn bản số phức hợp giải quyết bài toán kỹ thuật vật chất, KTS phải là người đưa không gian quay về phục vụ cho “văn bản trải nghiệm nhân văn”. Đây là yếu tố quyết định để giữ gìn chất lượng sống thật tại khu đất, chăm lo cho ý nghĩa tinh thần và giá trị sử dụng thật của công trình. Việc nhấn mạnh văn bản trải nghiệm nhân văn giúp đảm bảo rằng: Dù kiến trúc có thay đổi hình thức lạ mắt hay “bành trướng” trên mạng xã hội đến đâu, nó vẫn giữ đúng mục đích ban đầu: Là một sản phẩm do con người làm ra và phục vụ cho cuộc sống thật của con người.

 Định hình kiến trúc như một “Văn bản mở” với các chiều kích chuyển dịch

Đằng sau những hiện tượng thực tiễn ấy hẳn có một sự dịch chuyển tư duy sâu sắc và nó phản ánh trực tiếp lên các văn bản kiến trúc. Nếu trước đây, với cột thứ ba trong tam nguyên định nghĩa kiến trúc là cái đẹp/hình thức (tập trung vào tính tĩnh của vật thể), thì ngày nay kiến trúc được định nghĩa bằng biểu tượng mang tính truyền thông (tập trung vào tính động của thông điệp). Sự chuyển dịch này cho thấy kiến trúc không còn là một “văn bản đóng”, chỉ chứa đựng duy nhất ý đồ của tác giả, mà là một “văn bản mở”, một hệ thống thông điệp liên tục được tái tạo qua các thời gian và không gian, thích ứng với bối cảnh.

Bước chuyển này gắn liền với lý thuyết “Văn bản mở” (Opera Aperta-tiếng Ý) được Nhà ký hiệu học Umberto Eco đề xuất lần đầu vào năm 1962, bản dịch tiếng Anh sau này được biết đến rộng rãi với tên gọi The Open Work (1989) [2]. Trước Eco, tư duy cổ điển thường xem tác phẩm nghệ thuật như một hệ thống đóng kín, nơi tác giả gửi gắm một thông điệp cố định và người đọc có nhiệm vụ phải giải mã đúng với ý đồ đó. Ngược lại, Umberto Eco chỉ ra rằng: Một văn bản mở sẽ không có một ý nghĩa duy nhất – Nó luôn chủ động mời gọi sự tham gia, diễn giải và đồng sáng tạo từ phía người tiếp nhận. Ý nghĩa của tác phẩm không nằm im trên cấu trúc vật chất, mà liên tục được sinh khởi, bồi đắp và biến đổi qua mỗi lần tương tác với từng chủ thể và bối cảnh khác nhau. Khi chiếu rọi lý thuyết này vào kiến trúc, nó giải phóng công trình khỏi tư duy Hình thức luận đóng kín, biến kiến trúc thành một tiến trình sinh nghĩa liên tục.

Sự tiến hóa này phụ thuộc vào nhu cầu của con người theo thời gian. Trong thời đại tiền kỹ thuật số, khi giao tiếp còn hạn chế, kiến trúc cần sự vững chãi và thẩm mỹ hữu hình để xác lập giá trị đơn nghĩa. Nhưng trong kỷ nguyên số và xã hội truyền thông, nhu cầu của con người chuyển sang sự tương tác và kết nối. Lúc này, kiến trúc không chỉ dừng lại ở sự hiện diện vật lý với chức năng sử dụng hay công năng xã hội, mà trở thành một vật chuyển tải thông tin. Ý nghĩa kiến trúc chuyển trọng tâm từ vật thể sang mối quan hệ giữa con người và không gian, cũng như giữa công trình với các yếu tố ngoại vi như môi trường sinh thái, bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử. Định nghĩa về kiến trúc buộc phải mở rộng thành một hệ thống ký hiệu không gian phức tạp, đa tầng nghĩa và chấp nhận cả những yếu tố nhập nhằng mâu thuẫn.

Ý nghĩa kiến trúc, vì vậy, chính là tổng hòa các thông điệp được cài đặt và thấu cảm. Sự thấu cảm ở đây không đơn thuần là hiểu đúng ý đồ của KTS, mà là quá trình tương tác giữa trải nghiệm cá nhân của người dùng với hệ thống ký hiệu của công trình. Nó cho phép người sử dụng tìm thấy sự tương thích trong không gian sống qua các bối cảnh lịch sử khác nhau, từ đó phái sinh những lớp nghĩa mới. Ví dụ, một cung điện xưa kia là biểu tượng của quyền lực phong kiến, ngày nay có thể chuyển hóa thành biểu tượng của di sản và ký ức đô thị.

Đặc biệt trong bối cảnh đương đại, giai đoạn tạo nghĩa có thêm sự trợ giúp của AI với khả năng xử lý dữ liệu lớn, tạo ra các tầng lớp cấu trúc phong phú. Ở chiều ngược lại, giai đoạn giải nghĩa của người dùng bị tác động mạnh mẽ bởi mạng xã hội và không còn gói gọn trong trải nghiệm thực tế tại khu đất. Đối tượng sử dụng tăng lên, sự tương tác phức tạp hơn, làm mờ ranh giới giữa thực và ảo. Ý nghĩa kiến trúc có thể được tái lập, tái diễn – Đúng như tinh thần “tiểu tự sự” của Hiện tượng luận, các tầng nghĩa cùng tồn tại, dung hợp và không phủ nhận lẫn nhau. Nên ý nghĩa kiến trúc không còn như là một vật thể tĩnh, nay chấp nhận sự sống động và không ngừng tiếp diễn như một thực thể sống.

Tóm lại, văn bản kiến trúc đương đại đang trải qua ba sự dịch chuyển:
(1) Từ đóng sang mở, định hình kiến trúc như một văn bản mở;
(2) Từ đơn nghĩa sang đa nghĩa, khiến ý nghĩa kiến trúc mang tính đa tầng, đa hướng;
(3) Từ tĩnh sang động, kích hoạt kiến trúc vận hành như một thực thể sống.

Các chiều kích này một lần nữa khẳng định ý nghĩa kiến trúc luôn trong một tiến trình tiếp diễn. Việc nhìn nhận kiến trúc như một thông điệp với hệ thống mã không còn cố định đặt ra một thách thức: Liệu các phương pháp luận cũ có còn đủ sức giải mã một thực thể luôn biến đổi như vậy không? Có phải chúng ta đang chứng kiến sự lỗi nhịp của các phương pháp truyền thống trước sự tiến hóa của bối cảnh số?

 Sự lỗi nhịp của các tư duy “đọc” truyền thống

Để trả lời câu hỏi đó, trước hết cần nhìn thẳng vào sự hạn chế của các tư duy truyền thống, khi bối cảnh truyền thông và kỷ nguyên số đã đẩy kiến trúc tiến hóa thành một văn bản mở. Trong một thời gian dài, các lối tư duy cũ thường tự đóng khung khi giải mã công trình theo những hướng tiếp cận đơn lẻ, tập trung cái nhìn “vào trong” thông qua văn bản vi mô. Lối tiếp cận này xem kiến trúc như một hệ thống kỹ thuật cô lập, chỉ tập trung phân tích cấu trúc của chính công trình gồm vật liệu, hình khối và công năng đơn thuần tại thực địa.

Hệ quả là các phương pháp luận kinh điển đều bộc lộ giới hạn của sự cô lập. Đầu tiên là cái “nhìn” của Hình thức luận, xem kiến trúc là vật thể mỹ học tĩnh để phân tích tỷ lệ mặt đứng hay quy luật đặc – rỗng một chiều. Tiếp theo là hành vi “đọc” của chủ nghĩa Cấu trúc, áp đặt công trình như một văn bản đóng có ngữ pháp cố định, nơi người dùng chỉ thụ động tiếp nhận một mã gốc độc quyền từ kiến trúc sư. Ngay cả khi chuyển sang lối cảm thụ của Hiện tượng luận, dù đã chạm đến sự tương tác sống động của các giác quan, cách tiếp cận này vẫn bị giới hạn ở quy mô đơn lẻ của một cá nhân tại một thực địa, vẫn còn thiếu các chiều kích kết nối xã hội.

Công trình Villa Savoye của Le Corbusier,
[Nguồn: https://x.com/leCMN/status/1858809911833931777/photo/1]
Ví dụ khi nhận xét công trình Villa Savoye của Le Corbusier, người ta thường dùng một bộ thước đo đóng khung: nhìn mặt đứng để khen ngợi tỷ lệ, đọc mặt bằng để phân tích tinh thần công năng duy lý, hoặc trải nghiệm Hiện tượng luận bằng cảm nhận đơn độc của một nhà phê bình tại công trình. Cách tiếp cận dựa trên văn bản vi mô này dường như đã đóng băng ý nghĩa kiến trúc ngay tại thời điểm khánh thành công trình.

Bảo tàng Guggenheim Bilbao nhìn từ trên cao.
Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3o_t%C3%A0ng_Guggenheim_Bilbao

Thế nhưng, bối cảnh hiện nay đòi hỏi một cái nhìn “ra ngoài” thông qua văn bản vĩ mô và tính liên ngành tất yếu. Một công trình khi xuất hiện lập tức bước vào không gian của một văn bản mở, bị ném vào không gian dữ liệu của truyền thông và hạ tầng số, nơi nó bị mổ xẻ và tái cấu trúc liên tục qua góc nhìn đa chiều của số đông. Với một công trình giải tỏa kết cấu như Bảo tàng Guggenheim Bilbao của Frank Gehry, người ta sẽ bất lực nếu chỉ bám vào lối “nhìn” mặt đứng hay “đọc” mặt bằng kiểu cũ. Ý nghĩa của nó không còn cô lập trong không gian thực tại Tây Ban Nha, mà liên tục được bồi đắp ở quy mô toàn cầu thông qua những lớp nghĩa mới do cộng đồng không ngừng chia sẻ, tranh luận và đồng sáng tạo trên không gian mạng.

Sự xung đột giữa tính áp đặt của những giá trị truyền thống và tính mở của thời đại số đã buộc phương thức giải mã kiến trúc chuyển dịch sang hệ hình “đối thoại”. Đây là một tiến trình tương tác đa chiều, nơi ý nghĩa không còn là kết quả tĩnh tại, mà là một dòng chảy không ngừng giữa công trình, bối cảnh và con người. Sự chuyển dịch từ văn bản vi mô cô lập sang văn bản vĩ mô liên ngành chính là dấu mốc bản lề, mở ra một chương mới cho lý luận và phê bình kiến trúc hôm nay.

Khi vai trò giải nghĩa của người sử dụng số đông được nâng cao, vị thế của nhà phê bình chuyên nghiệp cũng buộc phải thay đổi. Nhà phê bình không còn đóng vai trò là “trọng tài” độc quyền phán xét một văn bản đóng mà trở thành người điều phối, người đồng hành cùng số đông để giải mã một văn bản mở – Nhưng khi ý nghĩa kiến trúc trở nên đa diện và biến ảo dưới sự tác động của cả công nghệ lẫn cộng đồng như thế, người làm phê bình cần một thái độ ứng xử như thế nào để không bị lạc lối? – Nội dung này sẽ được tiếp tục làm rõ trong Phần 3: “Hướng đi cho phê bình kiến trúc đương đại”, để cùng tìm kiếm một phương cách phê bình mới, nơi lý thuyết và thực hành giao thoa trong sự thấu cảm thời cuộc.

TS.KTS Lê Trần Xuân Trang*
*Khoa Kiến trúc – Trường Đại học Kiến trúc TP. HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07-2026)


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Barthes, R 1977: The death of the author – N.p, Fontana Press;
[2] Eco, U 1989: The Open Work – N.p, Harvard University Press;
[3] Eco, Umberto 1979: The Role of the Reader: Explorations in the Semiotics of Texts – N.p.: Indiana University Press;
[4] Hale, Jonathan A, 2000: Building ideas – An introduction to Architectural theory – New York: John Wiley & Sons;
[5] Kristeva, J 1980: Desire in Language: A Semiotic Approach to Literature and Art – N.p, Columbia University Press;
[6] Lê, Trang T 2005: Về tính “nhập nhằng” (phức hợp và mâu thuẫn) trong Kiến trúc, Luận văn thạc sĩ. TP.HCM: Trường ĐH Kiến trúc TPHCM;
[7] Lê, Trang T. 2019L Diễn giải truyền thống trong kiến trúc Việt Nam Đương đại, Luận án tiến sĩ kiến trúc – TP.HCM: Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM;
[8] Trương, Thao Q 1995: Nhận dạng vài khía cạnh khoa học trong Kiến trúc học và đô thị học. Hà Nội: Khoa Kiến trúc, ĐH Xây dựng Hà Nội;
[9] Trương, Thao Q. 2002: “Bản chất cộng sinh văn hoá của Kiến trúc hay Kiến trúc là gì?” – Tạp chí Kiến trúc, 02, 2002.
[10] Venturi, R. 1966: Complexity and Contradiction in Architecture. N.p – The Museum of Modern Art.