Nếu đã hành nghề tốt thì không khó để hội nhập

Theo tiêu đề trên đây, thì vấn đề đặt ra là: Chúng ta đã hành nghề tốt chưa?

Nhìn nhận như thế nào cho đúng về khả năng hành nghề của giới KTS Việt Nam?
Chúng ta đã trải qua một giai đoạn khá dài của thời kỳ bao cấp. Nhìn nhận về lực lượng KTS ở giai đoạn này không hề yếu kém. Bởi lẽ, nhà nước cũng đã nhìn thấy vai trò của lực lượng này trong sự nghiệp kiến thiết phát triển đất nước, nên nhiều nguồn đào tạo KTS trong nước và quốc tế đã được chú trọng. Sau khi tốt nghiệp, đội ngũ KTS này đã được tạo điều kiện hành nghề ở hầu hết các viện thiết kế, các tổ chức tư vấn thiết kế của các bộ, ngành, địa phương trên cả nước. Phải nói rằng, giai đoạn này, trong sự quản lý của nhà nước, việc hành nghề của các KTS rất bài bản và nghiêm túc. Đã có những KTS thành danh, tuy các tác phẩm kiến trúc của họ không có những công trình quy mô lớn và cao cấp về công nghệ kỹ thuật. Do sự kém phát triển của nền kinh tế đất nước, nên hầu như các nghiên cứu thiết kế không mấy khả thi. Số KTS có công trình được trải nghiệm qua thực tế cũng không nhiều. Ta có thể hình dung, năng lượng trong giới KTS là rất lớn, song dường như không có đất dụng võ cho họ. Trên nhiều diễn đàn, các KTS say sưa và sôi nổi bàn về đường lối phát triển kiến trúc nước nhà. Nếu bạn có điều kiện xem lại lịch sử, có thể thấy: Nhiều câu chuyện kiến trúc của ngày hôm nay, đã được giới KTS bàn tới trong các hội thảo, trên các tạp chí… của thời kỳ khó khăn đó. Cũng trong giai đoạn này, nhiều KTS đã đạt giải thưởng trong các cuộc thi kiến trúc quốc tế. Chỉ có điều, họ vẫn chưa có điều kiện để được làm những công việc thực tế cho đất nước của mình.

Phương án đạt giải Ba Cuộc thi Ý tưởng thiết kế kiến trúc Trung tâm Phức hợp  Y học Bệnh viện Tim Hà Nội – Medical complex 3H
Phương án đạt giải Ba Cuộc thi Ý tưởng thiết kế kiến trúc Trung tâm Phức hợp
Y học Bệnh viện Tim Hà Nội – Medical complex 3H

Trong giai đoạn khó khăn này, phải nói rằng hình ảnh về các đô thị Việt Nam còn khá mù mờ, song việc đào tạo phát triển lực lượng kiến trúc vẫn được quan tâm và mở rộng. Số KTS có năng lực trong giai đoạn này đã là những nhà giáo, những trụ cột trong các trường đào tạo KTS và từ đó các thế hệ kiến trúc đã được hình thành và đông đảo như ngày nay. 

Về chất lượng đào tạo KTS, cho đến nay cũng còn nhiều tranh luận. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, nhiều cơ sở đào tạo của chúng ta chưa đảm bảo đạt chuẩn về điều kiện, cơ sở giảng dạy. Chương trình và phương pháp giảng dạy cũng còn có những vấn đề cần được cải tiến và thay đổi. Cũng chính vì nhiều vấn đề từ góc độ đào tạo nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hành nghề của các KTS sau khi ra trường. Điều nghi ngại này cũng là có cơ sở. Song, để bàn về khả năng hội nhập của giới KTS Việt Nam thì vấn đề này còn rộng hơn nhiều – Đó là: Môi trường hành nghề cho các KTS trên đất nước ta như thế nào và họ có điều kiện để trưởng thành trong môi trường này hay không? Đồng thời, để bước vào sân chơi của hội nhập quốc tế (tạm hiểu rằng, sân chơi của những nhà tư vấn kiến trúc có trình độ cao) thì không có nghĩa là tất cả KTS Việt Nam đều có thể tham gia vào sân chơi này. Chúng ta có thể hình dung: Biểu đồ trình độ KTS của chúng ta có thể được thể hiện như một hình chóp. Vậy, số KTS ở phần trên của đỉnh chóp có đủ năng lực để hội nhập quốc tế hay không?
Với kinh nghiệm của một người liên tục làm công tác giảng dạy và hành nghề lâu năm, tôi có vài suy nghĩ về khả năng của giới KTS Việt Nam như sau:

  • Chúng ta đã có một lớp KTS cha anh (những người có độ tuổi từ 60 trở lên), được đào tạo bài bản, là những người có trình độ nghiên cứu, am hiểu lý luận học thuật, đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đào tạo, giảng dạy. Tuy nhiều người trong số này không có nhiều tác phẩm kiến trúc (được xây dựng), song họ đều là những người có trình độ học vấn cao, là những bậc thầy để chúng ta tin cậy. Đây là số người có đủ năng lực quốc tế.
  • Chúng ta đã có một lớp KTS tiếp theo (những người có độ tuổi từ 45 ~ 60) là những người được trải nghiệm nhiều qua thực tế hành nghề, đã nếm đủ mùi cay đắng của đời sống nghề nghiệp. Những năm tháng vừa qua, số KTS này đã được cập nhật tư tưởng thiết kế và xu thế công nghệ của kiến trúc thế giới. Họ đã có đủ thâm niên và trình độ để chủ trì những công trình có quy mô lớn và đòi hỏi kỹ thuật cao. Giai đoạn đầu để bước vào sân chơi hội nhập với các nước trong khu vực, chúng ta chỉ cần khoảng 5 đến 10 KTS trong số này cùng với tổ chức tư vấn của họ thì cũng không quá khó khăn để tham gia thị trường tư vấn thiết kế quốc tế.
  • Phần còn lại là lớp KTS trẻ, chúng ta đã có một lực lượng khá lớn, họ là những người năng động và nhiệt huyết. Các cơ sở đào tạo họ dù còn nhiều khiếm khuyết, song cũng đã trang bị cho họ đủ những kiến thức cơ bản để hành nghề, để nhận thức được vai trò và các trào lưu của xu hướng kiến trúc thế giới. Đặc biệt, họ rất nhanh nhạy, sử dụng tốt máy tính và thành thạo các phần mềm ứng dụng để thao tác hành nghề. Tôi đã có điều kiện để so sánh và nhận thấy: Các KTS trẻ của chúng ta khả năng hành nghề trên máy tính không thua kém gì và có phần còn khá hơn nhiều so với KTS nước ngoài hoặc được đào tạo ở nước ngoài về. Phải nói rằng, thói quen đào tạo trong các trường của chúng ta cũng có những mặt thành công và tích cực của nó. Nhiều anh em trong số này đang làm thuê hoặc là nhân viên trong các tổ chức tư vấn nước ngoài ở Việt Nam. Đây là một lực lượng khá mạnh của đất nước chúng ta, nếu có người chủ trì đứng đầu tốt, được tổ chức hoạt động tốt, họ sẽ phát huy đáng kể cho khả năng hội nhập của giới KTS Việt Nam.

Tóm lại, với cách nhìn nhận về khả năng của giới KTS Việt Nam như trên, tôi có thể nói gọn lại về họ với những khả năng như sau:

  • Có đủ tầm tư tưởng, lý thuyết học thuật và tâm hồn để sáng tạo ý đồ kiến trúc.
  • Có đủ khả năng (cũng như điều kiện thực tế) để tiếp cận khoa học công nghệ trong hành nghề tư vấn kiến trúc.
  • Hầu hết các KTS đều có nhận thức tốt về ý thức và trách nhiệm, tình yêu đối với nghề nghiệp, đã từng nếm trải lao động nghề nghiệp với đồng lương thấp… khi được hưởng với chế độ hội nhập quốc tế, khả năng làm việc sẽ còn được phát triển hơn nhiều.

Để làm rõ hơn những nhận định trên đây, tôi xin được trao đổi như sau:

  • Nhiều người thường nói rằng: Các tổ chức tư vấn của chúng ta kém hiểu biết hơn các tổ chức tư vấn nước ngoài về kỹ thuật công nghệ. Nói như vậy cũng không có gì sai, song nó chỉ còn đúng ở giai đoạn đầu, khi đất nước chúng ta mới mở cửa mà thôi. Đến nay cũng đã khá nhiều công trình có kỹ thuật công nghệ cao được xây dựng ở Việt Nam. Trong thời gian vừa qua, các KTS của chúng ta cũng đã có cơ hội được tiếp cận với các công trình thuộc loại này, nhiều tổ chức tư vấn của chúng ta còn là nhà thầu phụ cùng với đối tác nước ngoài để triển khai kỹ thuật các công trình đó. Các KTS chỉ cần có điều kiện một vài lần trải nghiệm thực tế là có thể nắm bắt được ngay những vấn đề của cái gọi là “kỹ thuật công nghệ”.
  • Chỉ tính từ năm 1990 đến nay (đã 25 năm), thời gian đủ để những KTS có năng lực nâng cao trình độ của mình. Nếu biết cách làm, biết cách làm chủ đồ án với ý tưởng sáng tạo của mình, với đầy đủ quyền hạn và tài chính đầu tư cho dự án, các KTS có thể mời gọi, sử dụng bất cứ kỹ thuật công nghệ nào có trên thế giới để phục vụ cho dự án của mình. Cơ chế thị trường là như vậy, không có một kỹ thuật công nghệ nào lại từ chối yêu cầu của KTS. Thậm chí họ còn tư vấn ngược lại cho các KTS một cách kỹ càng và chu đáo, thông qua các hợp đồng mua bán. Nói như vậy để hiểu rằng, không có KTS nào giỏi hơn KTS nào về kỹ thuật công nghệ cả. Chỉ có điều bạn có biết cách làm và có quyền lực hay không? Tôi hoàn toàn tin vào điều kiện bình đẳng này với các KTS trên toàn thế giới.
  • Thực tế vừa qua, tôi cũng được mời là thành viên giám khảo, chấm thi nhiều cuộc thi quốc tế có cả các tư vấn Việt Nam tham gia. Không ít lần giải Nhất đã thuộc về các tổ chức tư vấn của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là: KTS của chúng ta không thua kém gì các KTS nước ngoài về ý tưởng sáng tạo. Tuy nhiên, nhiều cuộc thi, trong ý thức của các chủ đầu tư, chưa biết kết quả như thế nào, song họ chỉ muốn lựa chọn tư vấn nước ngoài, thậm chí, nhiều cuộc thi, họ chỉ mời riêng tư vấn nước ngoài (để thỏa mãn điều gì đó chỉ có họ mới biết), nên các KTS Việt Nam thường hay bị thua thiệt. Đây có thể xem như một vấn nạn trong nghề kiến trúc với thành ngữ “Bụt chùa nhà không thiêng”.

Một vài phân tích thêm trên đây, để chúng ta tự tin hơn về khả năng hành nghề của các KTS Việt Nam. Chúng ta sẽ có điều kiện bình đẳng hơn khi bước vào sân chơi chung của giai đoạn hội nhập. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho bước hội nhập này, cũng cần phải xem xét lại thực trạng môi trường hành nghề của các KTS ngay trên đất nước của chúng ta – Làm sao để các KTS của chúng ta có điều kiện hành nghề tốt hơn, trình độ phát triển hơn, phục vụ tốt hơn cho chính quê hương đất nước mình.

Vì sao các tổ chức tư vấn kiến trúc của chúng ta không đủ động lực để phát triển mạnh và dễ dàng bước vào sân chơi chung hội nhập?
Việc các tổ chức tư vấn kiến trúc của Việt Nam phát triển hành nghề tại nước ngoài, không thuần túy chỉ phụ thuộc ở sự cố gắng, năng động của giới KTS, mà còn là vấn đề của cơ chế xã hội, chính sách quản lý, đãi ngộ và sự trân trọng với giới nghề KTS ở Việt Nam.

Cho đến nay, các tổ chức tư vấn thiết kế kiến trúc ở nước chúng ta vẫn là những tổ chức lao động thuộc loại nghèo, tiếng nói của họ không mấy có trọng lượng với các chủ đầu tư và các cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước, rất khó phát triển. Nhìn chung, các tổ chức tư vấn thiết kế kiến trúc đều có hình ảnh như những “con bệnh” ốm yếu, những “con bệnh” rất biết bệnh của mình, rất dễ chữa, nhưng lại không có điều kiện để chữa được.

Trước hết là phải nhận thức lại, nhận thức một cách đúng đắn về nghề KTS, ngay trên môi trường hành nghề hàng ngày của chính đất nước chúng ta, rồi mới hãy nói tới sân chơi của khu vực. Từ trước tới nay, giá trị thiết kế phí chi trả cho KTS Việt Nam (theo định mức của Nhà nước), còn bị phân biệt thấp hơn rất nhiều so với giá tư vấn của KTS nước ngoài làm việc tại Việt Nam, với cùng một loại hình công việc giống nhau (thường thấp hơn từ 4,5 đến 6 lần, thậm chí thấp hơn đến 10 lần). Chỉ một điều này thôi đủ thấy chúng ta bất lợi như thế nào, trước con mắt của các chủ đầu tư nước ngoài. Vì vậy, các quy định về chi trả thiết kế phí của Nhà nước phải xóa bỏ sớm điều này, không nên có sự phân biệt đối xử giữa KTS Việt Nam và KTS nước ngoài. Đây là vấn đề rất quan trọng, giải quyết được vấn đề may ra còn có hy vọng khắc phục được cái nghèo của giới KTS Việt Nam.
Cần quan niệm như thế nào cho đúng về thiết kế phí, nếu hiểu rằng đó là một khoản tiền để trả công cho thời gian và sản phẩm của nhà tư vấn thiết kế, đủ để họ sống thì đơn giản quá. Chúng ta cần phải hiểu rằng tư vấn thiết kế không phải là sản phẩm của một người, mà là sự phối hợp của nhiều chuyên gia, của một tổ chức tư vấn. Chi phí cho tổ chức tư vấn để có thể hoạt động được bình thường, có thể phải kể đến các khoản chi tối thiểu như sau:

  • Cơ sở vật chất, văn phòng làm việc và các trang thiết bị văn phòng phẩm, máy móc và các phần mềm cần thiết… Đây là những chi phí rất lớn, đòi hỏi tổ chức tư vấn phải thường xuyên mua sắm, thay thế và cập nhật. Phải đủ các công cụ mạnh mới có thể đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu và làm ra sản phẩm.
  • Phải có một đội ngũ chuyên gia đủ mạnh, có mức lương đảm bảo, đủ cho cuộc sống của họ ổn định, yên tâm công việc mà họ đang làm.
  • Phải đủ chi phí trang trải cho những cuộc thi thiết kế, những hợp đồng không được thực hiện, những công việc phải làm đi làm lại do thay đổi bất thường của chủ đầu tư, những rủi ro mà thực tế là một đặc thù của nghề nghiệp… Đây là những việc rất bình thường của các tổ chức tư vấn thiết kế kiến trúc (không phải do năng lực yếu kém), kể cả những rủi ro khách quan từ phía đối tác.
  • Phải đủ phương tiện và chi phí đi lại trong quá trình giám sát tác giả. Đây cũng là một trong những khoản chi phí rất lớn, phải chi trả trong nhiều năm theo thời gian công trình xây dựng. Sự tích cực có mặt ở công trường của tác giả thiết kế, sẽ giúp cho công trình nâng cao chất lượng.
  • Phải có đủ các chi phí để thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ chuyên gia của tổ chức mình (cập nhật thông tin, công nghệ, đi nước ngoài thăm quan, học hỏi, tham dự các hội thảo khoa học, đầu tư cho các đề tài nghiên cứu khoa học, làm mô hình, nghiên cứu chế tạo thử, làm mẫu…). Đây là những khoản chi phí rất lớn, hiện tại ở Việt Nam rất ít các tổ chức tư vấn làm tốt được các công việc này. Trong khi đây lại là những công việc quan trọng số một để phát triển tổ chức tư vấn, nâng cao chất lượng sản phẩm tư vấn.
  • Còn rất nhiều các khoản chi phí khác chưa thể kể ra đây trong hoạt động hàng ngày của các tổ chức tư vấn thiết kế ở Việt Nam. Hiện tại, các tổ chức tư vấn thiết kế kiến trúc Việt Nam đang phải bơi trải hàng ngày với nghề nghiệp của mình. Phải làm tới cả chục công trình mà vẫn không đủ để nuôi sống nhau! Đây là chưa kể đến họ phải làm nghề trong một môi trường mà thủ tục vô cùng phức tạp. Vậy thử hỏi thời gian đâu để nghiên cứu sâu, làm kỹ, kể cả có cái “Tâm” cũng không thể tốt hơn được. Nếu quan niệm về thiết kế phí được thay đổi, KTS Việt Nam cũng được chi trả như đối với KTS nước ngoài thì các tổ chức tư vấn Việt Nam từng bước có điều kiện để tái cơ cấu, để củng cố lại tổ chức của mình, để đủ mạnh và chuyên nghiệp hơn. Đó cũng là điều kiện để hành nghề tốt và thừa tự tin để bước vào bất cứ sân chơi nào!

Một vấn đề lớn khác liên quan đến tính pháp lý, đến chủ trương chính sách của Nhà nước, đến việc tổ chức hành nghề của giới KTS Việt Nam. Chúng ta đều biết KTS là một giới nghề nghiệp rộng lớn, công việc của họ liên quan đến tất cả các lĩnh vực của Quốc gia, từ nhỏ đến lớn, tới cả tầm vĩ mô của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Nhưng đến nay vẫn chưa có một tổ chức hiệp hội, nghiệp đoàn nào để liên kết giới nghề nghiệp này lại. Vậy ngay trên sân nhà, tính tổ chức nghề nghiệp đã không có thì sao có thể có đủ sức mạnh, đủ liên kết để hoạt động ở nước ngoài được. Nghiệp đoàn là một tổ chức tạo ra những chuẩn mực cho giới nghề nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho các thành viên của mình trong hoạt động hành nghề. Đây là một tổ chức mà hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều đã có từ rất lâu rồi.

Khi KTS được trân trọng, khi tổ chức nghiệp đoàn KTS được thiết lập, đã đủ khung pháp lý và những quy chế chuẩn mực trong hoạt động của giới nghề, các tổ chức tư vấn kiến trúc Việt Nam sẽ từng bước được nâng cao về tính tổ chức và trình độ quản lý doanh nghiệp. Sẽ không còn hiện tượng làm ăn chộp giật, thời vụ và nghiệp dư như hiện nay. Với một môi trường hành nghề minh bạch, tính chuyên nghiệp cao, các tổ chức tư vấn kiến trúc Việt Nam cũng sẽ dần được chuẩn hóa, thương hiệu của các tổ chức sẽ được quảng bá rộng rãi hơn, các văn phòng làm việc sẽ không còn manh mún, có trụ sở cố định, đầy đủ tiện nghi và trang thiết bị… đảm bảo hoạt động hành nghề tốt. Đây là những vấn đề không quá khó.

Phải nói rằng, trong những năm tháng vừa qua, giới KTS cả nước hầu như đều phải bơn trải quá nhiều để bảo đảm sinh tồn. Tất cả họ đều mong muốn và sẵn sàng cho một nề nếp, tổ chức làm ăn bài bản. KTS là vậy, cái nghề này cho họ những khả năng thay đổi và thích nghi nhanh chóng, bởi họ là người luôn sống trong lao động sáng tạo. Sáng tạo là thách thức mới, bởi vậy, thay đổi chính mình là điều không khó đối với giới KTS Việt Nam. Chính vì vậy, họ đã luôn có đủ tổ chất để bước vào hội nhập ở bất cứ nơi đâu.

TS.KTS Nguyễn Tiến Thuận

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc – Số 12-2015)