Những rào cản khi áp dụng hệ thống đánh giá công trình xanh tại Việt Nam

Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều hệ thống đánh giá công trình xanh. Đây là một công cụ hiệu quả góp phần định hướng xây dựng xanh, xu hướng tất yếu trong bối cảnh toàn cầu đang phải đối mặt với những hậu quả của việc phát triển thiếu tính bền vững. Ở Việt Nam, gần đây đã có hệ thống đánh giá công trình xanh LOTUS (Hội đồng công trình Xanh Việt Nam VGCB xây dựng trên cơ sở tham khảo nhiều hệ thống tiêu chí trên thế giới), Hệ thống tiêu chí Kiến trúc Xanh do Hội đồng Kiến trúc xanh – Hội KTS Việt Nam nghiên cứu xây dựng và đã bắt đầu áp dụng trong thực tiễn. Đây là việc làm rất cần thiết, tuy nhiên để hệ thống đánh giá thực sự hiệu quả vẫn còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận. Có thể sơ lược một số vấn đề chính sau:

Nhà Quốc hội Scotland. Công trình sử dụng phần mềm mô phỏng tính toán công trình xanh IES.

Thiếu cơ sở dữ liệu đầu vào
Đối với một hệ thống đánh giá công trình xanh, dữ liệu đầu vào đóng vai trò rất quan trọng để đưa ra kết quả mô phỏng chính xác, từ đó việc đánh giá công trình dựa trên các tiêu chí xanh sẽ chính xác và thuyết phục hơn.
Một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá công trình xanh là tổng mức tiêu thụ năng lượng bình quân/năm, trên cơ sở so sánh tổng mức tiêu thụ năng lượng bình quân/ năm đối với các công trình thông thường. Để có dữ liệu chính xác phải làm những khảo sát quy mô lớn của từng loại công trình riêng biệt đối với các vùng khí hậu khác nhau trên toàn quốc. Đây là một dự án lớn, cần kinh phí và sự ủng hộ của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương và các thành phần liên quan. Việt Nam đã có những cơ quan nghiên cứu khảo sát và đưa ra những số liệu trên nhưng chưa hoàn toàn điển hình cho từng thể loại công trình, cho từng vùng miền trên toàn quốc. Khi cơ sở dữ liệu này không chính xác và đầy đủ, rất khó áp dụng các tiêu chí xanh đạt kết quả tốt. Khi đó sẽ xảy ra trường hợp công trình được cấp chứng chỉ xanh trong giai đoạn thiết kế nhưng khi đưa vào sử dụng thực tế lại hoàn toàn không “xanh” do những sai lệch từ dữ liệu đầu vào.    
Để tính toán và đưa ra các số liệu đánh giá công trình có “xanh” hay không trong giai đoạn thiết kế cần những phần mềm tính toán mô phỏng, do đó cần rất nhiều dữ liệu đầu vào. Ví dụ như các thông số “xanh” của vật liệu xây dựng công trình như hệ số cách nhiệt, hấp thụ nhiệt, phản xạ nhiệt…Trên thực tế, thị trường vật liệu xây dựng có không ít những nhà sản xuất  không đưa ra đầy đủ các thông số trên bao bì sản phẩm. Do đó, cần có những quy định chung về các chỉ số “xanh” trên vật liệu xây dựng.  
Thông thường, các số liệu khí hậu cần được số hóa dưới dạng file dữ liệu để sử dụng cho các phần mềm tính toán mô phỏng. Hiện nay, chỉ có duy nhất số liệu khí hậu của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề khó khi các thông số dữ liệu khí hậu hầu hết các vùng miền đã sẵn có. Việc cần làm là chuyển đổi, chuẩn hóa những thông số này thành cơ sở dữ liệu phù hợp cho việc sử dụng các phần mềm tính toán mô phỏng cho công trình xanh.    

Trung tâm Hội nghị  Melboume,Úc

Các tiêu chuẩn xây dựng chưa thuận lợi cho những tiêu chí xanh
Bản thân Hệ thống đánh giá công trình xanh cũng không thể đưa ra các tiêu chuẩn – vì nếu như vậy sẽ rất phức tạp và tốn kém. Do các tiêu chí đánh giá liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy hệ thống đánh giá công trình xanh tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Úc, Nhật…có rất nhiều tiêu chí lấy các luật xây dựng hiện hành làm cơ sở đánh giá (Ví dụ: Hệ thống đánh giá công trình xanh LEED của Mỹ các tiêu chí về năng lượng, sức khỏe và tiện nghi dựa phần lớn vào tiêu chuẩn ASHRAE, năng lượng và điều hòa không khí). Hệ thống tiêu chuẩn tại các quốc gia này gồm nhiều lĩnh vực riêng biệt như năng lượng, sinh thái, sức khỏe, môi trường… được sử dụng là nền tảng, thậm chí định hướng cho các tiêu chí xanh…
Hệ thống đánh giá công trình xanh LOTUS dựa trên khá nhiều luật và tiêu chuẩn xây dựng hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, rất khó có thể coi những tiêu chuẩn này là cơ sở hiệu quả cho hệ thống đánh giá công trình xanh. Có rất nhiều mâu thuẫn và thiếu sót giữa những tiêu chuẩn áp dụng và các tiêu chí xanh liên quan, ví dụ như: các tiêu chí năng lượng dựa trên Quy chuẩn Việt Nam về các công trình sử dụng năng lượng có hiệu quả QCVN 09:2005; tiêu chuẩn chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu cho công nghệ và thiết bị, những yếu tố quan trọng khác liên quan đến kiến trúc xanh như sức khỏe, tiện nghi sử dụng, sinh thái không được chú trọng.
Sửa đổi hệ thống tiêu chuẩn theo định hướng kiến trúc xanh là kế hoạch dài hạn cần nhiều thời gian, công sức và sự ủng hộ của Chính phủ, các ban ngành liên quan. Thậm chí, thiết kế xanh cần phải được tiêu chuẩn hóa, bắt buộc áp dụng toàn bộ đối với các công trình xây mới hoặc cải tạo.     

Chi phí xây dựng công trình xanh
Theo số liệu khảo sát trên phạm vi toàn cầu của Hội đồng Kinh tế Thế giới, chi phí xây dựng công trình xanh luôn cao hơn so với công trình thông thường khoảng 17% hoặc thấp hơn (thậm chí có thể là 5% hoặc 0% tùy thuộc vào mức độ đầu tư “xanh” cho công trình). Một khảo sát khác của Hội đồng công trình xanh Úc cho thấy: có đến 80% công trình có chi phí xây dựng tăng không đáng kể khi áp dụng Hệ thống đánh giá công trình xanh Green Star của Úc. Do đó, quan niệm công trình xanh luôn có giá thành cao hơn công trình thông thường là không hoàn toàn chính xác. Vấn đề ở chỗ: nếu như có hiểu biết về quy trình thiết kế xanh thực thụ, kiến thức về thiết kế xanh, công nghệ, kĩ năng sử dụng vật liệu… thì chi phí xây dựng công trình xanh sẽ giảm đi rất nhiều. Thiết kế xanh ở đây cũng không hẳn là hoàn toàn áp dụng công nghệ – yếu tố chính làm tăng giá thành công trình, mà còn liên quan đến thiết kế thụ động: tận dụng chiếu sáng và thông gió tự nhiên, nghiên cứu vị trí, hướng và các giải pháp khác ít tốn kém, phù hợp khí hậu, kĩ thuật xây dựng, lựa chọn vật liệu…
Chi phí xây dựng cao được cho là rào cản lớn nhất khi áp dụng Hệ thống đánh giá công trình xanh tại Việt Nam, những hiểu biết chưa đầy đủ về kiến trúc xanh, và quan điểm kiến trúc xanh chưa đem lại lợi nhuận trước mắt cho nhà đầu tư. Một số công trình quy mô nhỏ bằng tre ở Việt Nam dành được nhiều giải quốc tế trong và ngoài nước với chi phí thấp hơn 1/2 đến 1/3 so với công trình thông thường. Đó là những ví dụ cụ thể cho thấy những thiết kế thông minh, hiểu biết sâu sắc về kiến trúc xanh hoàn toàn có thể tạo ra những sản phẩm kiến trúc xanh với chi phí đầu tư thấp. Hệ thống đánh giá công trình xanh Việt Nam cần có những nghiên cứu và công trình thí điểm, chứng minh hiệu quả kinh tế của công trình tương tự như hệ thống đánh giá Green Star của Úc đã thực hiện thành công. Qua đó, có sự điều chỉnh hệ thống đánh giá công trình xanh kịp thời, phù hợp với tiêu chí cân bằng giữa chi phí xây dựng và các lợi ích xanh.

Tòa nhà Vietinbank, Hà Nội

Tương tự như các nước đang phát triển khác tại Đông Nam Á, những vấn đề trên xảy ra khi áp dụng Hệ thống đánh giá công trình xanh trên cơ sở tổng hợp, chọn lọc tiêu chí của các Hệ thống đã áp dụng thành công tại các nước phát triển trên thế giới, dựa trên cơ sở thích ứng với khí hậu, điều kiện kinh tế, môi trường, văn hóa và xã hội của Việt Nam. Những vấn đề trên là rào cản, có thể giải tỏa nhưng cần thời gian và sự ủng hộ của Chính phủ và sự hợp tác của mọi thành phần xã hội. Đây là một chặng đường dài nên phải có lộ trình cho từng giai đoạn thích hợp. Thiết nghĩ, giai đoạn đầu nên đưa ra những tiêu chí chung, đơn giản, không quá khó thực hiện, cho đến khi được xã hội chấp nhận và thấy được lợi ích của kiến trúc xanh và Hệ thống đánh giá công trình xanh. Khi Hệ thống đánh giá được chấp nhận và phổ biến, những rào cản trên sẽ được tự động giải tỏa theo cách đơn giản và ít tốn kém hơn rất nhiều.

ThS.KTS Lê Vũ Cường