Quản lý phát triển Kiến trúc Việt Nam thời kỳ mới: Đột phá thể chế, chuyển đổi số và mục tiêu Net-Zero

Ông Trần Hồng Minh – Bộ trưởng Bộ Xây dựng, tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội KTS Việt Nam khoá XI (nhiệm kỳ 2026-2031)

Kiến trúc gắn trực tiếp với chất lượng không gian sống, diện mạo đô thị, nông thôn và bản sắc văn hóa. Trong giai đoạn phát triển mới, quản lý kiến trúc phải đồng thời đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng không gian, hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp. Các yêu cầu này cần được xử lý thống nhất trong pháp luật, công cụ quản lý và tổ chức thực hiện.

Ngay từ năm 1948, trong thư gửi Hội nghị Kiến trúc sư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mối quan hệ giữa kiến trúc với dân sinh: “Trong 4 điều quan trọng cho dân sinh: Ở và đi là hai vấn đề cũng cần thiết như ăn và mặc. Vì vậy kiến trúc là một việc rất quan hệ”. Người đồng thời yêu cầu việc kiến thiết phải phù hợp với điều kiện thực tế và có chương trình lâu dài. Quan điểm đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị: Kiến trúc trước hết phải phục vụ đời sống Nhân dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn.

Trong thời gian vừa qua, Bộ Xây dựng và Hội Kiến trúc sư Việt Nam duy trì phối hợp trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và phản ánh thực tiễn hành nghề. Quá trình nghiên cứu, hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc tiếp tục tiếp nhận ý kiến của Hội và giới kiến trúc sư, góp phần bảo đảm chính sách bám sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển nghề nghiệp.

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững, đồng bộ về hạ tầng, kiến trúc, cảnh quan và chất lượng sống. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa; Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý trên cơ sở dữ liệu và công nghệ số. Đây là những định hướng quan trọng cần được cụ thể hóa trong quản lý và phát triển kiến trúc.

Luật Kiến trúc năm 2019 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý chuyên ngành về quản lý kiến trúc và hành nghề kiến trúc. Sau một thời gian thi hành, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số đòi hỏi một số quy định tiếp tục được hoàn thiện. Từ yêu cầu đó, ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, xây dựng, đầu tư, di sản văn hóa và pháp luật có liên quan.

1. Hoàn thiện thể chế: Nâng cao hiệu quả pháp luật và các công cụ quản lý kiến trúc

Hoàn thiện pháp luật về kiến trúc trước hết phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và phân định rõ phạm vi điều chỉnh. Pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn xác lập định hướng tổ chức không gian phát triển, sử dụng đất, hạ tầng và các chỉ tiêu quy hoạch chủ yếu; pháp luật về kiến trúc điều chỉnh quản lý kiến trúc và hành nghề kiến trúc, trong đó có bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, Quy chế quản lý kiến trúc, công trình kiến trúc có giá trị; pháp luật về xây dựng điều chỉnh khảo sát, thiết kế xây dựng, cấp phép, thi công, an toàn và quản lý chất lượng công trình. Phân định rõ là điều kiện để các lĩnh vực liên thông nhưng không chồng chéo về thủ tục, nội dung thẩm định và trách nhiệm.

Quản lý kiến trúc đồng thời phải đặt trong tổng thể quản lý phát triển đô thị. Chất lượng kiến trúc không chỉ được xem xét ở từng công trình mà phải gắn với cấu trúc không gian, cảnh quan, không gian công cộng và hệ thống hạ tầng. Đối với đô thị hiện hữu, cải tạo, chỉnh trang, tái thiết cần kết hợp nâng cao điều kiện sống với bảo vệ các giá trị kiến trúc, cảnh quan. Đối với khu vực phát triển mới, yêu cầu về tổ chức không gian, tầng cao, khoảng lùi, công trình điểm nhấn, không gian mở và kết nối hạ tầng cần được xác định từ quy hoạch và cụ thể hóa bằng công cụ quản lý kiến trúc.

Luật sửa đổi tập trung đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ yêu cầu không còn cần thiết nhưng vẫn bảo đảm chất lượng kiến trúc và trách nhiệm của các chủ thể; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, dữ liệu, năng lực chuyên môn và kiểm tra, giám sát. Đối với hành nghề kiến trúc, phương thức quản lý chuyển theo hướng chú trọng tiêu chuẩn năng lực, thông tin và quá trình hành nghề, tăng trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và khai thác dữ liệu được tăng cường trên cơ sở kết nối với Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, hạn chế hình thành các hệ thống dữ liệu riêng biệt.

Pháp luật về kiến trúc cũng phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu mới như kiến trúc xanh, kiến trúc thông minh, khu vực ven biển, hải đảo, không gian ngầm, khu vực chịu tác động của thiên tai và các khu vực quản lý đặc thù. Luật cần xác lập nguyên tắc và yêu cầu quản lý; các thông số kỹ thuật cụ thể được quy định trong quy chuẩn, tiêu chuẩn, Quy chế quản lý kiến trúc và pháp luật chuyên ngành để vừa bảo đảm tính ổn định, vừa có khả năng cập nhật theo thực tiễn và sự phát triển của khoa học, công nghệ.

Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc cần dựa trên cơ sở khoa học, điều tra, khảo sát và đặc điểm từng vùng, miền, địa phương; không đồng nhất bản sắc với một mẫu kiến trúc hay việc sao chép hình thức truyền thống. Bản sắc cần được nhận diện trong mối quan hệ giữa con người, không gian và văn hóa, từ cấu trúc không gian, cảnh quan, hình thức cư trú, vật liệu, kỹ thuật xây dựng đến tập quán sinh hoạt. Đối với đô thị hiện hữu, cải tạo, chỉnh trang và tái thiết phải xử lý hài hòa giữa bảo tồn cấu trúc không gian, cảnh quan, công trình có giá trị với yêu cầu cải thiện hạ tầng và điều kiện sống; đối với khu vực phát triển mới cần hạn chế sự lặp lại của các mô hình thiếu gắn kết với bối cảnh. Ở nông thôn, hiện đại hóa cần kế thừa hợp lý cấu trúc điểm dân cư, cảnh quan, điều kiện khí hậu, phương thức sản xuất và tập quán sinh hoạt, để các giá trị truyền thống tiếp tục được phát triển trong điều kiện mới.

Quy chế quản lý kiến trúc là công cụ trực tiếp tổ chức thực hiện yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, vì vậy phải rõ phạm vi, đối tượng, nội dung và không lặp lại quy hoạch hoặc làm phát sinh thủ tục không cần thiết. Việc phân cấp lập, phê duyệt hoặc ban hành Quy chế phải gắn với điều kiện thực hiện và trách nhiệm của cơ quan được giao; đối với nội dung có phạm vi, tác động liên xã, liên khu vực, cấp tỉnh cần giữ vai trò điều phối để bảo đảm tính thống nhất của không gian, kiến trúc và cảnh quan.

Tinh thần “Kiến trúc vì con người” cần được cụ thể hóa ngay trong các công cụ quản lý này. Quảng trường, công viên, tuyến phố, trường học, bệnh viện, công trình văn hóa, khu ở và các không gian sinh hoạt cộng đồng không chỉ là thành phần của cấu trúc đô thị mà trực tiếp quyết định chất lượng sống và môi trường văn hóa. Yêu cầu quản lý vì vậy cần hướng đến sự thuận tiện, an toàn, khả năng tiếp cận, chất lượng cảnh quan và sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, tập quán sinh hoạt; qua đó chuyển yêu cầu bảo tồn, phát huy văn hóa thành những tiêu chí có thể nhận diện trong không gian đô thị và nông thôn.

Đối với công trình kiến trúc có giá trị, trọng tâm cần chuyển từ lập danh mục sang quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị trong quá trình sử dụng; xác định rõ yếu tố cần bảo vệ và yêu cầu đối với sửa chữa, cải tạo, chuyển đổi công năng. Đối với công trình, không gian đô thị và cảnh quan có giá trị còn khả năng khai thác, cần khuyến khích cải tạo, tái sử dụng phù hợp thay vì chỉ bảo tồn theo trạng thái tĩnh. Kiến trúc, cảnh quan và không gian văn hóa, nếu được quản lý và khai thác hợp lý, có thể trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, du lịch, công nghiệp văn hóa và hoạt động sáng tạo; nhưng việc khai thác không được làm suy giảm các giá trị cốt lõi cần bảo vệ. Đồng thời, phải phân định rõ với pháp luật về di sản văn hóa để tránh phát sinh hai quy trình quản lý đối với cùng một đối tượng.

Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng đối với cải tạo, chỉnh trang và tái thiết đô thị. Mục tiêu không phải là giữ nguyên hiện trạng, mà là xác định đúng những yếu tố tạo nên giá trị của công trình, tuyến phố, khu vực và cảnh quan để có giải pháp bảo vệ phù hợp, đồng thời cho phép bổ sung các điều kiện cần thiết cho đời sống đương đại. Khi bảo tồn gắn với sử dụng, các giá trị kiến trúc có điều kiện tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng, tránh tình trạng bảo tồn hình thức nhưng tách rời nhu cầu sử dụng và nguồn lực duy trì lâu dài.

Cùng với đó, quản lý nhà nước trong quá trình đầu tư xây dựng cần tập trung kiểm tra việc tuân thủ các yêu cầu bắt buộc về quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan, an toàn, môi trường và lợi ích công cộng; trách nhiệm về giải pháp thiết kế, hồ sơ chuyên môn và chất lượng sản phẩm phải được xác định rõ đối với chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và cá nhân chủ trì. Cách tiếp cận này vừa hạn chế kiểm tra trùng lặp, vừa bảo đảm khả năng kiểm soát chất lượng và xử lý trách nhiệm khi có vi phạm.

Hiệu quả của thể chế vì vậy phụ thuộc lớn vào chất lượng tổ chức thực hiện tại địa phương. Phân cấp chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi cùng hướng dẫn chuyên môn, dữ liệu dùng chung, năng lực cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp. Đối với những vấn đề có tính liên vùng, liên địa phương hoặc tác động đến cấu trúc không gian lớn hơn phạm vi một đơn vị hành chính, cần bảo đảm vai trò điều phối của cấp có thẩm quyền, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau làm gián đoạn tính liên tục của không gian kiến trúc và cảnh quan.

2. Chuyển đổi số: Từ số hóa hồ sơ sang quản lý kiến trúc dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số phải được xác định là phương thức trực tiếp nâng cao hiệu quả quản lý kiến trúc. Tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW đòi hỏi không dừng ở ứng dụng phần mềm hay chuyển hồ sơ giấy sang điện tử, mà từng bước đổi mới quy trình quản lý, thiết kế, phối hợp và khai thác thông tin trên cơ sở dữ liệu số.

Dữ liệu phục vụ quản lý kiến trúc cần được tổ chức có cấu trúc, chuẩn hóa, định danh, kết nối và tái sử dụng từ quy hoạch, thiết kế, đầu tư xây dựng đến vận hành, cải tạo và tái thiết. GIS hỗ trợ tích hợp các lớp dữ liệu không gian về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng, cảnh quan, môi trường; BIM hỗ trợ quản lý thông tin công trình trong thiết kế, xây dựng, vận hành; môi trường dữ liệu chung hỗ trợ trao đổi và kiểm soát thông tin giữa các chủ thể. Việc áp dụng BIM trong kiến trúc cần thống nhất với pháp luật về xây dựng, phù hợp loại, cấp, quy mô, mức độ phức tạp của công trình và điều kiện hạ tầng số, không hình thành một cơ chế quản lý riêng nếu đã được điều chỉnh trong hệ thống pháp luật xây dựng.

Trọng tâm trước mắt là số hóa, chuẩn hóa dữ liệu của Quy chế quản lý kiến trúc, thiết kế đô thị, công trình kiến trúc có giá trị, khu vực quản lý đặc thù, thi tuyển, tuyển chọn phương án và hành nghề kiến trúc; đồng thời kết nối với Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng và các cơ sở dữ liệu liên quan. Những yêu cầu có thể định lượng như tầng cao, khoảng lùi, mật độ xây dựng, khối tích công trình, hành lang bảo vệ, phạm vi bảo tồn, trục không gian, điểm nhìn cần từng bước được chuẩn hóa thành dữ liệu có cấu trúc để hỗ trợ kiểm tra, đối chiếu. Tuy nhiên, các nội dung về chất lượng kiến trúc, cảnh quan, bản sắc và sự phù hợp với bối cảnh vẫn cần đánh giá chuyên môn.

Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích thông tin, phát hiện xung đột, mô phỏng vi khí hậu, năng lượng, giao thông và so sánh phương án, nhưng không thay thế trách nhiệm của kiến trúc sư và tổ chức hành nghề. Kết quả do công cụ số tạo ra phải được người có trách nhiệm chuyên môn kiểm tra trước khi sử dụng và tuân thủ quy định về quyền tác giả, sở hữu trí tuệ, dữ liệu và trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, chuyển đổi số phải đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ kiến trúc sư về BIM, GIS, quản lý dữ liệu, mô phỏng, vật liệu mới, thiết kế xanh và pháp luật có liên quan.

Sự thay đổi này đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ hành nghề. Bên cạnh năng lực sáng tạo và kiến thức kỹ thuật, kiến trúc sư cần được cập nhật về BIM, GIS, quản lý dữ liệu, công cụ mô phỏng, vật liệu mới, thiết kế xanh, bảo tồn và các yêu cầu pháp luật có liên quan. Phát triển nghề nghiệp liên tục vì vậy cần gắn với những thay đổi thực chất của hoạt động nghề nghiệp, tránh hình thức; công nghệ phải được sử dụng để nâng cao chất lượng quyết định chuyên môn chứ không làm mờ trách nhiệm của người thiết kế.

Quản lý dựa trên dữ liệu cũng tạo điều kiện thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ công. Khi thông tin quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc, công trình có giá trị và dữ liệu hành nghề được chuẩn hóa, công khai và liên thông, người dân, doanh nghiệp và kiến trúc sư có thể tiếp cận yêu cầu quản lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị phương án. Cơ quan quản lý có điều kiện giảm việc yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có, tăng khả năng đối chiếu và truy xuất quá trình xử lý. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển từ quản lý hồ sơ sang quản lý theo dữ liệu và kết quả.

3. Hướng tới mục tiêu Net-Zero: Đưa yêu cầu môi trường, năng lượng và thích ứng vào tư duy thiết kế

Cùng với hoàn thiện thể chế và chuyển đổi số, sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu cần trở thành tiêu chí của chất lượng kiến trúc. Hướng tới mục tiêu Net-Zero vào năm 2050 không chỉ là yêu cầu đối với công nghệ, thiết bị hay nguồn năng lượng, mà phải được xem xét ngay từ quy hoạch, nhiệm vụ thiết kế và lựa chọn giải pháp kiến trúc.

Ở quy mô công trình, nhiều yếu tố quyết định nhu cầu năng lượng và chất lượng môi trường trong nhà được hình thành từ giai đoạn thiết kế: Hướng công trình, hình khối, tỷ lệ đặc – rỗng của lớp vỏ, chiều sâu mặt bằng, che nắng, thông gió, chiếu sáng tự nhiên, cây xanh, mặt nước và vật liệu. Các giải pháp kiến trúc thụ động cần được ưu tiên để giảm nhu cầu năng lượng trước khi áp dụng hệ thống kỹ thuật và thiết bị. Đồng thời, giảm phát thải cần được xem xét theo vòng đời công trình, từ vật liệu, sản xuất, vận chuyển, thi công đến vận hành, bảo trì, cải tạo và kết thúc vòng đời; qua đó khuyến khích kéo dài tuổi thọ, cải tạo, tái sử dụng công trình, cấu kiện và sử dụng hiệu quả năng lượng, nước, tài nguyên.

Ở quy mô đô thị, hiệu quả năng lượng, môi trường và khả năng thích ứng phụ thuộc vào hình thái đô thị, mật độ xây dựng, tổ chức không gian mở, cây xanh, mặt nước, thông gió, thoát nước, giao thông công cộng, khả năng đi bộ và quan hệ giữa nơi ở, việc làm, dịch vụ. Do đó, yêu cầu giảm phát thải và thích ứng phải được xử lý đồng bộ giữa quy hoạch đô thị và nông thôn, quản lý kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và quản lý xây dựng.

Để có thể thực hiện và kiểm soát, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn chuyên ngành cần tiếp tục được rà soát theo hướng tăng các chỉ tiêu có thể đo lường về hiệu quả sử dụng năng lượng, môi trường, phát thải và khả năng thích ứng. Pháp luật về kiến trúc xác lập nguyên tắc; thông số, phương pháp đánh giá và mức kỹ thuật cụ thể được quy định trong quy chuẩn, tiêu chuẩn phù hợp với loại công trình, điều kiện khí hậu và trình độ phát triển kinh tế – kỹ thuật của Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là các chỉ số năng lượng hay phát thải mà là nâng cao chất lượng môi trường sống, sức khỏe và điều kiện sử dụng của con người.

Trong điều kiện Việt Nam có sự khác biệt rõ về khí hậu, địa hình và mức độ phát triển giữa các vùng, yêu cầu xanh và thích ứng cần được áp dụng theo điều kiện cụ thể, tránh đồng nhất bằng một mô hình kỹ thuật. Mục tiêu cuối cùng của kiến trúc xanh và Net-Zero không chỉ là các chỉ số năng lượng hay phát thải, mà là nâng cao chất lượng môi trường sống, sức khỏe, sự thuận tiện và khả năng tiếp cận của người dân. Đặt con người ở vị trí trung tâm cũng có nghĩa chất lượng kiến trúc phải được kiểm chứng qua hiệu quả sử dụng thực tế và giá trị lâu dài của những không gian nơi người dân sống, học tập, làm việc và giao tiếp cộng đồng.

Các yêu cầu về chất lượng không gian, bản sắc, chuyển đổi số và phát triển xanh cuối cùng đều được hiện thực hóa thông qua năng lực và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động kiến trúc. Vì vậy, đổi mới quản lý hành nghề cần tiếp tục theo hướng lấy năng lực thực tế, quá trình hành nghề và trách nhiệm đối với sản phẩm chuyên môn làm trọng tâm; đơn giản hóa thủ tục, khai thác dữ liệu đã có, đồng thời tăng cường kiểm tra, hậu kiểm và khả năng truy xuất trách nhiệm. Chứng chỉ hành nghề là một trong các căn cứ xác nhận năng lực, nhưng chất lượng hành nghề phải được bảo đảm đồng bộ bằng tiêu chuẩn năng lực, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức tư vấn và chuẩn mực nghề nghiệp.

Trong bối cảnh công nghệ, yêu cầu môi trường và phương thức hành nghề thay đổi nhanh, phát triển nghề nghiệp liên tục cần gắn với cập nhật pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, BIM, công nghệ số, vật liệu mới, thiết kế xanh, bảo tồn và bản sắc. Quy tắc ứng xử nghề nghiệp tiếp tục là cơ sở quan trọng để đề cao tính trung thực, trách nhiệm với cộng đồng, tôn trọng quyền tác giả, sở hữu trí tuệ và trách nhiệm đối với môi trường, cảnh quan. Bộ Xây dựng, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, tổ chức tư vấn và chủ đầu tư cần phát huy đúng vai trò của mình, cùng hướng tới nâng cao chất lượng thiết kế và giá trị sử dụng lâu dài của công trình.

Ở góc độ rộng hơn, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy giá trị văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Đối với kiến trúc, điều đó đòi hỏi sự kết nối giữa quản lý nhà nước, hoạt động nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Bộ Xây dựng thực hiện chức năng hoàn thiện pháp luật, tổ chức dữ liệu và kiểm tra việc thực hiện; Hội Kiến trúc sư Việt Nam phát huy vai trò của tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong phát triển nghề nghiệp, Quy tắc ứng xử, nghiên cứu, phê bình, tư vấn và phản biện; các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, tổ chức tư vấn và chủ đầu tư cùng chịu trách nhiệm đối với chất lượng thiết kế và giá trị lâu dài của công trình. Sự phối hợp này là điều kiện để các yêu cầu về thể chế, công nghệ, phát triển xanh, con người và bản sắc được chuyển thành kết quả cụ thể trong từng công trình, từng đô thị và làng quê.

4. Một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới

Trong thời gian tới, quản lý và phát triển kiến trúc cần tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ có quan hệ chặt chẽ. Trước hết, tổ chức thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc đồng bộ, hiệu quả; rà soát, hoàn thiện văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm thống nhất với pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, xây dựng, đầu tư, di sản văn hóa và pháp luật có liên quan; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, phân cấp, phân quyền gắn với điều kiện thực hiện, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả các công cụ quản lý kiến trúc tại địa phương. Quy chế quản lý kiến trúc cần tập trung vào yêu cầu thực sự cần thiết về kiến trúc, cảnh quan, bản sắc và khu vực quản lý đặc thù, tránh lặp lại quy hoạch hoặc tạo thêm thủ tục. Quản lý công trình kiến trúc có giá trị phải gắn nhận diện, phân loại với bảo vệ, cải tạo, phát huy giá trị; thi tuyển, tuyển chọn phương án kiến trúc phải thực sự phục vụ lựa chọn phương án có chất lượng cho công trình có vai trò, vị trí và tác động quan trọng.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu phục vụ quản lý kiến trúc; kết nối dữ liệu về Quy chế quản lý kiến trúc, thiết kế đô thị, công trình kiến trúc có giá trị, thi tuyển, tuyển chọn và hành nghề với Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng và các cơ sở dữ liệu liên quan. BIM, GIS, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số cần được áp dụng theo lộ trình phù hợp, phục vụ trực tiếp quản lý, thiết kế, kiểm tra và khai thác dữ liệu, không làm phát sinh hệ thống thông tin riêng biệt hoặc thủ tục mới.

Thứ tư, gắn nâng cao chất lượng kiến trúc với phát triển xanh, bảo tồn và phát huy bản sắc, đưa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW vào chất lượng thực của không gian sống, đồng thời nâng cao năng lực và trách nhiệm nghề nghiệp của kiến trúc sư. Quản lý và phát triển kiến trúc phải quan tâm đồng thời đến công trình và không gian công cộng, bảo đảm thuận tiện, an toàn, dễ tiếp cận, phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu và văn hóa của từng khu vực. Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật cần tiếp tục được rà soát theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải. Quản lý hành nghề cần gắn tiêu chuẩn năng lực với dữ liệu và quá trình hành nghề, phát triển nghề nghiệp liên tục, Quy tắc ứng xử nghề nghiệp, kiểm tra, hậu kiểm và trách nhiệm đối với sản phẩm chuyên môn.

Trong quá trình thực hiện, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Hội Kiến trúc sư Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và tổ chức nghề nghiệp; phát huy vai trò tư vấn, phản biện chuyên môn và tiếng nói của giới kiến trúc sư trong hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện.

Trong giai đoạn phát triển mới, kiến trúc phải góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng không gian sống, tạo dựng diện mạo đô thị và nông thôn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa, đồng thời đóng góp vào phát triển xanh, bền vững của đất nước. Bản sắc không chỉ được gìn giữ ở hình thức công trình mà phải hiện diện trong chất lượng của không gian sống và trong mối quan hệ giữa con người, cộng đồng với môi trường xây dựng. Hoàn thiện thể chế, phát huy sáng tạo, ứng dụng công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đặt con người ở vị trí trung tâm cũng chính là tiếp nối tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn giới kiến trúc sư từ năm 1948: phục vụ thiết thực nhu cầu của Nhân dân và công cuộc kiến thiết lâu dài của đất nước.

TRẦN HỒNG MINH
Bộ trưởng Bộ Xây dựng
© Tạp chí Kiến trúc