Thiết kế Đô thị Châu Á – Những thử thách trong Kỷ nguyên Thông tin và Toàn cầu hóa

CÁC THÀNH PHỐ CHÂU Á TRONG “THẾ KỶ CHÂU Á”
Nếu thế kỷ XIX là “Thế kỷ Anh”, thế kỷ XX là “Thế kỷ Mỹ” thì Châu Á sẽ là tâm điểm của Thế kỷ XXI. Các đô thị Châu Á đang phát triển về lượng và chất với tốc độ chưa từng có. Ngày nay, phần lớn các công ty thiết kế và các công ty xây dựng quan trọng tại Âu Tây đều mong muốn có cơ hội tham gia vào thị trường thiết kế và xây dựng tại Châu Á.

Theo Lewis (2007), vào năm 1900, TP London, với 6.5 triệu dân đã đứng đầu danh sách 10 TP lớn nhất thế giới trong khi Tokyo (1,5 triệu dân) là TP duy nhất của Châu Á có mặt trong danh sách này. Nhưng từ năm 2005, Tokyo (35,2 triệu dân) đã tiếp quản vị trí đứng đầu, và cùng với sáu TP châu Á khác đã chiếm vị trí trong danh mục 10 đô thị đông dân hàng đầu thế giới.
Sự thay đổi mau chóng diện mạo của các đô thị Châu Á trong thế kỷ XXI với tiềm năng phát triển cao đem lại nhiều cơ hội mới cho sáng tạo, nơi mà dường như mọi tìm tòi khai phá về các thể loại đô thị tương lai đều được khuyến khích thử nghiệm.
thế giới – một danh hiệu có lẽ sẽ duy trì ít nhất đến năm 2015 (Lewis 2007, Ảnh của Vladimir Zakharov)

Điều này tiềm ẩn nhiều cơ hội lớn, cũng như nhiều thách thức lớn cho các KTS và nhà quy hoạch tại các nước Châu Á (bao gồm các nước thành viên tại tổ chức Arcasia) Để vượt qua những thách thức này, họ cần cùng nhau góp sức bổ sung cho sự thiếu sót về nghiên cứu quy hoạch – kiến trúc Á Châu, cũng như kết nối việc nghiên cứu lý thuyết với áp dụng trong thực tiễn một cách hữu hiệu hơn. Trong tình hình đa số các nghiên cứu quan trọng về quy hoạch kiến trúc cho đến ngày nay phần lớn tập trung vào việc giải quyết các vấn đề của đô thị phương Tây hoặc đô thị phương Đông dưới góc nhìn Âu tây, người ta đang đứng trước nhu cầu mới rất cấp bách về việc nghiên cứu các đô thị châu Á dưới góc nhìn nội tại của người dân châu Á (McKinnon 2011).

Mục đích của bài viết này là bước đầu xác định các thử thách quan trọng mà đa phần các nhà thiết kế của các thành phố Châu Á sẽ phải đối mặt trong Thế kỷ XX, theo góc nhìn của kinh nghiệm quốc tế áp dụng một cách có chọn lọc vào thực tiễn Châu Á, để chúng ta có thể có tư thế chuẩn bị tốt hơn trước các trách nhiệm lớn lao nói trên.

CÁC THÁCH THỨC TRONG THIẾT KẾ ĐÔ THỊ CHÂU Á THẾ KỶ 21

Qua 25 năm kinh nghiệm thiết kế và giảng dạy tại các nước vành đai Thái Bình Dương (bao gồm phần lớn các nước châu Á giáp Thái Bình Dương, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, và Mễ Tây Cơ), người viết ghi nhận được 10 thử thách chính trong thiết kế kiến trúc và thiết kế đô thị Châu Á trong thế kỷ XXI, bao gồm các vấn đề:
1. Đảm bảo tính tương thích mềm dẻo với mọi thay đổi đô thị theo thời gian (Compatibility with changes);
2. Giải quyết các vấn đề thiết kế dưới góc độ liên ngành (Interdisciplinary design approach);
3. Nắm bắt kỹ năng và phương tiện giúp hợp tác làm việc theo nhóm (Teamwork cooperation);
4. Thiết kế với ý thức đảm bảo sự cân bằng Âm – Dương (Yin-Yang balance);
5. Đảm bảo chất lượng sống và làm việc tốt cho dù mật độ xây dựng cao (Density quality);
6. Bảo vệ môi trường sống trước mọi tác động thiên nhiên hoặc nhân tạo (Environment protection),
7. Hướng dẫn phát triển các dự án dưới sự chỉ đạo của chiến lược phát triển và tái phát triển phù hợp (Strategy of development and redevelopment),
8. Bảo tồn và nâng cao bản sắc quy hoạch kiến trúc và sinh hoạt đặc thù của từng địa phương (Identity of places and activities) ;
9. Chia sẻ các lợi ích công cộng cho người dân một cách công bằng (Gain sharing),
10. Khuyến khích việc phát triển các dự án bằng những động lực tự nhiên (Natural motivation).
Trong số các thử thách nói trên, ngoài một vài thử thách mang tính toàn cầu (chung cho đô thị Âu Mỹ và đô thị Á Châu), các thử thách khác mang tính đặc trưng cho đô thị Á Châu, hoặc mang  ý nghĩa đòi hỏi cách tiếp cận giải quyết vấn đề khác với cách thức đang được áp dụng tại các đô thị Âu Mỹ.

(1) Đảm bảo tính tương thích mềm dẻo với mọi thay đổi đô thị theo thời gian (Compatibility with changes)
Tính tương thích có nghĩa “khả năng tồn tại hài hòa cùng nhau” (Merriam-Webster 2008) – sự hài hòa này phải được tạo ra và duy trì trong một thế giới nhiều biến động – như châu Á ngày nay. Kriken (2010) đề xuất là tính tương thích phải được xem xét cùng với các vấn đề liên quan đến sự hài hòa và sự cân bằng, đến việc bảo vệ di sản trong khi tạo ra bản sắc mới, đến việc duy trì cảnh quan tự nhiên, và đến việc đem lại sức sống cho công trình và khu phố.
Điều quan trọng của việc thiết kế và quản lý các thành phố là nhìn nó trong viễn cảnh đang và sẽ phát triển, thay đổi không ngừng. Bởi vì nếu người ta chỉ nhìn mục tiêu thiết kế trong tương lai ngắn hạn, thì chất lượng sống và làm việc đang được thiết kế và xây dựng sẽ không thể duy trì trong một khoảng thời gian lâu dài, khi ngày càng có nhiều người mới di cư đến và nhiều người chuyển đi nơi sống nơi khác, các thành phố ngày càng có mật độ dân số và xây dựng đông đúc hơn, và các nhu cầu sống và làm việc ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn.
Thế giới luôn đổi thay này cũng bị ảnh hưởng khi cư dân thành phố trở nên già đi. Nhiều thành phố phát triển của Châu Á, ví dụ tại Nhật Bản, đã và đang phải đối mặt với vấn đề đa số người dân có tuổi ngày càng cao, đặc biệt là khi cư dân có được sự chăm sóc sức khỏe tốt hơn, gia đình có quy mô nhỏ hơn vì sự bận rộn nhiều hơn dành cho cơ hội thăng tiến trong công việc. Tương ứng với thay đổi này, đô thị của các thành phố “già” này sẽ cần thêm nhiều bệnh viện và nhà dưỡng lão hơn. Nhu cầu nhà ở có quy mô nhỏ với vườn trở nên nhiều hơn trước.

(2) Giải quyết các vấn đề thiết kế dưới góc độ liên ngành (Interdisciplinary design approach)
Giải quyết dưới góc độ liên ngành nghĩa là giải quyết một vấn đề trên cơ sở nghiên cứu từ góc độ nhiều ngành khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau. Ví dụ như giải quyết các vấn đề thiết kế đô thị trên cơ sở nghiên cứu các ngành thiết kế đô thị, kiến trúc, cảnh quan, xã hội học, kinh tế chính trị, kỹ thuật xây dựng, môi trường, giao thông, và quản lý.
Trước đây, trường phái kiến trúc mỹ học (Beaux-arts) cho rằng việc nắm vững các nguyên tắc thiết kế kiến trúc và thiết kế đô thị trên cơ sở mỹ học là điều kiện cần và đủ cho việc thiết kế dự án quy hoạch kiến trúc. Nhưng ngày nay, cách thiết kế đó đã trở nên lạc hậu. Nhà quy hoạch kiến trúc không thể thiết kế theo cách chủ quan như trước, mà buộc phải cộng tác với các chuyên gia đa ngành để tạo ra các quần thể quy hoạch kiến trúc thật sự có giá trị và đáp ứng với nhu cầu đa dạng của xã hội. Thiết kế ngày nay phải đi đôi với nghiên cứu khoa học, với sự hiểu biết sâu sắc về địa điểm xây dựng, phong tục địa phương, tình hình kinh tế xã hội, lịch sử và địa lý và các vấn đề kinh tế kỹ thuật xây dựng.
Hơn nữa, các chuyên gia quy hoạch kiến trúc cần phải hiểu sâu sắc về sự khác biệt rất lớn giữa phương pháp thiết kế theo chủ quan (dựa trên ý kiến cá nhân và cảm tính về những gì nên được thiết kế) với phương pháp thiết kế theo khách quan (dựa trên nghiên cứu khoa học trước khi lựa chọn giải pháp thiết kế khả thi và tốt nhất), trong đó người thiết kế cần trả lời được các câu hỏi “Cái gì?” và “Vì sao?”, cần tìm hiểu kỹ càng vấn đề trước khi bắt đầu thiết kế (Moudon 2003).
Thói quen thiết kế dưới góc độ liên ngành chưa phổ biến nhiều tại Á Châu như tại các nước Âu Mỹ, vì việc đào tạo kiến trúc sư và nhà quản lý đô thị tại nhiều nước Á Châu chưa được khuyến khích phát triển trên nền tảng đào tạo nghiên cứu liên ngành. Ở các nước phát triển, trường kiến trúc – quy hoạch thường nằm trong các làng đại học quy mô, trong đó sinh viên được yêu cầu chủ động tìm tòi học hỏi với các giáo sư và chuyên gia thuộc ngành khác có liên quan, cũng như cùng làm việc nhóm với các sinh viên của phân khoa khác. Nhờ vậy, sau khi tốt nghiệp, họ dễ dàng hội nhập với yêu cầu thực tế cần phải cộng tác với các chuyên gia ngành khác trong việc thực hiện đồ án thiết kế.
Có rất nhiều cách để tiếp cận việc dạy liên ngành trong quy hoạch và kiến trúc – có thể là trong mối liên kết với việc giảng dạy các bộ môn nghệ thuật (như tại Viện kiến trúc Nam California, trường cao đẳng Mỹ thuật quốc gia tại Pháp), hoặc với công nghệ kỹ thuật mới (Trường kiến trúc AA tại Luân Đôn), hoặc với ngành thiết kế môi trường (Đại học California tại Berkeley), hoặc với ngành chính sách quản lý công (Đại học Nam California, Đại học California tại Los Angeles), hoặc với ngành kiến trúc cảnh quan (Đại học California tại Davis), hoặc với ngành nghiên cứu bảo tồn (Đại học Cornell). Quyết định kết hợp việc dạy quy hoạch kiến trúc liên kết với ngành khác thường dựa vào các nhu cầu thực tế của địa phương, hoặc dựa vào các đặc trưng của đô thị xung quanh trường đại học mà các giáo sư có thể sử dụng như các thực tế trực quan phục vụ việc giảng dạy, nhằm giúp sinh viên gắn liền nghiên cứu với thực hành tại chỗ.

(3) Nắm bắt các kỹ năng và phương tiện giúp hợp tác làm việc theo nhóm (Teamwork cooperation)
Làm việc theo nhóm có nghĩa là thực hiện “một công việc với sự cộng tác của nhiều người, trong đó mỗi người làm phần việc của mình, nhưng tất cả các công việc đó đều mang tính chất hỗ trợ nhau, để cùng đạt đến một hiệu quả chung nhất” (Merriam-Webster 2008). Làm việc theo nhóm cũng có thể là một sự hợp tác quốc tế, hoặc một sự hợp tác giữa các bộ môn trong một tổng công ty lớn. Làm việc theo nhóm có hiệu quả nhất khi các thành viên của nhóm nắm vững các kỹ năng giao tiếp(1) tốt và các kỹ năng sử dụng tốt sự hỗ trợ của công nghệ tiên tiến cho công việc chung.
Trong thế giới thông tin toàn cầu ngày nay, việc một dự án tại Châu Á có sự tham gia của các chuyên gia từ các quốc gia của những lục địa khác không còn là điều mới lạ. Ví dụ một dự án có thể có thiết kế quy hoạch thực hiện bởi một công ty của Mỹ, thiết kế phong cảnh thực hiện bởi một công ty Pháp, thiết kế khai triển kỹ thuật thực hiện bởi một công ty địa phương ở Việt Nam, và công việc xây dựng được thực hiện bởi các công nhân Việt Nam và Trung Quốc, nhưng được quản lý bởi một công ty Hàn Quốc. Do đó, điều quan trọng là những người tham gia dự án phải có kỹ năng giao tiếp quốc tế, hiểu rằng người của các quốc gia hoặc địa phương khác nhau có thể hành xử khác nhau, và có cách diễn đạt suy nghĩ của mình theo cách khác nhau, cho dù nói đến cùng một vấn đề giống nhau. Việc nắm bắt các kỹ năng và phương tiện giúp hợp tác làm việc theo nhóm đặc biệt quan trọng tại Á Châu và là một thử thách lớn cho việc thay đổi cách tư duy công việc, khi mà đa số người Á Châu thường thiên về xu hướng làm việc độc lập, và dựa trên quyết định cá nhân của các nhà lãnh đạo.

Trong kỷ nguyên thông tin, kỹ năng sử dụng công nghệ hỗ trợ trong giao tiếp và làm việc nhóm là rất cần thiết. Ví dụ phần mềm GIS (Geographic Information System – Hệ thống thông tin địa lý), Google map được liên kết tới Sketchup, hoặc các phương tiện giúp hội họp trực tuyến qua internet, giúp cho giao tiếp quốc tế trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn bao giờ hết. Khi sử dụng tốt các công cụ này, tại Việt Nam sẽ không còn tình trạng đào đắp đường thiếu tổ chức để nâng cấp cơ sở hạ tầng một cách lãng phí như hiện nay. Để việc sử dụng các hỗ trợ về công nghệ này đạt được hiệu quả cao nhất, trước hết người ta phải thiết lập các tiêu chuẩn thống nhất về giao tiếp và quản lý cho tất cả những người tham gia.

Mặt khác, khi không thực sự cần thiết phải tiếp cận bằng công nghệ cao thì phương pháp tiếp cận công nghệ thấp nên được khuyến khích. Ví dụ, giao tiếp trực tiếp thông qua một cuộc họp mặt đối mặt thì thường vẫn có hiệu quả cao hơn so với một cuộc họp trên internet.
(4) Thiết kế với ý thức đảm bảo sự cân bằng Âm – Dương (Yin-Yang balance)
Sự cân bằng Âm – Dương là một yếu tố quan trọng của triết lý Á Đông. Âm-Dương cũng có thể được coi là hai yếu tố không thể tách rời – có âm trong dương và dương trong âm. Âm và dương là hai sức mạnh có tính bổ sung lẫn nhau, giúp hình thành nên tất cả các khía cạnh và hiện tượng của cuộc sống. Âm được biểu hiện qua nền đất, nữ tính, bóng tối, thụ động, và sự hấp thu. Âm còn được biểu hiện bằng các số chẵn, bằng hình ảnh thung lũng và dòng suối. Dương được biểu hiện qua bầu trời, nam tính, ánh sáng, chủ động, và sự xuyên suốt. Dương còn được biểu hiện bằng các số lẻ, bằng hình ảnh núi non (Từ điển bách khoa Britannica 2011).
Trong văn hóa Châu Á, việc hiểu được khái niệm Âm-Dương và sự cân bằng Âm-Dương trong tất cả các mặt của cuộc sống là điều rất quan trọng. Theo đó, việc đảm bảo cân bằng âm dương trong quy hoạch giúp tạo nên sự cân bằng về chất lượng sống và làm việc cho cư dân thành phố. Nhờ đó, các nơi chốn trở nên đa dạng hơn, đáp ứng được nhu cầu của các lứa tuổi, giới tính, tầng lớp xã hội và tôn giáo khác nhau. Như thế, chúng ta sẽ có những khu vực yên tĩnh cân bằng đối trọng với các khu vực náo nhiệt, các khu bảo tồn lịch sử đối trọng với các khu xây dựng hiện đại, các khu tôn giáo tâm linh đối trọng với khu vui chơi giải trí, hoặc khu vực không gian riêng tư đối trọng với khu vực công cộng… Tất cả các không gian quy hoạch kiến trúc với tính chất đối trọng đó đều cần thiết cho nhu cầu sống thay đổi đa dạng của người dân, và sự phát triển con người đô thị theo từng lứa tuổi.
Việc phát triển quá thiên về dương hoặc về âm sẽ tạo nên mất cân bằng trong cuộc sống người dân, và làm mất ý nghĩa của một thành phố sống tốt. Jacobs (1961) tin rằng một thành phố sống tốt cần phải cung cấp được sự đa dạng trong cuộc sống, bao gồm các loại nhà khác nhau, các khu cư trú khác nhau, các dịch vụ khác nhau, và số lượng người sử dụng thay đổi khác nhau tại cùng một khu vực trong các thời điểm khác nhau.
Triết lý âm-dương có thể gợi ý cho các nhà quy hoạch và KTS Châu Á cách tiếp cận và giải quyết thiết kế khác với thông lệ. Ví dụ, việc quy hoạch thiết kế đô thị không nhất thiết phải luôn luôn bắt đầu từ nghiên cứu giao thông và các tòa nhà, mà có thể được bắt đầu từ việc xác định không gian xanh trước, như là nơi để giao tiếp xã hội, nơi bồi bổ sức khỏe, nơi mà không gian đô thị không nhất thiết phải được bắt đầu định hình từ công trình, mà từ hệ thống cây xanh mặt nước.
(5) Đảm bảo Chất lượng sống và làm việc tốt cho dù Mật độ xây dựng cao (Density quality)
Khi giải quyết vấn đề mật độ xây dựng ở Châu Á, chúng ta cần nhớ rằng các thành phố ở Châu Á có mật độ dân số và mật độ xây dựng rất khác nhau, đôi khi đến mức cực đại, ví dụ như Tokyo – một thành phố lớn thế giới với 34,2 triệu người. Câu hỏi đặt ra là: làm cách nào để dù mật độ xây dựng cao hay thấp, thì đô thị vẫn cung cấp cho con người điều kiện sống và làm việc với chất lượng cao?

Do dân số tiếp tục tăng trưởng không ngừng, sự gia tăng dần dần mật độ xây dựng của các khu đô thị sẽ trở thành một xu thế phổ biến tại Châu Á trong thế kỷ XXI. Sẽ có ngày càng nhiều người di cư đến các thành phố từ các khu vực xa xôi để tìm kiếm các cơ hội công ăn việc làm. Khi đó các thách thức thật sự cho các nhà chuyên môn là làm sao tận dụng các ưu thế của mật độ dân số cao (ví dụ giúp đảm bảo lượng người sử dụng cần thiết để nuôi sống bộ máy vận chuyển công cộng và phát triển quy mô cũng như chất lượng của các dịch vụ đô thị), trong khi vẫn duy trì chất lượng cuộc sống mà mật độ thấp thường dễ dàng đáp ứng (ví dụ như môi trường thiên nhiên, sự yên tĩnh, và không khí sạch).

Khi các nhà quy hoạch phương Tây thiết kế các thành phố Châu Á, họ cần hiểu rằng cảm nhận cá nhân về mật độ là rất khác nhau từ phương Đông tới phương Tây. Cho dù người phương Đông dường như cam chịu các sự bất tiện của cuộc sống chen chúc mật độ cao tốt hơn so với người phương Tây, các nhà thiết kế vẫn nên quan tâm làm cho cuộc sống trong không gian có mật độ cao dễ chịu hơn. Ví dụ, khi bổ sung thêm nhiều không gian xanh hơn thì người ta có thể tạo ra một cảm giác cho người quan sát là mật độ xây dựng thấp hơn thực tế, theo một nghiên cứu của Rappoport (1975).

Trong khi các nhà quy hoạch phương Tây thường cổ vũ cho các thiết kế khuyến khích thu hút người ta đi bộ ngoài đường nhiều hơn để nâng cao tính năng động và sức sống đô thị tại nơi công cộng, thì ở Châu Á, vấn đề quan tâm có khi là ngược lại, vì các kiến trúc sư thường phải giải quyết vấn đề người quá đông đúc và vấn đề ách tắc giao thông tại nơi công cộng.

(6) Bảo vệ môi trường sống trước mọi tác động thiên nhiên hoặc nhân tạo (Environment protection)
Bảo vệ Môi trường trước các tác động nhân tạo thường được xem trọng tại đô thị, vì thành phố thường không được coi là những môi trường lành mạnh cho con người so với vùng quê, vì đó là nơi tập trung của vấn đề ô nhiễm, ách tắc giao thông, rác thải, và các vấn đề xã hội khác. Tuy vậy, với tầm nhìn và kế hoạch tốt, cơ hội tạo ra một môi trường sống và làm việc trong sạch vẫn có thể thực hiện được (Kriken 2010). việc sử dụng năng lượng nguyên tử, việc xây dựng các công trình công nghiệp, và việc khai thác khoáng sản và thủy điện cũng là các tác nhân nhân tạo có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến tính bền vững của môi trường sống đô thị, do đó cần nghĩ đến các biện pháp an toàn phòng ngừa trước khi cho phép xây dựng.

Bảo vệ Môi trường trước các tác động thiên nhiên cũng rất quan trọng. Trong những thập kỷ gần đây, các vấn đề về biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng là những vấn đề được quan tâm nhiều nhất. Trong một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2007), nhiều thành phố Á Châu, đặc biệt là các thành phố ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang bị đe dọa nghiêm trọng nếu mực nước biển dâng. Do đó các nhà quản lý phải tìm kiếm các giải pháp để các thành phố của chúng ta được chuẩn bị đầy đủ để ứng phó với các tình huống tệ nhất có thể xảy ra trong tương lai. Tại Việt Nam, việc thảo luận về việc có nên xây dựng một hệ thống đê điều dài có đường bao quanh dọc theo biển để bảo vệ Đồng bằng sông Cửu Long, hay nên tìm kiếm giải pháp quy hoạch cho phép các thành phố sống chung với nguy cơ mực nước biển dâng vẫn chưa có kết luận cụ thể. Việc chọn lựa vị trí và cách thiết kế kiến trúc thành phố cho những khu vực thường bị đe dọa bởi sóng thần cũng rất quan trọng.

Quy hoạch và kiến trúc bền vững là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quy hoạch và kiến trúc sư trên toàn thế giới kể từ cuối thế kỷ 20. Hệ thống xếp hạng công trình xanh được xem như là một công cụ quan trọng để cung cấp giải pháp chuẩn và có tính khoa học cho phát triển xanh. Tuy vậy, Ken Yeang và Arthur Spector (2011) khuyên chúng ta nên nhìn xa hơn các hệ thống xếp hạng công trình xanh hiện có để thấy rõ bức tranh tổng thể về thiết kế bền vững.

Các nước Châu Á cần xây dựng cho mình các hệ thống xếp hạng quy hoạch và công trình xanh riêng, vì các hệ thống của Phương Tây, như LEED (Hoa Kỳ) hoặc BREEAM (Vương Quốc Anh) nhiều khi không thực tế, hoặc không phát huy được tác dụng trong điều kiện thực tế của Châu Á. Chẳng hạn, một cao ốc bọc kính có thể đạt xếp hạng cao nhất–hạng bạch kim– trong hệ thống phương tây, nhờ khả năng tiết kiệm năng lượng thông qua thiết kế và các thiết bị đặc biệt, nhưng lại không thể được coi là xanh ở các đô thị nóng bức tại Châu Á, vì nó phản xạ tia nắng nóng gây ảnh hưỡng xấu đến môi trường sống của khu vực xung quanh nó.

Bên cạnh đó, việc theo dõi tác động môi trường cũng rất quan trọng, vì lợi ích thu được từ quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Châu Á có khi không đủ đề bù lại chi phí trang trải để xử lý những tác động có hại của môi trường xấu lên sức khỏe của các cư dân, lên các hệ sinh thái, và lên các nguồn nước uống và không khí sạch. Do đó, các nhà quản lý cần theo dõi vấn đề tác động môi trường của các dự án xây dựng lớn ngay từ giai đoạn đầu tiên của các nghiên cứu tiền khả thi của một dự án cho đến giai đoạn xây dựng và đưa vào sử dụng, để có biện pháp xử lý phù hợp và đúng lúc.
(7) Hướng dẫn phát triển các dự án dưới sự chỉ đạo của Chiến lược phát triển và tái phát triển phù hợp (Strategy of development and redevelopment)
Chiến lược nghĩa là “nghệ thuật xây dựng và thi hành các kế hoạch để đạt mục tiêu định trước” (Merriam-Webster 2008). Các thành phố Á Châu cần phát triển theo một chiến lược hiệu quả. Nếu không, việc phát triển có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát và trở nên hỗn độn. Các đô thị tại Châu Á đang được bành trướng rất nhanh,cho nên một bản thiết kế quy hoạch đô thị tốt thôi vẫn chưa đủ, mà cần phải có thêm các kế hoạch thực hiện và biện pháp quản lý, được chỉ đạo bởi một “Chỉ huy trưởng Giàn nhạc Giao Hưởng”, theo một chiến lược phát triển và tái phát triển rõ ràng để đảm bảo rằng việc mở rộng đô thị tuân theo một định hướng phù hợp nhất cho phát triển, nhờ đó cuộc sống đô thị không những ngày càng tốt lên, mà nền kinh tế của đô thị đó ngày càng trù phú hơn.

Các cơ quan quản lý về quy hoạch và kiến trúc các thành phố trước hết phải nắm được những yếu tố góp phần hình thành nên hình mẫu thành phố sống tốt. Lynch (1981) đề xuất rằng có thể đánh giá thành phố sống tốt qua năm thành phần cơ bản (khả năng tồn tại lâu dài và tạo nên sức sống đô thị, bản sắc đô thị, sự phù hợp về chức năng sử dụng, giải pháp giao thông, và việc quản lý đô thị) và hai thành phần bổ sung (hiệu quả và sự công bằng trong đô thị). Việc tham khảo nghiên cứu về các vấn đề đô thị của thế kỷ 21 theo những quan điểm vĩ mô và dự báo tương lai trong tác phẩm Urban 21 (Đô thị 21) của Peter Hall (2000) cũng rất hữu ích cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển đô thị.

(8) Bảo tồn và nâng cao bản sắc quy hoạch kiến trúc và sinh hoạt đặc thù của từng địa phương (Identity of places and activities)
Bản sắc là các giá trị đem lại sự khác biệt và độc đáo của một thành phố hoặc một địa điểm. Khi bàn về bản sắc, người ta thường bàn về vấn đề bảo tồn di sản kiến trúc, văn hóa vùng miền, và phong tục của địa phương. Trong lịch sử phát triển đô thị, mâu thuẫn giữa hai vấn đề bảo tồn và phát triển thường xảy ra, nhưng ở Châu Á, dường như người ta thường hy sinh vấn đề bảo tồn, để ưu tiên hơn cho việc phát triển đô thị, mặc kệ các cuộc thảo luận và cảnh báo của các nhà trí thức và chuyên môn về mối đe dọa của việc mất đi những ký ức đô thị.

Một trong những lý do chính của việc các chủ sở hữu và nhà đầu tư thường không quan tâm đến việc bảo tồn, đó là họ tin rằng các tòa nhà cũ, cho dù có nhiều giá trị về mặt xã hội và lịch sử, vẫn không thể tạo ra thu nhập cao như các tòa nhà hiện đại cao tầng. Quan niệm này không phái lúc nào cũng đúng. Sự thành công to lớn của những khu vực phố lịch sử được bảo tồn và trùng tu tại Xintiandi (Thượng Hải) và những khu nhà phố lịch sử được bảo tồn dọc theo bờ sông tại Singapore như những điểm đến quan trọng cho khách du lịch quốc tế, chính là những bằng chứng sống cho thấy các biện pháp bảo tồn phù hợp vẫn có thể đem lại những thành công lớn về kinh tế.

Một trong những cách tốt nhất để gìn giữ bản sắc của địa phương trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, đó là việc gìn giữ tính đa dạng và chất lượng sống, và việc đem lại cho người dân nhiều khả năng lựa chọn khác nhau trong mọi khía cạnh của cuộc sống (Ngô Viết 1997). Việc nghiên cứu các nhóm người với thu nhập, giới tính, tuổi tác, và nghề nghiệp khác nhau là rất quan trọng để đảm bảo rằng mọi nhu cầu của họ đều được quan tâm và phục vụ. Xây dựng thành phố phải lấy con người là trung tâm. Sassen (2001) nhận định rằng các thành phố toàn cầu là những nơi mà con người từ mọi nơi trên thế giới tập trung lại, họ đem theo sự da dạng về văn hóa đến nơi ở mới. Chính vì thế, tính quốc tế của các thành phố toàn cầu bao gồm không chỉ là các cơ sở hạ tầng viễn thông và các doanh nghiệp quốc tế, mà còn là các khu vực giao lưu văn hóa quốc tế.


(9) Chia sẻ các lợi ích công cộng cho người dân một cách công bằng (Gain sharing)
Trong một thành phố, việc phân bố những lợi ích vật chất và phi vật chất cho người dân của thành phố một cách công bằng là điều rất quan trọng, đặc biệt là trong một đất nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam.

Nhiều thành phố đang phát triển của Châu Á đang bị đe dọa bởi xu hướng thương mại hóa trong quy hoạch kiến trúc đô thị, trong đó dường như mọi giá trị lịch sử, văn hóa đều phải nhường chỗ cho giá trị thương mại, thu lợi bằng mọi giá, phục vụ cho lợi ích riêng của một số nhóm người có quyền lực. Khi đó, các công trình lịch sử có giá trị ở các khu trung tâm có thể dễ dàng bị phá bỏ để xây dựng các tháp cao tầng hiện đại, cảnh quan đô thị có thể bị che khuất bởi các bảng quảng cáo, và các trường học bị di dời để nhường chỗ cho việc xây dựng các trung tâm thương mại mới.
Điều đó thực sự là thách thức cho các quan chức thành phố và các chuyên gia trong việc tránh xu hướng thương mại hóa đô thị để phát triển các thành phố dựa trên động lực tạo ra thu nhập cao bằng mọi giá, và khuyến khích xu hướng đa dạng hóa nhằm phục vụ những nhu cầu khác nhau của mọi người dân, trong đó có nhu cầu phát triển ngày càng cao của không gian xanh, của các cơ sở vật chất xã hội, của các những công trình công cộng hữu ích, và nhu cầu bảo tồn những công trình văn hóa lịch sử.

(10) Khuyến khích việc phát triển các dự án bằng những động lực Tự nhiên (Natural motivation).

Việc khuyến khích phát triển các dự án bằng những động lực tự nhiên là chìa khóa để phát triển các dự án đô thị trong đó nhà nước và tư nhân cùng hợp tác (Public Private Partnership). Điều này giúp thu hút vốn và tiềm lực về người cũng như về tri thức của người dân trong việc cùng tham gia phát triển đất nước.
Khi quản lý hoạt động của một thành phố, các quan chức thường phải đối mặt với vấn đề nên đặt ra nhiều luật lệ khắt khe, hay là nên giáo dục và khuyến khích người dân hành xử phù hợp với cuộc sống văn minh và tôn trọng người khác. Chẳng hạn, để tạo ra và duy trì thành phố xanh và sạch, thì nên áp dụng những hình thức xử phạt nặng như Singapore, hay áp dụng việc giáo dục người dân để đạt hiệu quả tương đương như tại Tokyo và tại Seattle?

Xét về mặt động lực tự nhiên, việc thay đổi hệ thống quản lý kinh tế chính trị của một nước có thể có nhiều ý nghĩa và ảnh hưởng đến quá trình phát triển đô thị của nước đó. Chẳng hạn, trong một hệ thống kinh tế tập trung do nhà nước quản lý, tất cả những quyết định chính đều do chính phủ trung ương đưa ra, từ lập kế hoạch đến hỗ trợ tài chính, và đến việc quản lý các thành phố. Các dự án quy hoạch thường được lập và hỗ trợ tài chính bởi khu vực kinh tế nhà nước. Người dân thường là người thụ hưởng thành quả đó chứ ít tham gia vào quá trình phát triển.
Ngược lại, trong hệ thống kinh tế thị trường, Chính phủ trung ương thường chỉ tạo ra những khung pháp lý chính cho các quá trình phát triển, như kế hoạch và các quy hoạch sử dụng đất, và để cho các nhà đầu tư tư nhân chủ động thiết lập, xây dựng, và quản lý các dự án đô thị của họ.
Khi đất nước thay đổi từ hệ thống kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, thì điều quan trọng là cả hệ thống quản lý của đất nước đồng thời cũng phải thay đổi theo. Nếu không, sự bất tương xứng giữa việc quản lý hệ thống theo tư duy cũ và thực tế nhu cầu phải đổi mới quản lý của hệ thống mới để thu hút đầu tư tư nhân sẽ gây khó khăn cho phát triển đô thị và phát triển kinh tế.

KẾT LUẬN
Thế kỷ Á Châu vừa chỉ mới bắt đầu một phần mười của cuộc hành trình dài 100 năm của nó. Điều chắc chắn là danh sách những thử thách đặt ra đối với các nhà quản lý và các nhà quy hoạch kiến trúc của các thành phố Á Châu sẽ tiếp tục dài thêm và phức tạp hơn.
Bài viết này xác định những thử thách chung cho vài thập niên sắp tới cho các thành phố Á Châu trong thời đại toàn cầu hóa và thông tin, dựa trên kinh nghiệm làm việc quốc tế và nghiên cứu khoa học của người viết. Tuy nhiên, việc cố gắng khái quát hóa các giải pháp chung nhất cho những thách thức này lại là điều không thực tế, vì mỗi đô thị tại mỗi nước đều có những yếu tố địa phương đặc thù, do đó cần có cách tiếp cận vấn đề khác nhau và cách giải quyết khác nhau. Tiếp theo bài viết này, chúng ta nên khai thác một loạt bài nghiên cứu cách giải quyết vấn đề tại các thành phố khác nhau trên thế giới để chọn lọc ra các kinh nghiệm phù hợp cho điều kiện Việt Nam.
Các nhà quy hoạch và kiến trúc sư phương tây cần chú ý tìm hiểu được các vấn đề của các thành phố Châu Á theo quan điểm của người Châu Á trước khi họ thiết kế, chứ không nên máy móc áp đặt các giá trị quy hoạch kiến trúc phương tây lên đô thị phương đông. Kinh nghiệm cho thấy các nhà thiết kế phương tây cần trung bình 5 năm kinh nghiệm tại châu Á để hiểu khái quát về con người, phong tục tập quán, và nhu cầu sống và làm việc của người đô thị châu Á.
Ngược lại, các nhà chuyên môn về quy hoạch kiến trúc tại châu Á cũng nên tìm đọc và suy ngẫm các nghiên cứu đô thị của phương tây để thu thập kinh nghiệm một cách chọn lọc và tìm được những gợi ý bổ ích trên con đường tìm giải pháp cho đô thị của mình./.

TS.KTS. Ngô Viết Nam Sơn