Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn quan tâm đến chất lượng và công tác quản lý quy hoạch đô thị

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2006-2015, Định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt, trong đó xác định rõ: Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ trở thành Tỉnh Công nghiệp, mạnh về kinh tế biển, với hệ thống thương cảng quốc gia và quốc tế, là một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch, hải sản của khu vực và của cả nước; nâng cao rõ rệt mức sống nhân dân; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh…

Ông Nguyễn Tuấn Minh – Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu đã dành thời gian trao đổi với phóng viên Tạp chí Kiến trúc xung quanh chủ đề này.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Phóng viên (P/V): Xin Ông cho biết, cho đến nay, công tác quy hoạch xây dựng Bà Rịa – Vũng Tàu (BR -VT) đã đạt được những thành tựu gì nhằm triển khai Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2006 – 2015, định hướng đến năm 2020.
Ông Nguyễn Tuấn Minh:  Nhằm mục tiêu xây dựng Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành tỉnh công nghiệp mạnh về kinh tế biển, ngay từ năm 1991-1992, tỉnh BR-VT đã được Chính phủ chỉ đạo triển khai công tác quy hoạch xây dựng nói chung và quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển nói riêng. Theo đó, tỉnh đã tập trung công tác quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn để chuẩn bị đủ cơ sở pháp lý và quỹ đất cho việc phát triển đô thị, các khu chức năng và hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các khu dịch vụ, khu đô thị, công nghiệp,… phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội và phát triển đô thị của địa phương.
Cho đến nay, Quy hoạch vùng tỉnh đến năm 2025 đã được phê duyệt. Trên địa bàn có 09 đô thị, trong đó thành phố Vũng Tàu là đô thị loại 2, thành phố Bà Rịa là đô thị loại 3, có 07 thị trấn là đô thị loại 5 (Phú Mỹ, Long Điền, Ngãi Giao, Phước Bửu, Long Hải, Đất Đỏ, Phước Hải – trong đó thị trấn Phú Mỹ đang là trung tâm hình thành đô thị mới Phú Mỹ). Ngoài ra, BR-VT còn có huyện đảo Côn Đảo, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng. Tính đến tháng 12/2011 đã có tổng số 503 đồ án quy hoạch xây dựng được lập, phê duyệt và phê duyệt điều chỉnh, trong đó có: 01 đồ án quy hoạch vùng tỉnh, 12 đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị với quy mô 37.685 ha, 71 đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 các khu trung tâm đô thị, khu dân cư, du lịch, công nghiệp,… đã được lập và phê duyệt với tổng diện tích khoảng 18.300 ha, đạt 48% diện tích các quy hoạch chung; 419 quy hoạch chi tiết các loại,với tổng diện tích khoảng 7.600 ha, đạt 41% trên tổng diện tích quy hoạch chi tiết 1/2000 được duyệt. Ngoài ra, còn có 37 đồ án quy hoạch điểm dân cư nông thôn đã được duyệt với quy mô diện tích khoảng 4.870 ha.


Song song với quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn, Tỉnh cũng đã chỉ đạo tổ chức triển khai quy hoạch phát triển hệ thống cảng trên địa bàn. Theo đó, cụm cảng Bà Rịa – Vũng Tàu là Cảng tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế, gồm các Khu bến chức năng: Khu bến Phú Mỹ, Mỹ Xuân; Khu bến Cái Mép, Sao Mai – Bến Đình; Khu bến Long Sơn; Khu bến Vũng Tàu – sông Dinh. Trong đó, Khu bến cảng Phú Mỹ, Cái Mép và Sao Mai – Bến Đình có khả năng đảm nhận vai trò trung chuyển quốc tế nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi của sông Thị Vải và điều kiện nguồn hàng lớn của Vùng kinh tế động lực phía Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đối với dịch vụ cảng biển:  Phát triển hệ thống cảng nước sâu, đẩy mạnh phát triển dịch vụ cảng, vận tải biển, dịch vụ hậu cần cảng… là nhiệm vụ trung tâm của phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Điều chỉnh quy hoạch xây dựng hệ thống cảng biển đáp ứng cho tàu 80.000 – 120.000 tấn; đủ khả năng thực hiện vai trò, nhiệm vụ cảng trung chuyển quốc tế, phục vụ cho cả khu vực Miền Đông và Miền Tây Nam Bộ. Phát triển các dịch vụ sau cảng: kho bãi, đóng gói, bốc xếp, vận chuyển,… Quy hoạch đầu tư các bến cảng nhỏ, phát triển các loại hình vận tải container,  phương tiện vận tải chuyên dùng,… để thực hiện các hoạt động trung chuyển hàng hóa tại các cảng nước sâu. Phát triển dịch vụ phục vụ cảng như: hoa tiêu, lai dắt, cung cấp nước ngọt, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, bảo trì, sửa chữa tàu biển. Phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đường sắt, đường bộ để kết nối hệ thống cảng với các địa phương trong Vùng, với sân bay quốc tế Long Thành.

P/V: Với vai trò lãnh đạo, Ông có thể chia sẻ với Tạp chí Kiến trúc những quan điểm về việc xây dựng một đô thị biển sinh thái  – phát triển bền vững, từ đó, cho biết  một số định hướng của Tỉnh ủy nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian tới ?
Ông Nguyễn Tuấn Minh: Theo tôi, một đô thị biển sinh thái – phát triển bền vững là một đô thị được quy hoạch một cách bài bản, khoa học ngay từ ban đầu, hướng tới việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở… để tạo lập môi trường sống chất lượng cho người dân đô thị. Theo đó, chúng ta phải có giải pháp phát triển quy họach đô thị sao cho phù hợp điều kiện tự nhiên, văn hóa, lịch sử của địa phương; vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội  nhưng đảm bảo không tác động tiêu cực đến môi trường cho tương lai. Về không gian, cảnh quan, kiến trúc phải khang trang, sạch đẹp; môi trường sống người dân phải tiện nghi; thể hiện sự văn minh, hiện đại.
Trên tinh thần đó, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh luôn luôn chú trọng đến chất lượng quy hoạch. Thời gian gần đây, những đồ án quy hoạch và công trình kiến trúc có tầm quan trọng như: Điều chỉnh quy hoạch chung Côn Đảo, quy hoạch phân khu Núi Lớn – Núi Nhỏ – Gò Găng, Trung tâm Hành chính Chính trị tỉnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh,…đều được tổ chức thi tuyển quốc tế. Qua đó đã lựa chọn được những đồ án, những phương án thiết kế đảm bảo chất lượng tốt nhất theo yêu cầu.

P/V:  Hội KTS Việt Nam luôn mong muốn song hành cùng Bà Rịa – Vũng Tàu để xây dựng thành công mô hình thành phố xanh, phát triển bền vững. Ông có thể cho biết vai trò của giới KTS đóng góp cho  sự nghiệp  phát triển chung của Tỉnh?
Ông Nguyễn Tuấn Minh: Trước hết, thay mặt lãnh đạo tỉnh, tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Hội KTS Trung ương và địa phương đến sự phát triển quy hoạch, kiến trúc của tỉnh nhà. Trong thời gian qua, tỉnh đã nhận được sự đóng góp công sức, trí tuệ của nhiều đơn vị, cá nhân là KTS trong và ngòai nước – thông qua công tác tư vấn thiết kế, tư vấn phản biện cũng như quản lý Nhà nước. Hội KTS Việt Nam cũng đã phối hợp với Hội KTS địa phương tổ chức các hội thảo chuyên đề, giúp giới nghề có cơ hội giao lưu, học hỏi, tích lũy thêm thông tin, kiến thức chuyên môn; ngòai ra Hội cũng đã cử các chuyên gia là những giáo sư, tiến sĩ đầu ngành về lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc tham gia các hội đồng tuyển chọn phương án dự thi do tỉnh tổ chức. Mong rằng thời gian tới, Hội Kiến trúc sư Việt Nam tiếp tục quan tâm đến tình hình phát triển về quy hoạch, kiến trúc trên địa bàn tỉnh, có tiếng nói và hành động cụ thể, giúp địa phương tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được trong lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị theo tiêu chí xanh và bền vững.

P/V: Trân trọng cảm ơn Ông!

Thanh Hương (thực hiện)