Hạ tầng cảnh quan khu vực nông thôn: Nền tảng cho phát triển sinh thái bền vững

Tóm tắt: Quá trình đô thị hóa và chuyển đổi sử dụng đất đang làm suy giảm nhiều không gian đặc trưng của khu vực nông thôn, trong khi vai trò sinh thái của hạ tầng cảnh quan nông thôn vẫn chưa được quan tâm đầy đủ trong nghiên cứu và thực tiễn quy hoạch. Trên cơ sở lý thuyết hạ tầng cảnh quan, bài viết phân tích vai trò của hệ thống này đối với phát triển sinh thái bền vững. Kết quả cho thấy hạ tầng cảnh quan nông thôn góp phần điều tiết môi trường, duy trì đa dạng sinh học, nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng, đồng thời bảo tồn các giá trị địa phương và hỗ trợ phát triển kinh tế. Từ đó, tác giả cho rằng hạ tầng cảnh quan nông thôn cần được nhìn nhận như một thành phần hạ tầng thiết yếu và được tích hợp vào các định hướng quy hoạch, quản lý và phát triển bền vững.

Từ khóa: Hạ tầng cảnh quan nông thôn; phát triển sinh thái bền vững; hạ tầng sinh thái; quy hoạch nông thôn; dịch vụ hệ sinh thái.

1. Bối cảnh

Trong hơn một thập niên qua, Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã góp phần cải thiện đáng kể hệ thống hạ tầng và điều kiện sống tại khu vực nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với quá trình đô thị hóa và chuyển đổi sử dụng đất, nhiều thành phần đặc trưng của khu vực nông thôn như ruộng đồng, ao hồ, kênh mương, cây xanh và không gian công cộng truyền thống đang dần bị thu hẹp hoặc biến đổi chức năng. Tại Hà Nội, diện tích đất nông nghiệp đã giảm khoảng 11.673 ha trong giai đoạn 2020-2025, phản ánh áp lực chuyển đổi không gian nông thôn ngày càng rõ nét. Sự biến đổi này đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại vai trò sinh thái của khu vực nông thôn trong cấu trúc lãnh thổ, bởi nông thôn không chỉ là không gian sản xuất nông nghiệp, mà còn bao gồm hệ thống mặt nước, không gian mở và các hệ sinh thái tự nhiên, bán tự nhiên.

Từ định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, có thể thấy rõ hơn vai trò này: Bên cạnh chức năng sản xuất và lưu giữ bản sắc văn hóa, các không gian nông thôn còn tham gia điều tiết nước, duy trì đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và góp phần bảo đảm chất lượng môi trường sống cho cả nông thôn lẫn đô thị.

Hình 1: Sông Đáy và không gian nông thôn ven sông tại Hà Nội. Hệ thống mặt nước và thảm thực vật ven sông góp phần điều tiết dòng chảy, duy trì sinh cảnh và hỗ trợ cân bằng sinh thái của lãnh thổ. Nguồn: Tác giả.

Mặc dù khu vực nông thôn đang duy trì nhiều chức năng sinh thái nền tảng của lãnh thổ, vai trò này vẫn chưa được phản ánh đầy đủ trong các nghiên cứu và chiến lược quy hoạch phát triển hiện nay. Trong thực tiễn quy hoạch điểm dân cư nông thôn, các vấn đề hạ tầng kỹ thuật, phát triển kinh tế và bảo tồn bản sắc thường được quan tâm nhiều hơn, trong khi những đóng góp của hệ thống cảnh quan đối với điều tiết môi trường, duy trì đa dạng sinh học và nâng cao khả năng chống chịu của lãnh thổ ít được xem xét một cách tổng thể. Trong bối cảnh đó, khái niệm hạ tầng cảnh quan cung cấp thêm một góc nhìn, cho phép nhận diện cảnh quan như một hệ thống hỗ trợ các quá trình sinh thái thiết yếu đối với phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích vai trò của hạ tầng cảnh quan nông thôn nhằm làm rõ ý nghĩa của hệ thống này đối với phát triển sinh thái bền vững của lãnh thổ.

2. Hạ tầng cảnh quan nông thôn và vai trò đối với phát triển sinh thái bền vững

Các lý thuyết liên quan đến cảnh quan đương đại như Công ước Cảnh quan châu Âu [6], cảnh quan sinh thái,… đã mở rộng cách hiểu về cảnh quan từ đối tượng thẩm mỹ sang một hệ thống tham gia duy trì các quá trình sinh thái. Trên cơ sở đó, Pierre Bélanger phát triển khái niệm hạ tầng cảnh quan (Landscape Infrastructure), nhấn mạnh rằng: Cảnh quan cần được nhìn nhận như một dạng hạ tầng thiết yếu, có khả năng duy trì và điều tiết các quá trình sinh thái thông qua mạng lưới các thành phần tự nhiên và bán tự nhiên. Khác với hạ tầng kỹ thuật truyền thống thường được thiết kế cho những chức năng chuyên biệt, hạ tầng cảnh quan có tính đa chức năng, đồng thời tạo ra các giá trị sinh thái, xã hội, kinh tế và văn hóa trên cùng một không gian.

Từ cách hiểu đó, hạ tầng cảnh quan khu vực nông thôn có thể được xem là mạng lưới các không gian mở, mặt nước, đất nông nghiệp, cây xanh và cấu trúc tự nhiên hoặc bán tự nhiên có khả năng duy trì các chức năng sinh thái thiết yếu của lãnh thổ. Giá trị của hệ thống này không nằm ở từng thành phần riêng lẻ, mà ở khả năng vận hành như một mạng lưới thống nhất: Điều tiết nước, duy trì sinh cảnh, hỗ trợ sinh kế, bảo tồn bản sắc địa phương và nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng trước các biến động môi trường. Chính khả năng duy trì các chức năng sinh thái thông qua một mạng lưới không gian liên kết là cơ sở để hạ tầng cảnh quan nông thôn trở thành nền tảng của phát triển sinh thái bền vững.

Từ góc độ đó, vai trò của hạ tầng cảnh quan nông thôn đối với phát triển sinh thái bền vững có thể được nhận diện qua ba phương diện chính:

Thứ nhất, hạ tầng cảnh quan nông thôn là hạ tầng điều tiết sinh thái. Các hệ thống ruộng đồng, ao hồ, mặt nước và cây xanh góp phần giữ nước mưa, giảm dòng chảy mặt, bổ cập nước ngầm, hạn chế ngập úng, điều hòa nhiệt độ và duy trì đa dạng sinh học. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, những chức năng này có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng chống chịu của lãnh thổ. Tại Hà Nội, khu vực hành lang xanh phía Tây dọc theo sông Tích và sông Đáy vẫn duy trì mạng lưới ruộng đồng, mặt nước và làng xóm truyền thống tương đối liên tục, mật độ sông suối trung bình khoảng 60 km/km² và khoảng 14 hồ, đầm có diện tích từ 50 đến 1.260 ha. Không gian này không chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn hoạt động như vùng đệm sinh thái, góp phần lưu giữ nước, giảm áp lực thoát nước cho các khu vực đô thị hóa nhanh và duy trì kết nối sinh thái giữa vùng núi Ba Vì với đồng bằng. Theo định hướng quy hoạch hành lang xanh trước đây của Hà Nội, khoảng 40% diện tích quỹ đất trong hành lang được dành cho các khu vực bảo tồn nông nghiệp năng suất cao, bảo vệ đa dạng sinh học và di sản văn hóa.

Hình 4. Kênh tưới tiêu kết hợp nuôi trồng thủy sản tại xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai cũ), một thành phần của hạ tầng cảnh quan nông thôn thực hiện đồng thời chức năng thủy lợi, sản xuất và điều tiết môi trường. Nguồn:Tác giả.

Thứ hai, hạ tầng cảnh quan nông thôn hỗ trợ khả năng thích ứng của cộng đồng. Khác với nhiều công trình kỹ thuật được thiết kế cho một chức năng cố định, hạ tầng cảnh quan có khả năng hấp thụ và thích nghi trước các biến động môi trường, xã hội và sử dụng đất. Khi một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi chức năng hoặc khi điều kiện khí hậu thay đổi, mạng lưới mặt nước, cây xanh và không gian mở vẫn có thể tiếp tục duy trì các chức năng cốt lõi như điều tiết nước, hỗ trợ sinh kế và tạo không gian cộng đồng. Tại xã Tiền Yên, khoảng 77% số hộ được khảo sát vẫn duy trì đất nông nghiệp, trong đó các hộ canh tác trên diện tích nhỏ (0,1–0,3 ha) chiếm tới 65%; từ năm 2012, gần 31 ha đất bãi ngoài đê đã được chuyển đổi sang canh tác rau an toàn theo Dự án QSEAP, cho thu nhập bình quân 4–6 triệu đồng/sào/vụ, cao hơn đáng kể so với canh tác truyền thống. Đây là minh chứng cho khả năng thích ứng linh hoạt của không gian sản xuất nông nghiệp trước áp lực đô thị hóa, khi đất canh tác được duy trì nhưng chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng giá trị cao hơn. Ở các vùng ven đô Hà Nội nói chung, nơi quá trình chuyển đổi đất đai diễn ra mạnh, chính các không gian nông nghiệp, mặt nước và làng xóm truyền thống đang đóng vai trò vùng chuyển tiếp, giúp giảm xung đột giữa phát triển đô thị và bảo tồn sinh thái.

Hình 5 : Khu vực sản xuất rau an toàn tại xã Tiền Yên (Hoài Đức cũ), minh họa khả năng thích ứng của không gian nông nghiệp trước quá trình đô thị hóa. Nguồn: Tác giả.

Thứ ba, hạ tầng cảnh quan nông thôn góp phần duy trì các giá trị văn hóa và tạo nguồn lực cho phát triển địa phương. Ao làng, cây cổ thụ, đình chùa, đường làng và đồng ruộng không chỉ lưu giữ ký ức cộng đồng mà còn tạo nên đặc trưng cảnh quan của từng vùng nông thôn. Trong nhiều trường hợp, các giá trị này có thể trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch trải nghiệm, nông nghiệp sinh thái và các sản phẩm địa phương. Một số làng nghề, làng cổ hoặc mô hình du lịch nông nghiệp ven đô Hà Nội đã khai thác chính các giá trị cảnh quan này như một nguồn lực phát triển. Vì vậy, đầu tư cho hạ tầng cảnh quan không chỉ là đầu tư cho môi trường mà còn là đầu tư cho phát triển kinh tế dựa trên bản sắc.

Ba nhóm vai trò trên thường chồng lấn trên cùng một không gian. Một ao làng có thể đồng thời điều tiết nước, tạo sinh cảnh, lưu giữ ký ức cộng đồng và hỗ trợ sinh kế; một cánh đồng có thể vừa là nơi sản xuất, vừa là vùng thấm nước và là thành phần của cấu trúc cảnh quan địa phương. Khả năng tạo ra nhiều giá trị trên cùng một không gian là đặc trưng cơ bản của hạ tầng cảnh quan. Từ góc độ đó, hạ tầng cảnh quan nông thôn không nên chỉ được xem là phần còn lại sau khi bố trí các loại hạ tầng khác, mà cần được nhìn nhận như một thành phần hạ tầng thiết yếu của lãnh thổ. Những đóng góp của hệ thống này đối với điều tiết sinh thái, khả năng thích ứng và phát triển địa phương cho thấy đây là một nền tảng quan trọng của phát triển sinh thái bền vững.

Hình 6. Tuyến cây xanh trong không gian đồng ruộng tại xã Sài Sơn (Quốc Oai cũ), minh họa tính đa chức năng của hạ tầng cảnh quan trong cải thiện vi khí hậu, kết nối không gian và duy trì bản sắc nông thôn. Nguồn: Tác giả.

3. Kết luận

Hạ tầng cảnh quan khu vực nông thôn không chỉ là không gian sản xuất hay đối tượng bảo tồn mà còn là một dạng hạ tầng sinh thái đa chức năng có vai trò quan trọng đối với phát triển sinh thái bền vững của lãnh thổ. Dưới góc độ hạ tầng cảnh quan, ruộng đồng, ao hồ, kênh mương, cây xanh và không gian làng xã liên kết với nhau thành một mạng lưới cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu như điều tiết nước, duy trì đa dạng sinh học, hỗ trợ sinh kế và nâng cao khả năng thích ứng trước các biến động môi trường. Một vài ví dụ từ khu vực nông thôn phía Tây Hà Nội cũng cho thấy giá trị của hạ tầng cảnh quan không chỉ nằm ở bảo tồn cảnh quan hay bản sắc địa phương mà còn ở vai trò duy trì các chức năng sinh thái cho toàn lãnh thổ. Từ đó, tác giả cho rằng việc nhận diện và tích hợp hạ tầng cảnh quan vào quy hoạch phát triển nông thôn là một yêu cầu cần thiết nhằm hướng tới phát triển sinh thái bền vững.

TS.KTS. Lương Thùy Trang
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07-2026)


Tài liệu tham khảo

  • Bélanger, P. (2016): Landscape as Infrastructure: A Base Primer – London: Routledge;
  • Council of Europe (2000): European Landscape Convention – Florence;
  • Đào Phương Anh (2019): Tổ chức không gian ở điểm dân cư nông thôn trong hành lang xanh Hà Nội – Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội;
  • Lương Thùy Trang (2024): Paysage et espaces ruraux à l’ouest de Hanoi (ancienne province de Hà Tây, Vietnam) – Luận án Tiến sĩ, Université Bordeaux Montaigne (đồng hướng dẫn với Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội);
  • Millennium Ecosystem Assessment (2005): Ecosystems and Human Well-being: Synthesis – Washington, DC: Island Press;
  • Minh Thu (2025): Hà Nội dự kiến chuyển đổi 12.426 héc-ta đất nông nghiệp trong kỳ kế hoạch 2021-2025 – Báo điện tử Nhân Dân;
  • Phạm Anh Tuấn (2024): Hạ tầng cảnh quan – giải pháp phát triển hạ tầng nông thôn bền vững – Tạp chí Xây dựng (Bộ Xây dựng);
  • Phạm Hùng Cường, Đỗ Trọng Chung (2014): Mô hình hạ tầng xanh nông thôn điển hình áp dụng cho vùng đồng bằng sông Hồng – Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, tập 8, số 2;
  • Quyền Thị Lan Phương (2021): Thực trạng cảnh quan nông thôn trong xây dựng nông thôn mới – Tạp chí Kiến trúc, số 09-2021;
  • Thủ tướng Chính phủ (2011): Quyết định số 1259/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050;
  • Trần Vũ Thọ (2024): Kiến tạo cảnh quan xanh nông thôn trong hành lang xanh Hà Nội. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 250-2024.