Suy nghĩ về tỉ lệ của mái Gươl

Nhà Gươl (hay Gưal) là một kiến trúc đặc biệt của người Cơ Tu – Đó là ngôi nhà cộng đồng được người dân trong làng góp công xây dựng. Chỉ cần nói đến Gươl như nhà đình bằng tiếng Kinh là người Cơ Tu có thể giúp bạn tìm đến hoặc giới thiệu với niềm tự hào…

Tôi không nhớ hết mình đã kéo thước đo bao nhiêu Gươl từ Hiên đến Giằng (tên cũ của Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang hôm nay). Từ những năm 1985 đến nay, năm nào tôi cũng trở lại thăm vài vùng núi của miền Tây Bắc Quảng Nam, quan sát những ngôi nhà truyền thống mái lớp tranh, lá đang bị mất dần khi người miền núi đang chịu ảnh hưởng của kiến trúc miền xuôi. Việc đo lại những gươl đã xây dựng và những gươl mới được xem là một thói quen về nghề nghiệp mà công việc bảo tồn không cho phép ta bỏ qua. Tuy nhiên, phải nói chính sự hấp dẫn của cái mái cong ở đầu hồi, xinh xắn như cái mai rùa, không giống bất cứ kiến trúc của các dân tộc láng giềng ở vùng Trường Sơn và Tây Nguyên mà mái gươl của người Cơ Tu đã tạo nên sự bí ẩn mà tôi đã và đang cần tìm hiểu.

Những năm 93-96(1) của thế kỷ trước, KTS người Nhật, GS đại học Nihon – ông Yukata Shigeeda đã bị hấp dẫn bởi những ngôi nhà có mái hình mai rùa này nên đã lặn lội đến làng Zara, xã Tabhing, huyện Giằng để nghiên cứu. Có cái gì đó trông như mái nhà của người Ainu – tộc người cổ bản địa ở phía Bắc Nhật Bản. Và rất giống việc tôn thờ con vật thiêng – con trâu – nên hình tượng lặp lại kiểu trang trí các mô típ đầu trâu trên ngôi nhà truyền thống TongKonan của người Toraja ở Sulawesi, Indonesia cũng tương tự như mái Gươl.

Thông qua tài liệu, sách báo, cùng những thông tin trên internet, ta có thể biết được nhiều kiểu nhà, những hình mẫu kiến trúc dẫu ở nơi rất xa nhau nhưng lại có những điểm giống nhau kỳ lạ! Sự chọn lựa ngẫu nhiên hay cố ý theo yếu tố vật thờ chắc chắn đặt nặng lên đôi tay và khối óc của những nhà “thiết kế cổ xưa” để cho ra kiểu kiến trúc độc đáo của từng tộc người.

Với người Cơ Tu, ngôi nhà Gươl của cộng đồng có 2 kiểu mái: Kiểu nhà có mái tròn như cái nón đội gọi là Choong Gươl (đã từng xây dựng ở thôn Tống Cói, xã Ba, Đông Giang và đã bị hỏng vào năm 2008, đây là nhà cuối cùng); loại thứ hai chỉ uốn tròn hai đầu hồi thường gọi chung là Gươl mà chúng tôi sẽ đề cập đến. Người Cơ tu đã đóng góp vào kho tàng kiến trúc dân gian ngôi nhà cộng đồng – Gươl – với cách ứng xử hợp lý và khôn ngoan với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, khi hàng năm những kiến trúc ở vùng này thường xuyên bị đe dọa bởi những cơn bão từ biển Đông. Chính mái nhà xuôi, tròn, uốn cong mềm mại đã hóa giải những cơn bão mạnh. Tôi chắc rằng địa bàn cư trú ngày trước của người Cơ Tu đến tận gần vùng cửa biển ở Nam Ô của thành phố Đà Nẵng, nơi từng có những mái gươl hiên ngang đón gió biển. Vì vậy, nếu ta thử dựng một ngôi nhà cộng đồng có mái đứng hứng đầy gió (hình lưỡi rìu) như nhà Rông ở Tây Nguyên thì không phù hợp ở địa bàn cư trú này.

Tháng 5/2011, tôi trở lại thăm những mái gươl từ Nam Giang đến Tây Giang. Lần này với người bạn KTS trẻ đang làm đề tài nghiên cứu thạc sĩ về kiến trúc. Ở vùng núi vào mùa này trời nắng nóng, buổi chiều thường có những cơn mưa giông lớn và kéo dài, chúng tôi vẫn thong thả ngồi trong mái gươl đo vẽ, buổi trưa nóng hơn thì ngả lưng trên sàn tre êm ái đón gió. Chính lúc này, chúng tôi có thời gian nhìn ngắm và kiểm tra những lớp tranh, lá đang bị mất dần khi người miền núi đang chịu ảnh hưởng của kiến trúc miền xuôi. Chính lúc này, chúng tôi có thời gian nhìn ngắm và kiểm tra những số đo, những tương quan về tỉ lệ giữa chiều rộng, chiều dài với chiều cao nhà, cũng như tỉ lệ từ đất lên sàn, từ sàn đến nóc mái và quan trọng nhất là độ xuôi mái bao nhiêu để có mái gươl đẹp nhất!

Điều làm chúng tôi quan tâm nữa là sự phân chia hợp lý của tỉ lệ phần mái lá với thân nhà. Khi đứng bên ngoài quan sát gươl, ta chỉ cảm nhận được mái gươl này đẹp hơn mái gươl kia, nhưng chưa thể lý giải được vì sao? Vài thông tin về kỹ thuật làm gươl mà chúng tôi có được từ anh Arắc Sự, cán bộ phụ trách văn hóa xã Chaval, huyện Nam Giang cung cấp. Như những qui ước rộng – dài với nhà rộng 5 mét thì chiều dài 7 mét xem như tỉ lệ 5/7, hay chiều rộng nhà bằng chiều dài của kèo đỡ mái là những thông tin khá lý thú mà bước đầu chúng tôi tiếp nhận được. Qua những gì thu thập được tôi xin mạnh dạn sơ kết vài số đo cụ thể, thể hiện mối tương quan về tỉ lệ của chiều rộng với chiều dài gươl:

Đây là số đo phủ bì của chiều dài và chiều rộng của mái gươl khi đã phủ tranh. Thoạt nhìn, ta chỉ có thể quan sát được mặt đứng của mặt chính của gươl còn phần mặt bên hay chiều rộng có thể khó nhận biết hơn. Thường thì khung bằng gỗ bao quanh làm vách lửng cho mọi người ngồi bên trong sinh hoạt (gninh hay kninh – bản vẽ và ảnh) cũng đã cho ta những tỉ lệ rộng – dài tương ứng là 5/7, 6/10 (Gươl ở tại huyện ủy Tây Giang cũng có chênh lệch nên không có trường hợp chiều dài gấp đôi chiều rộng). Và lưu ý các cột con – tnar acăn và tnar acon là cột lửng (bản vẽ) nên phần vách này có nhiều khi được mở rộng thêm đến hết đầu hồi.

Đa số kích thước của vách này cũng theo tỉ lệ của mái tranh phủ bên ngoài. Đứng xa nhìn mặt chính với phần mái gươl cần lưu ý độ nghiêng của hai mái hồi, tức là độ dốc của hai mái hồi(2) (thường 60 độ là độ dốc của mái trước và mái sau, bản vẽ minh họa). Một điều đáng lưu ý là tỉ lệ của phần giới hạn mái tranh – từ nơi đầu tranh đến mặt đất so với chiều cao của toàn nhà. Sẽ quá cao nếu từ nền đất đến đầu tranh quá 2.300 (mm) với một gươl trung bình. Từ đó, chúng tôi tạm nhận xét số đo từ nền đất đến sàn không nên quá 2.000 (số đo chúng tôi ghi được ở những gươl đẹp thường chỉ 1.200 đến 1.600).

Quan sát, nhìn ngắm thật lâu để chọn gươl đẹp chúng tôi tạm kết luận gươl của trong khuôn viên của huyện ủy(3) (dựng vào năm 2011) có số đo như bản trên nhưng với độ dốc 57 độ, kết hợp phần nền đất đến mái tranh 2.200, sàn chỉ cao không quá 1000, trong tỉ lệ chiếm tổng thể chiều cao đến nóc nhà là 6.700. Qua các số liệu trên, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ giữa chiều cao mái tranh so với chiều cao toàn nhà là 2/3. Đã có nhiều gươl đẹp như gươl thôn T, Gêr xã Avương, Tây Giang nay đã mất.

Theo tập quán làng cũng như các điều kiện về nhân tài, vật lực, làng nhiều người thì dựng gươl to, ít người thì dựng gươl vừa. Và như vậy không thể tùy tiện to – nhỏ, rộng – dài mà chắc rằng người thợ mộc Cơ Tu đã có những kinh nghiệm của các kích thước ngày xưa dù chỉ đo bằng sải tay, cánh tay, khửu tay. Người Cơ Tu không tu bổ, phục hồi gươl như người Kinh, nếu hỏng thì làm lại mới và có thể dựng nơi khác. Tôi may mắn còn giữ số đo, một số bản vẽ mà nhiều gươl dựng trước năm 1995 nay đã bị hỏng và biến mất. Nhiều gươl mới dựng lại nhưng không phải gươl nào cũng đẹp. Sự tùy tiện trong kích thước, và quan trọng nhất là sử dụng các công cụ mới trong chế tác như máy bào… học các kiểu liên kết gỗ (mộng mẹo) của người miền xuôi và đồng thời tùy tiện chọn các đề tài trang trí khá xa lạ với văn hóa địa phương cũng sẽ giảm đi giá trị của ngôi nhà cộng đồng mà vị quan ba người Pháp Le Pichon trong những năm 30 của thế kỷ trước đã từng ca ngợi khi được nghỉ ngơi trong gươl. Và thật buồn cười khi gần đây nhiều gươl đã bỏ cột giữa/cột mệ (zơrầng măng) với ý nghĩa là cây cột bố để dễ dàng ngồi (chủ yếu là ngồi nhậu).
Cuối cùng người viết bài này cũng thấy cần tiếp tục có một tổng điều tra về công việc chế tác gươl gồm khảo sát, đo vẽ, chụp ảnh, thống kê lại những gươl đã dựng trên toàn địa bàn cư trú của đồng bào Cơ Tu.

Chú thích:
(1) Những năm 1993 đến 1996, tác giả là nhân viên của bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng đã tham gia chương trình tìm hiểu kiến trúc của người Cơ Tu do qũy TOYOTA tài trợ.
(2) Lưu ý là độ dốc của hai mái đầu hồi mà chúng ta thấy qua mặt đứng của mặt chính khác với độ dốc của mặt đứng nhìn từ mặt bên (hai mái trước sau). Sự khác nhau vì khi làm phần cong của mái hồi nhiều gươl đã đưa cây gỗ làm đòn nóc (dơ dinh) lợp mái ra nhiều quá thì sẽ có mái với độ dốc lớn, và ngược lại ngắn đi thì mái có độ dốc ít.
(3) Là Gươl chủ yếu dành cho cán bộ nhân viên của cơ quan sinh hoạt trong giờ nghỉ, thư giãn hoặc liên hoan… không nhất thiết phải làm đúng như truyền thống nên mái tranh của mặt chính có thêm phần mái tam giác để tạo tiền sảnh long trọng khi bước vào và cải tiến thêm phần âm ở sàn để ngồi cho thỏa mái. Nhưng với kích thước nhỏ, nếu đứng mặt sau nhìn ta có thể cảm nhận sự hợp lý, xinh xắn vì đã có một tỉ lệ của độ dốc, mái tranh với thân nhà khá chuẩn.

Nguyễn Thượng Hỷ