Bài viết dự báo hướng phát triển không gian đô thị trong tương lai cho TP Thủ Đức. Tác giả đề xuất phát triển Thủ Đức theo định hướng thành khu đô thị giáo dục. Mô hình đô thị ĐH kết hợp trung học dựa trên cơ sở nền tảng đô thị thông minh sẽ mang đến nhiều cơ hội cho TP. Thủ Đức tập trung tiếp nhận tài nguyên tri thức mới, tạo sức hút kéo theo những đầu tư khác từ bên ngoài, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách TP HCM sau khi hình thành khu đô thị này.
Giới thiệu
TP Thủ Đức được thành lập trên cơ sở sắp xếp 3 quận: Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức, theo mô hình đặc biệt mới là mô hình “TP trong TP”. TP. Thủ Đức có diện tích 21.000 ha và có hơn 1 triệu dân, tức chiếm khoảng 1/10 diện tích, 1/10 dân số toàn TP.HCM (Lực & Khu, 2020), được kỳ vọng sẽ giúp TP.HCM thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tri thức, sáng tạo, công nghệ mà TP HCM đã manh nha từ 20 năm trước.
Khái niệm “đô thị giáo dục” là một cách tiếp cận không mới nhưng hiệu quả để thiết kế, xây dựng và vận hành các TP theo cách không những là nơi mà nhiều ĐH được tập trung lại, làm công việc giảng dạy, mà còn là cái lõi của một vùng đô thị chung quanh nó, với những tương tác về giáo dục, công nghệ, văn hóa, lối sống.
Dự đoán về xu hướng phát triển không gian của TP Thủ Đức trong tương lai:
1. Phát triển TP nén (Compact city)
Hiện nay quỹ đất trống còn nhiều, phát triển tự phát do dân tự xây nhà đã làm mất đi rất nhiều mảng xanh của TP.
TP.Thủ Đức đang được định hướng phát triển đô thị mật độ cao, kết hợp các chức năng khác nhau xung quanh các nhà ga giao thông công cộng sức chở lớn; nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội gắn với chỉnh trang các khu vực đô thị hiện hữu (ngoài các trung tâm đổi mới sáng tạo), đảm bảo đồng bộ, tương thích với các khu vực phát triển mới hiện đại. Tạo dựng môi trường văn hóa – xã hội và không gian kiến trúc cảnh quan đô thị hiện đại, vừa mang tính quốc tế vừa có bản sắc địa phương.
Bên cạnh đó, đảm bảo nhu cầu nhà ở, văn hóa – giáo dục, chăm sóc y tế và các dịch vụ công cộng khác; phát triển công viên cây xanh, giảm ngập nước và ô nhiễm môi trường kết hợp với cải thiện chất lượng môi trường không khí; đảm bảo nguồn cung cấp nước và thực phẩm sạch với giá cả hợp lý.
2. Xây dựng TP lành mạnh
Sau đại dịch Covid, làm cho mọi người thay đổi suy nghĩ, cách làm việc thay vì mục đích kinh tế đã chuyển qua mục đích chú trọng sức khỏe bản thân và cộng đồng hơn, nâng tầm chất lượng cuộc sống. Do đó các chính sách, quy hoạch và dịch vụ của thành phố chú trọng hơn vào vấn đề sức khỏe trong lúc vừa nâng cao chất lượng của các quyết sách dựa trên dữ liệu cho TP. Thủ Đức. Quy hoạch cho một Thành phố thông minh thực chất gắn liền với sức khỏe: Giao thông, môi trường, vệ sinh, giáo dục, giải trí, công nghệ, và môi trường gây dựng; tất cả lĩnh vực này đều ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư đô thị.
Khi các hệ thống dữ liệu và chính sách trong các lĩnh vực thống nhất tiếp cận lối sống lành mạnh thì người dân sẽ được tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế, giảm thiểu những yếu tố rủi ro do môi trường và lối sống gây ra những căn bệnh mãn tính, giảm gánh nặng từ các căn bệnh truyền nhiễm.
Học tập Đô thị ĐH trên thế giới
Đô thị Đại học (ĐH) xuất hiện trước tiên tại Mỹ, Anh. Tại các trường ĐH lớn, khu vực xung quanh trường hay chính khuôn viên trường ĐH trở thành một khu vực hay thị trấn với quy mô ngày càng lớn hơn, thông thường được coi là Đô thị ĐH (University Town). Dân cư của khu vực này thường từ 50.000 – 100.000 người (chủ yếu bao gồm sinh viên, giáo viên, người làm việc), cung cấp cho sinh viên một môi trường sinh hoạt với điều kiện học tập, giao thông, ký túc xá, nhà ăn…tốt, thuận tiện.
Những khu đô thị ĐH xuất hiện lâu đời như Harvard, Stanford (Mỹ), Cambridge và Oxford (Anh) đã có hàng trăm năm lịch sử. Đô thị ĐH lấy giảng viên và sinh viên làm chủ thể, lấy hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học làm nội dung chính, rất nhiều người tập trung tại đây để làm việc phục vụ cho đô thị ĐH.
Cách thức hình thành đô thị ĐH tại nước ngoài chủ yếu là hình thành tự nhiên như đô thị ĐH tại Boston của Harvard và MIT (Mỹ), Oxford và Cambridge (Anh). Những khu vực này đều có quá trình phát triển hình thành tự nhiên qua hàng trăm năm.
Đô thị ĐH tại Mỹ bắt đầu từ sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2. TP Boston phía Đông nước Mỹ có diện tích không quá lớn, nhưng tại đây tập trung hơn 50 trường ĐH như Harvard, MIT, Boston, Wellesley College, tại khu vực Cambridge. Harvard được thành lập năm 1636, lúc đầu chỉ có một giáo viên và 9 học sinh. Sau này khu vực đô thị của ĐH Harvard và MIT có hơn 100.000 nghìn người. Trong đó ĐH Harvard có 6.794 nhân viên làm việc, 1.334 giáo viên, 15.343 sinh viên có học vị và 5.186 sinh viên theo học các chương trình ngắn hạn. MIT có 6.184 nhân viên, 918 giáo viên, 9.878 sinh viên. Tập trung xây dựng rất nhiều những trung tâm nghiên cứu, thí nghiệm chuyên ngành và các công ty, đơn vị kỹ thuật (MOC, 2009).
Bản thân hai trường ĐH Oxford và Cambridge không có tường bao ngăn cách với TP, không có cổng trường, hai TP này cũng đồng thời là khuôn viên ĐH. Các khoa hay viện chuyên ngành được phân bố trên khắp các con đường trên toàn TP. Giao thông công cộng vừa là của trường ĐH vừa là của TP.
ĐH Cambridge nằm tại thị trấn Cambridge, dân số đầu thế kỷ 20 là 50.000 người, đến những năm 50 của thế kỷ 20 là 90.000 người. Khu vực xung quanh ĐH Cambridge hiện nay trở thành khu vực sản nghiệp khoa học kỹ thuật cao, thu hút nhiều nhà đầu tư và nhân tài trên thế giới. Oxford có 15.500 sinh viên, 7.000 nhân viên.
Trường ĐH Stanford (Mỹ) được xây dựng từ năm 1876, do cá nhân đầu tư xây dựng (gia đình Stanford). Stanford có diện tích 8.800 ha, với mật độ dày đặc các công ty, trung tâm điện tử. ĐH Stanford (Mỹ) sau khi cho thuê khu vực khuôn viên ĐH bỏ trống đã dần dần hình thành một thung lũng sillicon năng động. Hàng loạt những công ty lớn tập trung tại đây như HP, Intel, Hitachi, Yahoo, Thung lũng Sillicon còn trở thành nơi thực tập và giảng dạy trực tiếp của giáo viên và sinh viên Stanford, sinh viên có thể mở công ty hoặc làm việc trực tiếp tại công ty từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Ở Nhật, đô thị ĐH Tsukuba được hình thành với sự quản lý chặt chẽ về mặt quy hoạch từ ban đầu. Tại đây, sau thế chiến thế giới thứ hai với sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục đã thúc đẩy chính quyền địa phương, các trường ĐH, cao đẳng và đào tạo chuyên ngành, xí nghiệp cùng hợp tác để xây dựng nên những đô thị ĐH kiểu mới.
Những năm 60 của thế kỷ 20, Nhật Bản đưa ra kế hoạch tăng cường phát triển kinh tế, dự tính xây dựng những khu đô thị khoa học. Đến năm 1973, xây dựng ĐH Tsukuba, đồng bộ với những đơn vị nghiên cứu khác. Do vị trí địa lý cách Tokyo khoảng 1 giờ xe chạy, ban đầu nơi đây chỉ là một khu vực rừng nên Tsukuba chú trọng đến việc xây dựng các tuyến đường giao thông nối khu ĐH với các đô thị quan trọng như Tokyo, Chiba…
Tsukuba hoàn toàn không xây dựng hệ thống tường bao ngoài, chỉ sử dụng những không gian cây xanh và hồ nhân tạo để ngăn cách. Khuôn viên chính dọc theo trục Bắc – Nam chia thành bốn khu vực Bắc, Trung, Nam, Tây. Trong đó, khu vực Trung là khu giảng dạy, phía Nam là khu vực nghiên cứu gồm rất nhiều trung tâm nghiên cứu, phía Tây là khu vực trường Y và bệnh viện, phía Bắc là khu ký túc xá của sinh viên và giáo viên. Diện tích cả khu vực là 246,5 km2. Trong khu vực này còn có 10 trường tiểu học, trung học phục vụ cho dân cư sinh sống tại đây.
Do phần lớn những đô thị ĐH đều lựa chọn địa điểm xây dựng tại khu vực ngoại ô nên cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực ngoại vi TP.
Tại Trung Quốc, đô thị ĐH bắt đầu xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20. Chỉ riêng tại Thượng Hải, từ năm 2001 đến nay đã có 5 dự án xây dựng đô thị ĐH là đô thị ĐH Nam Hội, Tùng Giang, Thượng Hải, Đông Phương và Trung Khoa. Chỉ trong vòng hai năm, trên toàn Trung Quốc đã xây dựng được hơn 50 đô thị ĐH, trải rộng trên 21 tỉnh và thành phố. Năm 2002, tổng số vốn đầu tư lên tới 325,89 tỷ nhân dân tệ, tổng diện tích xây dựng là 1.436,97 vạn m2, bao gồm 134 trường, số lượng sinh viên lên tới 59,7 vạn. Đến nay, tốc độ xây dựng đô thị ĐH tại Trung Quốc vẫn không giảm và phần lớn đều chiếm dụng đất nông nghiệp, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên sự cân bằng xã hội.
Kinh phí đầu tư xây dựng đô thị ĐH phần lớn đến từ chính quyền, trường và xã hội. Có thể do chính quyền đầu tư là chính như đô thị ĐH Thâm Quyến, Chu Hải; một số khác do các nguồn lực của xã hội như Tùng Giang (Thượng Hải); hoặc do đầu tư tổng hợp như Ninh Ba (Triết Giang). Mặc dù phương thức đầu tư khác nhau, nhưng vẫn thường được áp dụng phương thức nguồn tiền sử dụng từ vay thế chấp ngân hàng.
Sau khi đô thị ĐH được xây dựng xong, việc hoàn trả tiền vay chủ yếu dựa vào kinh doanh phục vụ, phục vụ hậu cần, hoán đổi tài sản đất đai khu vực trường cũ, bán và cho thuê ký túc xá sinh viên và giáo viên, thu nhập từ học phí. Học phí và tiền cho thuê ký túc xá là nguồn thu chính, tuy nhiên nếu nguồn thu này bị đứt đoạn sẽ dẫn đến hậu quả khó lường. Như nhà đầu tư đô thị ĐH Đông Phương – Công ty TNHH Phát triển đầu tư đô thị ĐH Đông Phương đã gặp phải nguy cơ nghiêm trọng: Giai đoạn hai sau khi xây dựng xong sẽ dùng hết 50 tỷ nhân dân tệ, theo tính toán tổng nợ mà công ty phải trả lên đến 22 tỷ nhân dân tệ.
Những bài học kinh nghiệm
Quản lý quy hoạch là đảm bảo quan trọng cho việc phát triển lành mạnh đô thị ĐH, nhưng trước mắt tại nhiều nơi trên thế giới công tác này còn tồn tại ít hoặc nhiều khiếm khuyết, luôn phải tìm phương cách để khắc phục.
Nhiều nơi lúng túng, đã xảy ra hiện trạng hỗn loạn trong quản lý đất sử dụng. Theo các quy định thông thường, đất sử dụng mang tính chất kinh doanh phải thông qua tổ chức mua bán thương lượng đấu giá, nhưng dựa vào danh nghĩa “giáo dục” mọi thủ tục lại có thể dễ dàng hơn nhiều. Các công ty bất động sản dùng giá mua rất thấp để đổi lấy đất từ chính quyền, bắt đầu xây dựng trên quy mô lớn. Đây là con đường tắt mới để các công ty bất động sản mua được nhiều đất hơn với giá rẻ, dùng danh nghĩa đô thị ĐH để mua đất, còn khi thực hiện lại là xây dựng và buôn bán chung cư với lợi ích khác. Một số ví dụ như ở đô thị ĐH Đông Phương (Trung Quốc) giai đoạn 1 sử dụng 10.000 mẫu đất, nhưng trên thực tế có đến 6.640 mẫu đất là sân golf. Ngoài ra, chỗ nào cũng thấy có biệt thự, khu nghỉ dưỡng, phố ẩm thực.
Đô thị ĐH trước tiên cần chú trọng đến yếu tố “con người”, nhưng hiện nay các đô thị ĐH tại các nước đang phát triển đều chạy theo việc xây dựng những toà nhà cao và siêu cao tầng, cảnh quan môi trường thiết kế với kích thước quá lớn. Vấn đề này ĐH Johns Hopkins (Maryland, Mỹ) có những thành công đáng để chúng ta học hỏi. Đặc điểm của khu ĐH này là tiền đầu tư được ưu tiên nhu cầu tối đa cho con người chứ không phải cho nhà cửa, chú trọng đến chất lượng của giáo viên và sinh viên chứ không chú trọng kiến trúc. Trong giai đoạn xây dựng đầu tiên, gần như không xây dựng khuôn viên trường học, thậm chí còn không có sân bóng đá và sân bóng rổ, nhưng lại đầu tư rất nhiều tiền vào thiết bị và nghiên cứu.
Những đô thị ĐH nổi tiếng và thành công thông thường đều có từ một hoặc vài trường ĐH danh tiếng, có tầm ảnh hưởng lớn, như các trường ĐH Havard, Stanford, MIT, Oxford, Cambridge đều là những trường ĐH hàng đầu trên thế giới. Bản thân những trường ĐH này thu hút rất nhiều sinh viên ưu tú, những học giả uyên bác và một lượng lớn công ty nghiên cứu khoa học kỹ thuật cao.
Đô thị ĐH có điều kiện giao thông, thông tin liên lạc nhanh chóng, thuận lợi. Sinh viên hiện nay ngoài việc học tập còn triển khai nghiên cứu phục vụ xã hội, bởi vậy phần lớn những khu đô thị ĐH đều tập trung xây dựng tại những TP lớn, thuận tiện liên lạc. Như ĐH California (Mỹ) xây dựng phân khu tại Los Angeles, Chicago; Harvard xây dựng tại Boston; Oxford và Cambridge cách London chỉ 45 phút xe chạy; Tsukuba cách Tokyo 60km.
Tính chất công cộng của những khu trường ĐH nổi tiếng là một điểm đáng để chúng ta học tập. Đô thị ĐH một mặt thu hút học giả và sinh viên khắp nơi trên thế giới, một mặt dung hoà với khu vực được xây dựng, trở thành một thị trấn, đô thị trộn lẫn với dân cư, xí nghiệp địa phương. Thư viện, bảo tàng, bệnh viện của ĐH Oxford dân cư quanh vùng đều có thể sử dụng công cộng.
Công tác xây dựng đô thị ĐH trước tiên phải tuân theo nguyên tắc quy hoạch đi trước. Nội dung quy hoạch chủ yếu bao gồm quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch vốn đầu tư, quy hoạch quản lý và quy hoạch khoa học.
- Về vấn đề quy hoạch sử dụng đất, phải thực hiện chế độ kiểm duyệt chặt chẽ, tránh chiếm dụng đất nông nghiệp, không phá hoại môi trường sinh thái, định vị hợp lý, không mở rộng quá lớn phạm vi xây dựng;
- Vấn đề nguồn vốn đầu tư, phải mở rộng những nguồn thu hút vốn. Tại những địa phương có khả năng, chính quyền có thể tăng thêm đầu tư, lợi dụng triệt để cơ chế thị trường, cân bằng vốn đầu tư;
- Về vấn đề quản lý quy hoạch, Bộ Giáo dục, Bộ Xây dựng và các ban ngành liên quan cần đưa ra chỉ tiêu xây dựng chung cho đô thị ĐH trên toàn quốc;
Quy hoạch xây dựng đô thị ĐH thông thường từ 5 – 10 năm, đều thuộc vào quy hoạch ngắn hạn, nhưng khi chúng ta tính toán đến hiệu quả của giáo dục và tính chất phát triển bền vững của ĐH thì bắt buộc phải lập quy hoạch từ 10 năm trở lên. Thông qua quy hoạch khoa học đạt được mục tiêu phát triển bền vững là tiêu chí quan trọng trong việc xây dựng thành công đô thị ĐH.
Duy trì tác dụng chủ đạo của chính phủ, xây dựng cơ chế khống chế cân bằng trên phạm vi toàn quốc, phát huy hết tác dụng chỉ đạo, hỗ trợ, giám sát và điều hoà của chính quyền. Thúc đẩy nguồn vốn đầu tư đa phương diện, địa phương nào có điều kiện nên tích cực thu hút vốn từ công ty, tổ chức hay cá nhân nước ngoài. Nên tránh chạy theo việc xây dựng đô thị ĐH thành khu thương nghiệp nhà cao, đất rộng, nên lấy con người làm nhân tố chính, tuân theo quy luật giáo dục.
Hình tượng đô thị ĐH cũng cần chú trọng thể hiện bản sắc văn hoá, tính thương hiệu của mỗi đô thị ĐH. Những nơi này không chỉ là nơi đào tạo nghề nghiệp và nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên, nghiên cứu sinh mà còn là môi trường giao lưu học hỏi về văn hoá, tập quán của những người khác nhau về ngôn ngữ, trình độ, giới tính,thế hệ… Đô thị ĐH không phải là TP vui chơi giải trí, không phải là khu thương mại tổng hợp, càng không phải là một TP chỉ có trên danh nghĩa. Đô thị ĐH vừa phải phục vụ xã hội, tức vừa có công năng và lợi ích lại phải dẫn dắt sự phát triển xã hội, khai thác tốt hơn hết chức năng truyền thống của mình là giáo dục và đào tạo nguồn lực cho xã hội.
Bàn luận – đề xuất dạng Đô thị ĐH phù hợp với TP. Thủ Đức
Mặc dù không có một công thức chung nào cho phát triển các mô hình đô thị ĐH, nhưng nói chung có thể phân ra 3 mô hình hoạt động chính sau đây của đô thị ĐH để TP. Thủ Đức tham khảo (Thục & Hiếu, 2017). Các hoạt động đó là:
- Đô thị tri thức năng động;
- Trung tâm công nghệ cao;
- Tổ chức “công nghiệp đặc thù”.
Các mô hình trên để nói lên đặc trưng của các hoạt động chuyên sâu, tương tác với nhau giữa các loại hình: “Mỗi TP phải dựa trên chiến lược riêng của địa phương, trên nguồn vốn tri thức của vùng và chính sách vùng. Sự phức tạp của tri thức cần được dựa vào nguồn lực và đặc thù địa phương. Cấu trúc đô thị và các tác nhân kinh tế, xã hội hẳn nhiên là sẽ được phân xử đủ minh bạch thông qua hệ thống quản lý của kinh tế tri thức”. Có thể hình thành một “mô hình tương tác” cho phép người dân có cơ hội xây dựng đô thị của họ.
Có 4 mô hình cơ bản của quan hệ giữa đô thị ĐH và TP như sau: (1) Mô hình đô thị ĐH trung tâm, tạo cực hút cho các vùng xung quanh nó; (2) Mô hình đô thị ĐH từ liên kết thành nhóm, cụm; (3) Mô hình đô thị ĐH phụ thuộc; (4) Mô hình đô thị ĐH hỗn hợp.
Đối với TP. Thủ Đức, có thể áp dụng mô hình Đô thị ĐH ở ba dạng (1), (2) và (3):
- Mô hình liên kết cộng sinh thường được hình thành khi xuất hiện cụm ĐH gồm nhiều trường ĐH đồng đẳng về mặt cấu trúc và qui mô. Chúng có nhu cầu liên kết lại để phát huy tốt hơn nội lực sẵn có, mặc dù có thể không bù đắp được sự thiếu hụt cho nhau. Nhưng khi liên kết, chúng sẽ tạo ra một “vùng lân cận” nội bộ, có khả năng tạo được sức hút, từ đó hấp dẫn được các đơn vị chức năng khác trong vùng lân cận chia sẻ nội lực.
- Ngoài ra, nên tận dụng các trường phổ thông quốc tế hiện hữu để xây dựng thêm khu đô thị quanh trường trung học chất lượng cao để thu hút cán bộ công chức có thu nhập cao di dời nhà đến, mua bất động sản để cư trú tại TP. Thủ Đức, giúp gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nguyên do vì phổ thông, trung học sẽ mất tầm ba đến sáu năm, như vậy học xong sẽ lên luôn ĐH, sau ĐH thì người có nhu cầu về nhà ở gần khu đô thị trung học và ĐH sẽ tăng nhanh hơn.
Kết luận
Trường hợp ở TP. Thủ Đức, không gian đô thị bị tác động mạnh từ nền công nghiệp kỹ thuật cao. Đặc tính của nó xoay quanh tri thức, hàm lượng chất xám, là các trường ĐH mà từ trước đến nay luôn ở vai trò thứ yếu trên bản đồ quy hoạch lãnh thổ. Do đó, yêu cầu những thay đổi cơ bản từ tầm nhìn. “Nâng cấp đô thị” là sự kết hợp giữa các chính sách giáo dục đào tạo, phát triển kinh tế đô thị .
Kinh tế tri thức là “đô thị” được xây dựng từ dưới lên, bởi dân cư nơi đó. Các dân cư trong đô thị tự làm nên TP của họ. Họ kế thừa và xây dựng nên bản chất của đô thị cũng như các thế hệ nhà giáo xây dựng nên giá trị truyền thống của một trường ĐH.
Tóm lại, mô hình đô thị ĐH trên cơ sở nền tảng đô thị thông minh sẽ mang đến nhiều cơ hội cho TP. Thủ Đức để có thể tiếp nhận rất nhiều tài nguyên tri thức mới, kéo theo là những sự đầu tư từ bên ngoài vào các ngành nghề khác và bất động sản.
TS.KTS Nguyễn Bảo Thành
Khoa Xây dựng – Trường Đại học Mở TP.HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2023)
Tài liệu tham khảo
- Lực, T., & Khu, X. (2020). Phát triển TP Thủ Đức – Khu đô thị sáng tạo phía Đông TP.HCM. TTXVN/Vietnam+. Retrieved from https://www.vietnamplus.vn/phat-trien-thanh-pho-thu-duc-khu-do-thi-sang-tao-phia-dong-tphcm/669745.vnp
- MOC. (2009). Đô thị ĐH trên thế giới – Những vấn đề cần tiếp thu cho việc xây dựng đô thị ĐH tại Việt Nam. Sài gòn đầu tư & xây dựng. Retrieved from https://moc.gov.vn/tl/tin-tuc/51870/do-thi-dai-hoc-tren-the-gioi–nhung-van-de-can-tiep-thu-cho-viec-xay-dung-do-thi-dai-hoc-tai-viet-nam.aspx
- Thục, N. H., & Hiếu, T. M. (2017). Có nên lấy đô thị ĐH làm TP thông minh? Kiến Trúc Việt Nam, 207. Retrieved from http://nctk.edu.vn/co-nen-lay-do-thi-dai-hoc-lam-thanh-pho-thong-minh.html





















