Tiếp cận hệ thống tiêu chí “công trình xanh” trong điều kiện xây dựng tại các Đô thị của vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Long An

Theo KTS Ken Yeang: “Kiến trúc Xanh hay Kiến trúc Sinh thái là những công trình có tác động môi trường tối thiểu, và khi có thể thì đạt được hiệu quả ngược lại. Nghĩa là các công trình có tác động tích cực, có tính cải thiện và hiệu quả đối với môi trường tự nhiên, đồng thời kết nối với tất cả các khía cạnh thuộc hệ sinh thái của sinh quyển trong suốt vòng đời của công trình”[3, tr. 5]

Phối cảnh khối công trình khu trung tâm Nam Sài Gòn - đô thị Phú Mỹ Hưng. Nguồn: SOM
Phối cảnh khối công trình khu trung tâm Nam Sài Gòn – đô thị Phú Mỹ Hưng. Nguồn: SOM

Xây dựng theo xu hướng “Công trình Xanh” là mục tiêu cần phải đạt được trong vấn đề phát triển bền vững, tuy nhiên trong bối cảnh phát triển các đô thị ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Long An nói riêng, với điều kiện môi trường sinh thái tự nhiên phong phú, điều kiện phát triển về mặt văn hóa – xã hội, điều kiện kinh tế – kỹ thuật chưa đáp ứng ở mức độ cao,… thì phương án tiếp cận nào sẽ có hiệu quả? Bài viết đề cập một số vấn đề cần thiết nghiên cứu để có thể đạt được mục đích nêu trên:

  • Xác định những mục tiêu chính cần phải đạt được trong hệ thống tiêu chí công trình Xanh áp dụng trong điều kiện của địa phương. 
  • Xác định các chiến lượt tiếp cận để các đô thị và công trình kiến trúc tại địa phương đảm bảo “Hướng đến một môi trường xây dựng bền vững”. 
  • Những giải pháp sơ bộ nhằm làm rõ chiến lượt tiếp cận trong quy hoạch, thiết kế công trình theo xu hướng thiết kế “Công trình Xanh”.
  • Định hướng tiếp cận để các đô thị và công trình xây dựng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Long An đạt được những giá trị theo hệ thống tiêu chí “Công trình Xanh”. 

Hiện nay, trên thế giới đã có gần 200 hệ thống đánh giá công trình Xanh được ban hành,các hệ thống đánh giá trên đều có chung một mục tiêu là “Hướng đến một môi trường xây dựng bền vững” nhằm giảm thiểu 50% mức độ tiêu thụ năng lượng hóa thạch trong công trình xây dựng vào năm 2010 và 50% lượng phát thải khí Carbon dioxide ở thời điểm năm 2030 để tránh hiểm họa toàn cầu liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu.[5]

Giữ gìn tính đặc trưng của hệ sinh thái ngay trong khu đất xây dựng. Ảnh: Tác giả
Giữ gìn tính đặc trưng của hệ sinh thái ngay trong khu đất xây dựng. Ảnh: Tác giả

Nhìn chung các hệ thống đánh giá công trình Xanh của thế giới ở các mức độ khác nhau, nhưng đều tập trung vào 12 nhóm tiêu chí chính như sau:

1. Sức khỏe và tiện nghi;
2. Năng lượng và khí quyển;
3. Sinh thái môi trường;
4. Vật liệu;
5. Nước;
6. Chất thải và ô nhiễm;
7. Quản lý;
8. Giao thông;
9. Cộng đồng;
10. Thích ứng và giảm nhẹ thiên tai;
11. Ưu tiên vùng miền;
12. Sáng tạo và đổi mới;

Việc thiết kế các đô thị, các công trình kiến trúc đáp ứng các tiêu chí công trình Xanh trong điều kiện phát triển ở các đô thị của Việt Nam hiện nay là điều khó vì nhiều lý do như: Sự nhận thức đúng vấn đề của tất cả các chủ thể liên quan, khả năng tài chính, khả năng kỹ thuật. Do đó, để có thể đạt được mục tiêu “hướng đến một môi trường xây dựng bền vững” có lẽ nên tư tiếp cận các mục tiêu có tính tổng quát và then chốt, các tiêu chí có yêu cầu trình độ, chi phí về kinh tế cao sẽ giải quyết khi điều kiện cho phép.

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy những vấn đề then chốt cần tập trung khi quy hoạch và xây dựng công trình ở các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Long An bao gồm:

Các nhóm tiêu chí công trình Xanh cần nghiên cứu cho khu vực

1. Sinh thái môi trường;
2. Năng lượng và khí quyển;
3. Nước;
4. Vật liệu;
5. Chất thải và ô nhiễm;
6. Cộng đồng;
7. Thích ứng và giảm nhẹ thiên tai;
8. Quản lý;

Bước đầu tiên phải xác định quy hoạch các đô thị theo xu hướng phát triển bền vững (kết hợp với điều kiện về môi trường, văn hóa xã hội của địa phương), giai đoạn quy hoạch này phải hoàn chỉnh vì kết quả quy hoạch đô thị sẽ liên quan và tác động nhiều đến môi trường tự nhiên, các hệ sinh thái. Kết quả của công tác quy hoạch đô thị tác động đến các vấn đề chính của hệ thống tiêu chí như: Sinh thái môi trường, nước, năng lượng và khí quyển, chất thải và ô nhiễm, thích ứng và giảm nhẹ thiên tai.

Trong công tác quy hoạch đô thị cần thực hiện theo chiến lược “nương theo và hài hòa với tự nhiên để phát triển”, đô thị cần được quan niệm là một thành phần trong hệ thống của các Hệ sinh thái. Cụ thể hơn, người thiết kế cần nương theo tự nhiên để quy hoạch đô thị, không phá vỡ cấu trúc sinh thái của môi trường tự nhiên. Không gian đô thị trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và trong tỉnh Long An nói riêng nên thiết kế theo hướng không gian mở, hài hòa, xen lẫn và chỉ là một thành phần nhỏ của môi trường sinh thái tự nhiên.

Từ định hướng trên, các thiết kế quy hoạch mạng lưới giao thông, hệ thống kỹ thuật hạ tầng, phân khu chức năng cần được nghiên cứu kỹ. Các bước xác định đặc trưng của hệ sinh thái, của địa hình khu vực, đặc trưng về tập quán của cư dân, sẽ là cơ sở để thiết kế tổ chức môi trường không gian sống. Hệ thống không gian và hệ thống kỹ thuật được thiết kế mở để có thể tích hợp đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai. Các giải pháp thiết kế quy hoạch cần được thiết kế với việc hạn chế tối đa việc bê tông hóa bề mặt địa hình, giữ được sự đa dạng về mặt sinh học cho khu vực ở ngay trong lòng đô thị và xen kẽ trong các khu vực để tránh mất cân bằng sinh thái, lập thiết kế cân bằng sinh thái trong từng khu vực của đô thị và trong tổng thể không gian đô thị. (Hình 1)

Trong quy hoạch chi tiết cần xác định cụ thể vị trí đô thị so với vị trí sông ngòi: Xu hướng gió trong hai mùa mưa, nắng ảnh hưởng đến đô thị; các vùng không gian mở kết hợp với bảo vệ đặc trưng của môi trường sinh thái, vật liệu sử dụng trên bề mặt địa hình; phương pháp xây dựng tác động đến môi trường; vị trí các khu vực thu gom và phương pháp xử lý chất thải, ô nhiễm… Tất cả các vấn đề trên sẽ tác động đến hiện tượng đảo nhiệt trong đô thị, đến chất lượng môi trường không khí bên trong và bên ngoài công trình, khả năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và cả khả năng liên kết cộng đồng trong khu vực.

Nghiên cứu hình khối, vỏ bao che công trình thích ứng với điều kiện tự nhiên. Nguồn [4]
Nghiên cứu hình khối, vỏ bao che công trình thích ứng với điều kiện tự nhiên. Nguồn [4]

Bước thứ hai là thiết kế xây dựng các công trình theo xu hướng “Công trình xanh”. Theo quan điểm riêng của tác giả, các công trình kiến trúc trong các đô thị của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và trong các đô thị của tỉnh Long An nói riêng không cần đạt đến chứng nhận “Công trình Xanh” vì để có chứng nhận này ngoài việc phải có một tổ chức đánh giá thì chủ đầu tư phải đủ tiềm lực kinh tế để đảm bảo thực hiện thiết kế đạt các tiêu chí của hệ thống tiêu chí “Công trình Xanh”. Có lẽ nên xác định mục tiêu trước mắt chỉ ở mức độ là “hướng đến một môi trường xây dựng bền vững”, trên cơ sở xác định mục tiêu như trên, từ đó thực hiện nghiên cứu các tiêu chí công trình Xanh trọng tâm, xác định chiến lược thiết kế, xác định giải pháp thiết kế và thực hiện phương án thiết kế mẫu tại địa phương để hướng dẫn định hướng thiết kế.

Mô hình không gian ở trong vùng ngập lụt định kỳ huyện Mộc Hóa tỉnh Long An, thích ứng với các điều kiện biến động từ thiên tai (lụt và lũ). Nguồn [1]
Mô hình không gian ở trong vùng ngập lụt định kỳ huyện Mộc Hóa tỉnh Long An, thích ứng với các điều kiện biến động từ thiên tai (lụt và lũ). Nguồn [1]

Khi thiết kế công trình kiến trúc cần căn cứ vào phân tích Sinh khí hậu, kết hợp với nghiên cứu thực hiện thiết kế theo từng nhóm tiêu chí công trình Xanh đã được xác định. Những chiến lược và giải pháp cơ bản trong thiết kế để đạt được mục tiêu là các chiến lượt lần lượt như sau:

  • Nhóm tiêu chí Sinh thái môi trường liên quan đế khu vực xây dựng công trình: Trong nhóm tiêu chí này cần tuân thủ nguyên tắc hạn chế – không phát triển xây dựng công trình ở các khu vực tập trung sự đa dạng về mặt sinh học của tự nhiên, các khu vực mà tiềm năng của đất, nước, thuận lợi cho quá trình phát triển của tự nhiên góp phần cân bằng hệ sinh thái. Trong điều kiện của các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Long An nói riêng, cần nghiên cứu đề xuất diện tích khu đất hợp lý để xây dựng công trình với mật độ xây dựng thấp (khoảng 30% đến 40%), phần diện tích đất còn lại tuyệt đối không được bê tông hóa mà phải thiết kế cho mục đích bảo vệ, phát triển các hệ sinh thái đặc trưng, công trình nên được bỏ trống tầng trệt để hệ sinh thái có tính liên tục trong không gian,…
  • Nhóm tiêu chí Năng lượng và khí quyển: Trong nhóm này cần tập trong nghiên cứu lựa chọn giải pháp hình khối công trình, giải pháp xử lý vỏ bao che công trình trong đó nếu công trình thấp tầng thì cần nghiên cứu giải pháp cấu tạo chvống nóng cho mái nhà, đối với công trình cao tầng cần tập trung vấn đề cấu tạo chống nóng cho tường bao che. Các phương án cần đảm bảo khả năng khai thác được năng lượng tự nhiên như chiếu sáng, thông thoáng, giảm nhiệt độ không khí khi đi vào không gian bên trong công trình, giải pháp kết hợp điều kiện tự nhiên và nhân tạo trong chiếu sáng, thông thoáng, giải pháp sử dụng mặt nước cây xanh xung quanh công trình để hạ nhiệt độ trong không khí, một số vị trí trên vỏ bao che có thể cho hệ thống thực vật phát triển, …
  • Nhóm tiêu chí Nước: Nước sạch là nguồn tài nguyên quí ở hiện tại và tương lai, do đó phương án cần nghiên cứu sử dụng nước hợp lý, trong đó ưu tiên sử dụng nước sạch cho sinh hoạt, khai thác tái sử dụng các nguồn nước mặt, nước đã qua sử dụng để tưới sân vườn, làm mát không khí và cho nhu cầu vệ sinh.
  • Nhóm tiêu chí Vật liệu: Giải pháp thiết kế cần nghiên cứu kết hợp giữa mục đích sử dụng, tính năng, chu trình vòng đời sử dụng, khả năng tái chế của vật liệu, chu trình tái tạo của vật liệu,… Qua đó đề xuất phương án hợp lý vì vật liệu xây dựng sử dụng với khối lượng lớn, phát thải ảnh hưởng xấu đến môi trường. 
  • Nhóm tiêu chí Chất thải và ô nhiễm: Các phương án thiết kế cần nghiên cứu giải pháp hạn chế chất thải và phát thải. Các chất này phát sinh từ công trình kiến trúc (trong các giai đoạn: Xây dựng, vận hành, phá dỡ) từ sinh hoạt hàng ngày của người sử dụng. Trong đó cần tập trung các giải pháp liên quan đến khả năng tái chế, xử lý các nguồn phát thải ô nhiễm bằng công nghệ sạch trước khi thải ra môi trường, ví dụ như hệ thống lắng lọc, bốc hơi nước đã bị ô nhiễm để loại bỏ, thu hồi các tạp chất sau đó tái sử dụng lại nước cho việc tưới hệ thống thực vật. Các nguồn phát thải từ sinh hoạt cần được phân loại chất hữu cơ và vô cơ để xử lý riêng, các phát thải nhiệt, khí ô nhiễm cũng phải được lưu ý xử lý hạ nhiệt, lọc bụi. 
  • Nhóm tiêu chí Cộng đồng: Người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long vốn có truyền thống cởi mở, gắn bó với nhau trong cộng đồng, các tập quán tốt này cần được duy trì qua việc cùng hợp tác, trao đổi khi thực hiện một công trình để đạt được sự đồng thuận cao nhất. Tính cộng đồng còn thể hiện qua giải pháp thiết kế các không gian, giải pháp phân chia không gian để vừa đảm bảo tính độc lập riêng tư nhưng vừa đảm bảo sự gắn bó chia sẻ trong cộng đồng.
  • Nhóm tiêu chí Thích ứng và giảm nhẹ thiên tai: Các biến động về kinh tế- kỹ thuật, về văn hóa – xã hội về môi trường tự nhiên phải được quan tâm thông qua các giải pháp thiết kế thích ứng, ví dụ thiết kế không gian làm việc trong một cao ốc văn phòng phải tính đến phương án sử dụng không gian đó phân chia thành nhà ở khi điều kiện kinh tế biến động, hiệu quả kinh doanh văn phòng cho thuê thấp. Hoặc xây dựng nhà ở trong vùng đồng bằng sông Cửu Long phải tính đến khả năng ứng phó khi có bão, lụt hoặc lũ do vỡ đập thủy điện trên sông MêKông,…
  • Đối với nhóm tiêu chí quản lý trong điều kiện đặc thù của các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Long An nói riêng, tác giả đề xuất công tác quản lý sẽ tập trung vào công việc nghiên cứu hệ thống tiêu chí công trình Xanh phù hợp để vận dụng rộng rãi, thực hiện thiết kế xây dựng các dạng công trình mẫu có tính điển hình như nhà ở, trường học, trạm xá, ủy ban. Thực hiện việc hướng dẫn các chủ thể thực hiện công việc tại địa phương theo đúng các mục tiêu đã xác định.

Kết luận

Phát triển các đô thị và công trình kiến trúc trong vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tại tỉnh Long An nói riêng cần có những nghiên cứu phù hợp nhằm mục đích ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu, quá trình này sẽ ảnh hưởng trực tiếp, mức độ ảnh hưởng nặng đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long trong tương lai rất gần.

Chúng ta không thể tiếp cận việc xây dựng các đô thị các công trình kiến trong vùng đáp ứng theo hệ thống tiêu chí “Công trình Xanh” theo cách các nước đang làm, các đô thị các công trình kiến trúc trong vùng cấp thiết phải thực hiện theo xu hướng “Công trình Xanh” nhưng không phải để đạt được các chứng nhận từ các tổ chức ban hành các hệ thống tiêu chí “Công trình Xanh” mà phải được thực hiện theo phương pháp phổ cập trên diện rộng trong vùng với nhiều thể loại công trình.

Khả năng thực hiện phổ cập thiết kế xây dựng “Công trình Xanh” đáp ứng yêu cầu thực tiễn của vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với chúng ta là khả thi, khi có sự phối hợp với nhau giữa Ban chỉ đạo Tây – Nam Bộ, các cơ quan chuyên môn của các tỉnh và các Viện nghiên cứu, trường Đại học chuyên ngành có liên quan trong vùng.


 Tài liệu tham khảo

– Giang Ngọc Huấn, Phan Thị Phương Diễm, Đặng Thanh Hưng, Trần Thế Vĩnh.
– Đồ án “Câu chuyện ba mùa” Giải Khuyến khích cuộc thi FuturArc Prize 2011
– Jerry Yudelson (2008), The Green Building revolution, Island Press, Washington.
– Ken Yeang (1999), The Green Skyscraper- The basic for Desinging Sustainable Intensive Building, Presten Verlag, Germany.
– Trần Minh Hiền – ĐATN Viện nghiên cứu năng lượng sạch Đà Nẵng 2012
– UNDP (2008), Báo cáo phát triển con người 2007/2008.

ThS.KTS Giang Ngọc Huấn
Đại học Kiến trúc TP HCM

( Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06 -2015 )