Một vài đề xuất cải tổ về Đào tạo và Tổ chức Hành nghề KTS tại Việt Nam trong Thời kỳ hội nhập Quốc

Sau khi Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế ASEAN, APEC, và WTO, tiêu chí hội nhập quốc tế đặt các kiến trúc sư Việt Nam (KTS VN) trước những thách thức, những vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết – vì nó gắn liền với đô thị và tương lai phát triển đất nước. Mô hình giáo dục đào tạo và hoạt động hành nghề kiến trúc tại Việt Nam, cần phải được thẳng thắn nhìn nhận là có khoảng cách khá xa với chuẩn quốc tế tại các nước tiên tiến, chưa được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, gây trở ngại cho hoạt động nghề nghiệp của các KTS VN.
Việc cải tổ chương trình đào tạo và hoạt động hành nghề của KTS VN theo tiêu chuẩn quốc tế là công tác có ý nghĩa chiến lược, tạo nền móng cho sự thay đổi bộ mặt đô thị Việt, cũng như giúp cho tiến trình phát triển quốc gia và hội nhập quốc tế được thuận lợi hơn. 
Hội KTS Việt Nam (HKTS VN), bao gồm Hội KTS TP Hồ Chí Minh (HKTS TPHCM), hiện đang rất quan tâm đến việc chuẩn bị thành lập Kiến trúc sư Đoàn (KTSĐ), chuẩn bị cho Luật Kiến trúc   và Pháp lệnh Hành nghề Kiến trúc sư  . Đây là bước phát triển ban đầu rất quan trọng, nhưng ý nghĩa của nó sẽ được nâng lên tầm cao mới nếu chúng ta đồng thời xem trọng vấn đề hội nhập và tiêu chuẩn quốc tế của nghề kiến trúc. Việc hướng đến quy chuẩn quốc tế trong giáo dục đào tạo, trong hành nghề kiến trúc tại Việt Nam giúp cho: 
Cổng Trường Mỹ Thuật Đông Dương trước năm 1945
(1) – Việc tu nghiệp và hành nghề (hoặc thực tập) tại nước ngoài của KTS Việt được thuận lợi hơn khi văn bằng đại học và chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam được các nước ASEAN và APEC công nhận; 
(2) – Các KTS Việt Nam có thể tự tin hơn về mặt chuyên môn khi hợp tác với các KTS nước ngoài, tiến tới dần dần “Việt hóa” vai trò của KTS Việt Nam trong việc thiết kế các dự án lớn trong nước; 
(3) – Cập nhật các kiến thức mới nhất trong giáo dục đào tạo, đồng thời với các nước tiên tiến nhờ vào hệ thống tiêu chuẩn liên thông.
Bằng tốt nghiệp Kiến trúc trường Mỹ Thuật Đông Dương của KTS Nguyễn Văn Nghi
Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy và hành nghề chuyên môn tại nước ngoài, là thành viên của nhiều tổ chức chuyên ngành quốc tế về quy hoạch và kiến trúc, Người viết xin đề xuất một số vấn đề cần thực hiện, để các quy định và tổ chức hoạt động đào tạo và hành nghề kiến trúc của Việt Nam không những phù hợp với quy chuẩn quốc gia, mà còn phù hợp với quy chuẩn quốc tế.
Trước hết, chúng ta hãy nhìn lại tổ chức ĐKTS tại Việt Nam trong lịch sử …
Kiến trúc sư Đoàn Quốc gia (Miền Nam 1955-1975) và Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam (1948-1983)
Tiền thân của Hội KTS TP HCM là Kiến trúc sư Đoàn Quốc gia tại Miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975. Vào ngày 28 – 11- 1981, Hội KTS TP HCM được thành lập như thành viên của ĐKTS VN (1948-1983). Năm 1983 ĐKTS VN được đổi tên thành Hội KTS Việt Nam. 
Tổ chức KTS Đoàn Quốc gia (Miền Nam 1955-1975) tuy quy mô không lớn, nhưng là tổ chức của các KTS hành nghề tư vấn thiết kế độc lập, tương tự mô hình Kiến trúc sư Đoàn tại Pháp và mang tính hội nhập quốc tế rất cao. Do đó, đây có thể là mô hình tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu đề xuất tổ chức KTS Đoàn ngày nay . Theo nghiên cứu, tổ chức KTS Đoàn Quốc gia (Hình 1-Danh biểu Kiến trúc sư Đoàn Quốc gia niên khóa 1970-1971), chúng ta nhận thấy:
– Tổng cộng 92 KTS có tư cách hành nghề (thứ tự trên danh biểu cũng là thứ tự thâm niên trong nghề), trong đó có 2 KTS có quốc tịch nước ngoài. 
– Khoảng 1/3 KTS có văn bằng được quốc tế công nhận, trong đó phần lớn là các văn bằng từ trường Cao đẳng Quốc gia Mỹ Thuật tại Pháp (DPLG – Diplômé par le Gouvernement) và văn bằng từ Khoa Kiến trúc trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông dương (Văn bằng được công nhận tư cách hành nghề tại Pháp). Một số rất ít KTS có văn bằng thạc sĩ tại Mỹ. 
– Số lượng KTS tốt nghiệp hàng năm tại trường Cao Đẳng Kiến trúc Sài Gòn trước 1975 tuy không cao nhưng có chất lượng rất tốt vì phát triển theo tiêu chuẩn giáo dục của Pháp. 
– Một số lớn các KTS lão thành của KTS Đoàn Quốc gia đã trở thành lực lượng nòng cốt ban đầu của Hội KTS TP HCM.
– Nhiều KTS có kinh nghiệm hành nghề kiến trúc lâu năm tại nước ngoài và trong nước (KTS Phạm Văn Thâng, KTS Ngô Viết Thụ).
– Hầu hết công trình lớn tại Miền Nam đều do KTS VN thiết kế. 
– Các KTS nước ngoài hành nghề tại Việt Nam buộc phải hợp tác thiết kế với KTS trong Kiến trúc sư Đoàn Quốc gia , ví dụ Khách sạn Caravelle (Văn phòng KTS Nguyễn Văn Hoa & Phạm Văn Thâng & Nguyễn Quang Nhạc hợp tác với KTS Pháp Gille Masson) và trường Y Khoa Sài Gòn (Nhóm KTS Việt Nam đứng đầu bởi KTS Ngô Viết Thụ hợp tác với Công ty thiết kế CRS của Hoa Kỳ).
– Đa số KTS chỉ được đào tạo chuyên sâu về kiến trúc. Ngành quy hoạch chưa mấy phát triển. Chỉ có ba KTS vừa có văn bằng KTS DPLD, vừa có văn bằng Đô thị gia của Viện Quy hoạch tại Bỉ là Lê Văn Lắm, Ngô Viết Thụ, và Huỳnh Kim Mãng. Sau này Khoa thiết kế Đô thị được xây dựng thêm bởi KTS Lê Văn Lắm và KTS Huỳnh Kim Mãng . KTS Ngô Viết Thụ là KTS duy nhất có Văn phòng thiết kế Kiến trúc và tư vấn chỉnh trang lãnh thổ.
– Tất cả KTS đều hành nghề thiết kế kiến trúc, trừ KTS hoạt động trong cơ quan công quyền thì không được hành nghề thiết kế. Các KTS giảng dạy tại trường Cao Đẳng Kiến trúc Sài Gòn thường mở thêm văn phòng thiết kế kiến trúc của mình. 
Mô hình KTS Đoàn Quốc gia (Miền Nam 1955-1975) tuy tạo được hiệu quả và uy tín cao trong nước và nước ngoài vào thời đó, nhưng ngày nay, mô hình này cần được nâng lên tầm cao hơn thì mới có thể phù hợp cho nhu cầu hiện tại, vì các lý do:
– Đoàn KTSVN trực thuộc Hội KTS VN là mô hình phù hợp xu hướng quốc tế hơn. Nghề kiến trúc đã trở nên phức tạp và cần liên kết đa ngành hơn bao giờ hết, do đó một tổ chức hội đoàn chỉ bao gồm KTS thiết kế, hoặc chỉ trực thuộc Bộ Xây dựng thì không đáp ứng được nhu cầu đa dạng trong công cuộc phát triển đô thị ngày nay. 
– Việc giáo dục đào tạo thời trước theo hệ thống của Pháp, đòi hỏi rất cao về chất lượng đầu ra và trình độ thực hành, do đó, kỳ thi sát hạch Chứng chỉ hành nghề có thể không cần thiết, và KTS có tư cách hành nghề ngay sau khi tốt nghiệp. Ngày nay giáo dục đại học kiến trúc số lượng tốt nghiệp hàng năm khá cao và dễ dàng hơn trước. Mặt khác, các trường không chỉ đào tạo KTS thiết kế, mà còn cung cấp nhân lực cho nhiều lãnh vực hoạt động khác liên quan đến kiến trúc, do đó việc đòi hỏi trình độ thạc sĩ kiến trúc và lập quy chế thi sát hạch trước khi cấp Chứng chỉ hành nghề là rất cần thiết, phù hợp thông lệ quốc tế.
– Việc tính đến yếu tố hội nhập quốc tế rộng hơn để đạt một chuẩn quốc gia phù hợp hơn là rất quan trọng.Tổ chức giáo dục và hành nghề thời trước chủ yếu theo tiêu chuẩn của Pháp vì hầu hết KTS được đào tạo tại Pháp hoặc theo chương trình của Pháp. Ngày nay nền giáo dục được quốc tế hóa ở mức độ cao hơn, với số lượng cao các chuyên gia và giãng viên Việt Nam hoặc nước ngoài tốt nghiệp từ nhiều nước (Pháp, Mỹ, Singapore, Nga, Đức, Cu Ba, Úc, Thái Lan, Bỉ, …). 
Đoàn KTS Việt Nam trực thuộc Hội KTS Việt Nam 
– Hội KTSVN cần phân biệt rõ thành viên là KTS có chứng chỉ hành nghề (thành viên KTS – VAA Vietnam Association’s Architect) với thành viên không phải là KTS (thành viên cộng tác – VAAA Vietnam Association’s Architecture Associate) dành cho các người hoạt động trong lãnh vực kiến trúc nhưng không có chứng chỉ hành nghề KTS (bao gồm các lãnh vực giảng dạy, quản lý, lập pháp và hành pháp liên quan đến kiến trúc, thi công, kinh doanh, nghiên cứu, phê bình,…), hoặc các KTS nước ngoài chưa có chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam (cho dù họ đã có chứng chỉ hành nghề tại nước ngoài). 
– Chỉ có thành viên VAA mới bị ràng buộc bởi Pháp lệnh Hành nghề KTS và có con dấu riêng với số đăng ký hành nghề. Đoàn KTSVN – do đó nên là một bộ phận nằm trong Hội KTS Việt Nam với chức năng quản lý thành viên VAA. 
– Chỉ nên có một tổ chức duy nhất là Hội KTS thay vì có hai tổ chức (Hội KTSVN và Đoàn KTSVN) với con dấu và tài khoản riêng – vì thành viên VAAA tuy không hành nghề kiến trúc và không chịu sự quản lý của Pháp lệnh Hành nghề, nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong các công tác đa ngành của kiến trúc, đặc biệt là công tác lập pháp, quản lý, giáo dục, nghiên cứu, và phản biện. 
– Hội KTSVN nên đồng thời là thành viên của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật và Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật, và trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng hoặc nhiều Bộ (thay vì chỉ trực thuộc Bộ Xây dựng), thì mới đảm bảo được chất lượng hoạt động mang tính liên ngành, bao gồm các mặt về Văn học – Nghệ thuật lẫn Khoa học kỹ thuật .
Tính Chính danh và Minh bạch
– Nên bỏ tên gọi “Bằng KTS” và “Bằng KTS Quy hoạch” – thay thế bằng tên gọi văn bằng cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ kiến trúc, để không lẫn lộn là người có Văn bằng này được phép dùng danh xưng KTS khi chưa có Chứng chỉ Hành nghề.
– Cần bỏ chức danh “KTS Quy hoạch” và thay bằng chức danh “Đô thị gia” hoặc “Đô thị sư” vì từ ngữ “KTSQuy hoạch” không được dùng trên thế giới. Nhiều nơi trên thế giới không bắt buộc Đô thị gia phải có chứng chỉ hành nghề như KTS.
– KTS là chức danh hành nghề và chỉ được phép sử dụng tên chức danh này khi có Chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực. Những người hoạt động trong các lãnh vực khác của kiến trúc thì không cho phép kiêm nhiệm danh xưng KTS (giảng viên đại học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà đầu tư, chuyên gia kiến trúc, …), trừ phi họ đạt được những tiêu chí cần thiết (kinh nghiệm, giáo dục) và vượt qua được trong một cuộc thi lấy Chứng chỉ hành nghề KTS.
– Nên bầu tất cả các chức vụ lãnh đạo trong Hội KTS và Đoàn KTS, thay vì giao cho Bộ Xây dựng bổ nhiệm – để đảm bảo tính khách quan khi Hội KTS và Đoàn KTS đánh giá và phản biện các dự án Quốc gia do Bộ Xây dựng thực hiện
– Không nên miễn trừ việc áp dụng luật cho các KTS làm việc trong cơ quan Nhà nước. Theo thông lệ quốc tế, cho dù là KTS trong Nhà nước hay tư nhân thì đều phải trải qua quy trình xét duyệt sơ bộ và thi sát hạch giống nhau để đạt Chứng chỉ hành nghề mới được công nhận là KTS. Ở ta, nếu cần phân biệt về mặt quản lý, có lẽ chỉ cần thêm một điều lệ là hội viên KTS làm việc ở một cơ quan Nhà nước sẽ bị coi là vi phạm kỷ luật nếu đồng thời hoạt động trong lãnh vực tư nhân. Các nhà quản lý không được phép đồng thời hành nghề KTS thiết kế – để tránh những vấn đề không minh bạch trong xét duyệt. Do đó, chứng chỉ hành nghề của họ sẽ tạm thời bị “treo” trong thời gian tại vị.
Đào tạo Đại học chuyên ngành Kiến trúc và Quy hoạch
– Nên trả về cho Bộ Giáo dục và Đào tạo thay vì giao cho Bộ Xây dựng quản lý các trường Kiến trúc, Xây dựng, và Quy hoạch trong cả nước – vì giáo dục chuyên ngành Kiến trúc – Xây dựng, và Quy hoạch ngày nay mang tính đa ngành rất cao, cần có sự liên thông về chương trình tín chỉ và cộng tác trực tiếp với các ngành học về Xã hội, Kinh tế, Môi trường, Giao thông…
– Chương trình giáo dục đào tạo KTS cần được giám định bởi một Hội đồng Công nhận bằng cấp Kiến trúc Quốc gia (gồm đại diện của Bộ Giáo dục Đào tạo và của Đoàn KTS) theo định kỳ (thường là 5 hoặc 10 năm) – để đảm bảo chất lượng đào tạo KTS. Nên tham khảo tiêu chuẩn giám định của các nước tiên tiến, ví dụ của Hội đồng Công nhận bằng cấp Kiến trúc Quốc gia (National Architectural Accrediting Board) tại Hoa Kỳ.
– Nên thay “Bằng KTS” (5 năm) và thay thế bởi các văn bằng cử nhân (4 năm), thạc sĩ Kiến trúc hoặc Quy hoạch (2 năm), và tiến sĩ kiến trúc (4-8 năm, tùy theo học tập trung hay không tập trung). Người muốn hành nghề thiết kế cần học tiếp Thạc sĩ về kiến trúc hoặc quy hoạch. Người không muốn hành nghề thiết kế có thể làm việc ngay, hoặc học tiếp Thạc sĩ về quản lý, về giáo dục, về xã hội, ….
– Nên tham khảo thêm chương trình giáo dục kiến trúc cũng như Pháp lệnh hành nghề của các nước ASEAN hoặc APEC để đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, tạo tiền đề cho việc các KTS Việt Nam có thể được công nhận tư cách KTS hoặc tư cách thi sát hạch lấy Chứng chỉ hành nghề KTS tại các nước ASEAN hoặc APEC . 
Chứng chỉ hành nghề KTS
– Tiêu chuẩn thi Chứng chỉ Hành nghề Kiến trúc hoặc Quy hoạch là Bằng Thạc sĩ + 2 năm kinh nghiệm chứ không phải trình độ cử nhân. 
– Cho phép người không có bằng Thạc sĩ được phép thi lấy chứng chỉ hành nghề với điều kiện kinh nghiệm thực hành dài hơn trong văn phòng của một KTS có Chứng chỉ hành nghề. Các KTS nổi tiếng thế giới như Tadao Ando, F.L. Wright, và Le Corbusier đã trở thành KTS theo cách này mà không cần học trường Kiến trúc.
– Trên thế giới, nghề kiến trúc, bác sĩ , và luật sư là các ngành có những yêu cầu trách nhiệm đặc biệt cao hơn các ngành khác – do ảnh hưởng quan trọng trực tiếp của nghề đó đến xã hội và đến người dân. Vì vậy, việc tốt nghiệp đại học chưa đủ cho tư cách pháp nhân hành nghề, mà phải kèm theo các yêu cầu nghiêm ngặt về kinh nghiệm và kỳ thi sát hạch ngành nghề. Sau khi Pháp lệnh hành nghề KTS được thông qua, những người muốn có chứng chỉ hành nghề phải vượt qua một kỳ thi sát hạch (về kiến thức quan trọng trong thiết kế, và các hiểu biết về luật pháp, và các vấn đề liên quan đến thiết kế kiến trúc tại Việt Nam). Đoàn KTSVN sẽ có trách nhiệm soạn thảo đề cương và tài liệu học tập chuẩn bị cho kỳ thi sát hạch. 
– Đoàn KTSVN xem xét quy định về bằng cấp và kinh nghiệm cho các KTS nước ngoài muốn xin thi lấy chứng chỉ hành nghề của Việt Nam.
– Các KTS nước ngoài không có Chứng chỉ hành nghề của Việt Nam, nếu muốn hành nghề thì buộc phải liên danh với một KTS có Chứng chỉ hành nghề của Việt Nam cấp. 
– Đoàn KTSVN sẽ thương lượng với Đoàn KTS của các nước nằm trong tổ chức ASEAN, APEC, hoặc WTO về việc công nhận tương đương, song phương về giá trị của chứng chỉ hành nghề tại nước đó mà không cần thi sát hạch. 
Dự thảo Pháp lệnh hành nghề KTS 
– Pháp lệnh hành nghề KTS cần được thông qua riêng, hoặc được tách rời thành một mục riêng trong Luật Kiến trúc để đảm bảo tính minh bạch của hoạt động hành nghề đặc biệt của nghề KTS, tương tự như của nghề luật sư, bác sĩ, và kỹ sư.
– Nội dung và từ ngữ diễn đạt trong Dự thảo Pháp lệnh hành nghề KTS hiện nay cần cụ thể và chính xác hơn, phù hợp với một văn bản luật pháp theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế (nhất là chi tiết trong phần  xác lập tư cách KTS và phần kỷ luật thành viên như đã nói ở trên –  đây sẽ được tòa án sử dụng làm cơ sở giải quyết khi có tranh tụng). Dự thảo Pháp lệnh hành nghề KTS cần được hiệu đính bởi một tiểu ban chuyên môn của Đoàn KTSVN tương lai, bao gồm các KTS có chứng chỉ hành nghề và luật sư có chuyên môn về lập pháp. 
– Cần tránh các điều khoản với yếu tố định lượng để khỏi phải thông qua lần nữa khi cần cập nhật các chi tiết. Ví dụ mức phạt tiền nên dựa vào tỷ lệ % so với mức lương tối thiểu theo quy định của Nhà nước, thay vì là một số tiền cụ thể – có nghĩa là cần tính đến yếu tố lạm phát kinh tế hàng năm.
– Cần lưu ý quá trình chuẩn bị và cập nhật, công tác nghiên cứu và quản lý phụ trợ, các hoạt động liên quan đến xây dựng Dự thảo pháp lệnh hành nghề KTS là rất tốn kém. Do đó, cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm cũng như quyền lợi của Hội KTSVN và Đoàn KTSVN một cách tương xứng trong Pháp lệnh hành nghề KTS và trong Luật Kiến trúc. Ví dụ như: cần đưa các yếu tố xác lập thẩm quyền ưu tiên được nhận ngân sách hoạt động từ các Bộ (Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và đào tạo, …) để thực hiện các công việc có liên quan đến hoạt động kiến trúc như: tư vấn về việc lập pháp, đề xuất khung đánh giá chương trình giảng dạy và đại học ngành kiến trúc trong nước (5-10 năm một lần) để đảm bảo chất lượng đào tạo KTS, tổ chức các cuộc thi lấy chứng chỉ hành nghề cho KTS, phản biện cho các dự án Quốc gia, … 
 
TS.KTS. Ngô Viết Nam Sơn