Nâng cao năng lực làm việc của kiến trúc sư Việt Nam trong môi trường hành nghề quốc tế

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới trở nên “phẳng’’ hơn trong mọi lĩnh vực, việc hành nghề của kiến trúc sư (KTS) trong môi trường quốc tế đã trở nên linh hoạt và phổ biến hơn. Trong sân chơi rộng lớn này, những KTS được đào tạo từ những nước phát triển ở Châu Âu, Bắc Mỹ hay một số nước châu Á phát triển như Nhật Bản, Singapore không gặp quá nhiều trở ngại khi hành nghề xuyên quốc gia. Trong khi đó, các KTS được đào tạo tại đa số các nước khác ở châu Á lại gặp những trở ngại lớn, các KTS Việt Nam cũng không ngoại lệ. Hầu hết các KTS Việt Nam là những người thông minh và nhiệt thành, luôn ấp ủ nhiều ý tưởng sáng tạo, nhưng luôn phải đối diện với những khó khăn cố hữu khi phải “nhúng“ mình vào môi trường cạnh tranh quốc tế. Họ chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng làm việc trong môi trường hành nghề quốc tế vốn đòi hỏi không chỉ năng lực nghề nghiệp mà còn kinh nghiệm làm việc, sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa quốc tế và bản lĩnh khi phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh quốc tế.

Trung tâm Hội nghị Quốc gia
Trung tâm Hội nghị Quốc gia

1. Vai trò của KTS Việt Nam trong các dự án xây dựng trọng điểm của Quốc gia
Trong những năm gần đây, nhiều dự án xây dựng quan trọng đã và đang được triển khai không chỉ trong khu vực Nhà nước mà còn rất đa dạng từ khu vực tư nhân, điều này đã tạo ra thị trường và cơ hội lớn cho các KTS tại Việt Nam. Tuy nhiên, cơ hội dành cho các KTS trong nước lại nhỏ bé hơn nhiều so với các KTS nước ngoài. Rất nhiều gói tư vấn thiết kế kiến trúc, các dự án quan trọng với tổng mức đầu tư lớn lại thuộc về các công ty kiến trúc đến từ các nước phát triển (Trung tâm hội nghị quốc gia, Bảo tàng Hà Nội, Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia…và gần đây nhất là Tòa nhà Quốc hội được thiết kế bởi các KTS Đức, Mỹ, Nhật Bản,…). Không ít các cuộc tranh luận trong giới kiến trúc nước nhà đã và đang bàn luận về vai trò, năng lực của KTS Việt Nam trong các dự án xây dựng quan trọng mang tầm cỡ Quốc gia là gì?

Thực tế, các KTS trong nước chỉ đóng vai trò tư vấn địa phương hay hoạt động như những nhà thầu thiết kế phụ trợ với quyền lực hạn hẹp, kém ưu thế trong việc phát triển ý tưởng thiết kế. Nếu có cơ hội tham gia các dự án quan trọng, vai trò của KTS Việt Nam thường mờ nhạt bởi năng lực hạn chế khi làm việc trong môi trường hành nghề quốc tế vốn đòi hỏi phải có những kỹ năng phù hợp.

Bảo tàng Hà Nội
Bảo tàng Hà Nội

2. Nguyên nhân khiến cho KTS Việt Nam gặp khó khăn trong môi trường hành nghề quốc tế
Thứ nhất, đó là sự “hụt hơi’’ của các KTS Việt Nam so với các KTS nước ngoài trong cuộc đua tư vấn kiến trúc với điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như hiện nay. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi liên tục của công nghệ xây dựng, sự xuất hiện không ngừng của vật liệu mới, trang thiết bị công trình mới,… đã đòi hỏi chúng ta phải cập nhật liên tục, và điều này đang là lợi thế của các KTS tới từ thế giới phát triển. Việc có nguồn dữ liệu đầu vào đầy đủ phục vụ công việc tư vấn rất quan trọng đối với các KTS trong môi trường hành nghề quốc tế. Bằng những kiến thức được cập nhật liên tục và hiểu biết khoa học kỹ thuật mới, các nhóm KTS đa quốc gia sẽ tìm thấy tiếng nói chung khi triển khai công việc tư vấn, qua đó đạt được sự “đồng điệu” và cân bằng về trách nhiệm, quyền lợi giữa các bên.

Thứ hai, các chương trình đào tạo ở Việt Nam thường có nội dung dàn trải, dạy nhiều mà không sâu, ít tính sáng tạo, thiếu vắng nhiều môn học giúp nâng cao kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa, khiến cho các KTS sau khi tốt nghiệp trong nước thường kém tự tin khi đối diện với những đồng nghiệp quốc tế năng động và luôn giàu năng lượng. Quá trình học tập 5 năm trong trường đại học ít có những hoạt động trao đổi sinh viên quốc tế. Ngoại ngữ – nhất là các nội dung chuyên ngành – được giảng dạy sơ sài, không đủ và không đạt chuẩn cũng là nguyên nhân làm cho người Việt kém chủ động trong giao tiếp, dẫn tới mất đi các cơ hội tạo dựng uy tín để vươn lên lãnh đạo các nhóm làm việc đa quốc gia. Việc tiếp cận vấn đề thiếu thực tế, còn nặng lý thuyết của KTS trẻ Việt Nam dẫn tới những điểm “vênh” nhất định khi làm việc với những đồng nghiệp thực dụng phương Tây…

Thứ ba, với văn hóa Á Đông có tính hướng nội bẩm sinh, KTS Việt Nam không thực sự sẵn sàng bước ra thế giới vốn đòi hỏi tư tưởng hướng ngoại. Điều này thậm chí tồn tại ngay từ những năm tháng họ được rèn luyện trong nhà trường, thể hiện qua các biểu hiện: Sinh viên thường thiếu tính chủ động trong học tập và rèn luyện chuyên môn, ngại phát biểu, ngại nói lên ý kiến, ngại tranh luận với giảng viên và các bạn đồng môn… Chúng ta nói quá nhiều tới “giữ gìn bản sắc dân tộc” mà chưa coi trọng tương xứng mục tiêu hội nhập văn minh thế giới. Căn nguyên sâu xa của vấn đề này có lẽ vượt khỏi tầm tự giải tỏa của ngành Giáo dục, nó có nguồn ngọn từ sự o bế về tư duy và định hướng tư tưởng của xã hội. Thiết nghĩ, năng lực cá nhân của mỗi KTS Việt Nam không chỉ thể hiện qua nét vẽ chuyên môn và tính nhân văn, dân tộc trong thiết kế, họ phải xây dựng một hình ảnh năng động với những kỹ năng mềm cần thiết, cùng sự tự tin thực sự. Từ đó, môi trường làm việc đa văn hóa sẽ không còn là trở ngại lớn.

Thứ tư, việc đánh mất “lòng tự trọng nghề nghiệp” cũng khiến cho khả năng hòa nhập với môi trường quốc tế của nhiều KTS trong nước trở nên xa vời. Có không ít KTS bằng cách này hay cách khác tìm kiếm cơ hội hành nghề bằng mọi giá, gây khó khăn cho các đồng nghiệp tài năng, lao động bằng năng lực thực sự. Nhiều trường hợp đã cho thấy, việc giảm giá tư vấn đến mức có thể coi là “phá giá” đã khiến cho chất lượng sản phẩm thiết kế bị giảm sút, gián tiếp làm cho giá trị lao động của KTS Việt Nam bị đánh giá thấp hơn, niềm tin của các chủ đầu tư với “hàng nội” giảm sút. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho “lửa chiến đấu“ của các KTS trong nước bị nguội dần khi đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt.

Thứ năm, việc thiếu hụt những văn bản luật, cụ thể là Luật Kiến trúc (vừa liên quan tới việc quản lý các hoạt động của KTS, vừa có thể bảo vệ KTS trước những tác động khách quan xảy ra khi thực hiện các dự án xây dựng), có lẽ là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn tới những khó khăn cơ bản mà các KTS Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt. Việc các KTS nội địa bị các chủ đầu tư “ép giá” hoặc thậm chí bị ép thay đổi phương án thiết kế theo ý kiến chủ quan của những người thiếu kiến thức chuyên môn không còn xa lạ tại Việt Nam, điều này khiến cho các sản phẩm thiết kế trở nên kém chất lượng, kéo theo nhiều vấn đề liên quan khác sau khi công trình được vận hành.

Bảo tàng lịch sử Quốc gia
Bảo tàng lịch sử Quốc gia

3. Những kinh nghiệm để tăng cường năng lực cạnh tranh cho các KTS “nội địa” từ sự chuyển động của các nước trong khu vực
Từ các hoạt động quốc tế của giới KTS khu vực châu Á thông qua Hội đồng KTS châu Á (ARCASIA – Architects Regional Council of Asia), chúng ta có thể rút ra được một số kinh nghiệm của các nước trong việc thu hẹp khoảng cách về năng lực hành nghề chuyên nghiệp giữa các KTS “nội địa” và quốc tế. ARCASIA ngày nay đã trở thành một tổ chức xã hội nghề nghiệp phi lợi nhuận quan trọng gồm 19 Hội KTS thành viên, đại diện cho 19 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á – một trong những khu vực kinh tế năng động nhất thế giới.

Trong số 4 ủy ban chuyên trách của ARCASIA, Ủy ban Đào tạo Kiến trúc sư (ACEA) được ra đời sớm nhất, có nội dung hành động phong phú nhất. Trong kỳ họp gần đây nhất tại Kuala Lumpur, Malaysia, Uỷ ban Đào tạo đã triển khai các chương trình hành động sau:
– Dự án trường học ảo để đào tạo nâng cao kiến thức về kiến trúc trên môi trường internet: Đây là dự án đã được ACEA theo đuổi nhiều năm nay, với mục tiêu xây dựng môi trường đào tạo liên tục, thường xuyên cho mọi sinh viên và KTS tại mọi địa điểm với chi phí đầu tư ban đầu cực thấp. Nếu thành công, đây sẽ là dự án rất có ý nghĩa, góp phần đưa kiến thức chuyên môn tới mọi khu vực có kết nối internet.
– Tổ chức thí điểm workshop kiến trúc trên môi trường internet: Giúp kết nối các trường đại học của các nước thành viên một cách dễ dàng. Sau workshop thí điểm này, từ năm tới sẽ mở rộng cho các trường đại học của các nước thành viên ARCASIA tham gia.
– Mô hình hợp tác đào tạo KTS xuyên biên giới (cross-border), công nhận chương trình và trao đổi sinh viên, giảng viên: Bằng việc trao đổi thường xuyên sinh viên, giảng viên và KTS trẻ thông qua các chương trình thực tập ngắn và trung hạn tại các trường đại học, các doanh nghiệp thiết kế hàng đầu, KTS ở mỗi nước có thể mở rộng hiểu biết, tăng cường kỹ năng làm việc quốc tế, gia tăng sự hiểu biết đa văn hóa, thu hẹp dần khoảng cách giữa các nước phát triển với các nước kém phát triển. ACEA đã thảo luận rất chi tiết về cách thức gửi và nhận sinh viên thực tập giữa các nước thành viên, quy định về form mẫu, thông tin visa… để các nước có thể triển khai một cách thuận lợi hơn. Trong số các nước thành viên ARCASIA, Singapore, Thái Lan, Malaysia là những nước rất tích cực triển khai dự án này. Đây cũng là những quốc gia năng động, đã và đang xuất khẩu dịch vụ tư vấn của mình sang các nước xung quanh. Hongkong cũng đã xác định đào tạo KTS theo các hệ code và chuẩn quốc tế để có thể xuất khẩu nhân lực chất lượng cao đi làm việc tại Trung Đông, Úc và khu vực Đông Á.
– Giải thưởng đồ án tốt nghiệp xuất sắc của ARCASIA – TOY Award: Hình thức tổ chức giống giải thưởng ARCHIPRIX quốc tế – Bằng việc xem xét các đồ án tốt nghiệp xuất sắc nhất được gửi trực tiếp từ các cơ sở đào tạo (phải được công nhận bởi Hội Kiến trúc sư các nước thành viên), Uỷ ban Đào tạo mong muốn thông qua giải thưởng TOY để thu thập và đánh giá chính xác hơn về xu hướng, khả năng sáng tạo và kết quả đào tạo kiến trúc ở mỗi nước.
– Xây dựng biên niên sử kiến trúc ARCASIA: Mỗi nước thành viên có trách nhiệm cập nhật thông tin về lịch sử phát triển kiến trúc của mình kèm theo hình ảnh các công trình cụ thể lên Atlas kiến trúc ARCASIA được xây dựng trên môi trường số hóa. Đây sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng cho các thế hệ sau khi nghiên cứu về kiến trúc châu Á.
– Tạp chí nghiên cứu của ARCASIA (định dạng số hóa, phát hành online).
– Công nhận chương trình đào tạo và các cơ sở đào tạo KTS: Uỷ ban Đào tạo đã thảo luận về phương thức tham gia của các hội nghề nghiệp trong việc đánh giá, công nhận chương trình đào tạo của các trường đại học tại các nước thành viên. Chúng ta có thể tham khảo mô hình kiểm định chéo và công nhận lẫn nhau giữa các nước thuộc khối Thịnh vượng chung vốn đã được thực hiện từ nhiều năm nay. Sau này, các cơ quan kiểm định và phê chuẩn chương trình đào tạo của Australia, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mexico, Hoa Kỳ và Hội Kiến trúc sư khối Thịnh vượng chung đã phê chuẩn Tuyên bố về công nhận tương đương các bằng cấp chuyên môn của nhau khi chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng ở từng nước. Văn bản đã được ký bởi đại diện của các cơ quan kiểm định tại Canberra, Australia ngày 9/4/2008 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Sự công nhận này sẽ là cánh cửa mở ra cơ hội tham gia thị trường hành nghề quốc tế của các KTS. Tuy nhiên, đây chỉ là điều kiện cần, còn phải có điều kiện đủ là bản thân năng lực và sự sẵn sàng của các KTS để bước chân vào môi trường hành nghề quốc tế.

4. Những cơ sở đào tạo KTS tại Việt Nam cần làm gì?
Những cơ sở đào tạo KTS tại Việt Nam có thể làm gì để giúp các KTS tương lai nâng cao năng lực quan trọng và cần thiết này trước khi bước vào môi trường hành nghề đang ngày càng quốc tế hóa? Từ những kinh nghiệm khiêm tốn thu nhận được trong khuôn khổ các hoạt động của Uỷ ban Đào tạo KTS ARCASIA (Hiệp hội KTS Châu Á) và quá trình học tập, tiếp thu kiến thức trong môi trường đa văn hóa tại nước ngoài, chúng tôi mong muốn được chia sẻ những trăn trở, suy nghĩ tiếp tục hoàn thiện môi trường đào tạo KTS thực sự hiệu quả. Một số giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:
– Phải đổi mới triệt để chương trình đào tạo KTS, tiệm cận xu hướng quốc tế bằng việc học hỏi, tích hợp các chương trình đào tạo từ các nước phát triển. Tham khảo, học hỏi để thúc đẩy và xây dựng những chương trình đào tạo hiện đại, có chất lượng, đẳng cấp quốc tế là việc cần thiết phải làm sớm. Việc định kỳ rà soát chương trình để có những điều chỉnh kịp thời theo sự chuyển động của xã hội và công nghệ là việc bắt buộc phải làm. Chu kỳ này có thể diễn ra đồng bộ với các đợt kiểm định chương trình (3-5 năm).
– Khi thiết kế chương trình cũng như xây dựng đề cương môn học, cần có khoảng mở cần thiết để các giảng viên có cơ hội phát huy sáng tạo. Cần cởi trói tư duy để hướng người dạy và người học đến việc hòa nhập với dòng chảy của thế giới một cách thực sự. Cần linh hoạt trong xây dựng chương trình đào tạo, điều chỉnh chương trình đào tạo và tổ chức đào tạo.
– Phải nâng cao năng lực của chính những giảng viên chuyên ngành, họ là những nhân tố quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng và tác động trực tiếp tới chất lượng đào tạo. Họ cần được tạo điều kiện để trải nghiệm nhiều hơn ở cả môi trường hành nghề lẫn môi trường đào tạo, cả ở trong nước và nước ngoài. Việc tuyển chọn lực lượng này cần có sự chọn lọc thực sự kỹ lưỡng. Cần đặt niềm tin ở những người Thầy – bởi họ chính là nguồn truyền động quan trọng để làm chuyển động cỗ máy.
– Coi trọng việc xây dựng môi trường đào tạo KTS theo tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất liên quan. Đặc biệt phải ưu tiên việc nâng cấp các không gian học tập, nghiên cứu chuyên ngành cho giảng viên và sinh viên. Cần nghiêm túc nhìn nhận vai trò quan trọng của hệ thống thư viện để có sự đầu tư xác đáng. Thư viện của các trường cần được số hóa và tham gia chia sẻ chung với mạng trí tuệ toàn cầu – nơi các nhà nghiên cứu, các nhà xuất bản hàng đầu bán và chia sẻ cho nhau các bài báo, dự án nghiên cứu…
– Khuyến khích và hỗ trợ sinh viên Việt Nam tìm kiếm cơ hội kết nối, trải nghiệm các hoạt động rèn luyện nghề nghiệp quốc tế thông qua các hoạt động hợp tác đào tạo, trao đổi nghiên cứu học thuật…
Coi trọng việc đào tạo “năng lực cá nhân” cho sinh viên như việc nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, xây dựng kỹ năng mềm. Đặc biệt cần đào tạo và giúp sinh viên kiến trúc hình thành lòng tự trọng nghề nghiệp thật sự. Đây là những yếu tố quan trọng giúp các KTS tương lai tự tin khi tham gia vào những dự án xây dựng đa quốc gia.

Các cơ sở đào tạo trong nước hơn bao giờ hết cần có sự kết nối và hợp tác thường xuyên hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên và sinh viên có cơ hội gặp gỡ, trao đổi kiến thức chuyên môn,…để cùng nhau thiết lập nên hệ thống đào tạo chuyên ngành kiến trúc thực sự hiệu quả, đạt chất lượng quốc tế tại chính nước nhà.

Cùng với Hội KTS Việt Nam, các cơ sở đào tạo thực sự cần có những chuyên đề tuyên truyền về dự thảo Luật Kiến trúc và những vấn đề có liên quan, để giúp định hướng thông tin cho sinh viên về những vấn đề liên quan tới hoạt động của các KTS tại Việt Nam. Việc trang bị những kiến thức liên quan tới luật hành nghề sẽ giúp các KTS tương lai có thông tin và hiểu biết bước đầu về môi trường hành nghề có đạo đức nghề nghiệp và đúng luật – một hành trang không thể thiếu trước khi hành nghề chuyên nghiệp.

Kết luận
Những vấn đề hiện đang diễn ra trên thị trường hành nghề thiết kế kiến trúc đã đặt ra một thách thức rất lớn mà chúng ta không nên và không thể bỏ qua trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng mở cửa, các dịch vụ cũng phải mở cửa theo cam kết WTO và các hiệp định thương mại khác (sẽ được ký kết trong thời gian tới đây như TPP và nhiều FTA khác). Đã đến lúc chúng ta cần đặt ra một cách nghiêm túc một chương trình hành động để nâng cao kỹ năng cạnh tranh cho các kiến trúc sư và các tổ chức tư vấn “nội địa”. Đã có nhiều chương trình của Nhà nước nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho một số lĩnh vực công nghiệp – dịch vụ quan trọng, song trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn xây dựng thì cho đến nay vẫn chưa có một kế hoạch bài bản và dài hơi. Chúng ta đều biết rằng đi sau các dịch vụ tư vấn sẽ là cơ hội xuất khẩu / chuyển giao các sản phẩm, thiết bị, vật liệu xây dựng / công nghệ trong lĩnh vực xây dựng và kiến thiết đô thị. Đây mới là “miếng bánh” lớn hơn mà chúng ta cần nhận thấy và không nên bỏ lỡ.

Bên cạnh việc tích cực thâm nhập sâu hơn vào các định chế quốc tế, trong đó có cả lĩnh vực kiến trúc để nắm thông tin, xây dựng các kế hoạch thích ứng hóa, công tác đào tạo cần được đặt vào vị trí trọng tâm của kế hoạch này. Các nhà trường nên được quan tâm đầu tư một cách thích đáng để có những thay đổi đột phá trong việc cải biến chương trình, cử giảng viên và sinh viên tham gia các khóa học / chương trình thực tập quốc tế, nâng cấp cơ sở vật chất và hệ thống thư viện…

Chúng ta nên chủ động hành động thay vì bỏ qua và bị bỏ lại trên lộ trình phát triển của thế giới.p

TS.KTS Nguyễn Quốc Tuân – ThS.KTS Nguyễn Vinh Quang
Khoa Kiến trúc – công trình, trường ĐH Phương Đông