Góc nhìn môn học vẽ ghi kiến trúc trong bối cảnh mới: Từ di sản thuộc địa đến kỷ nguyên số

Tóm tắt

Môn học Vẽ ghi (Architectural Survey and Documentation) có mặt từ sớm trong các chương trình đào tạo KTS của Việt Nam. Sự bùng nổ của công nghệ đo đạc hiện đại và sự thay đổi trong cấu trúc dữ liệu di sản quốc gia đang đặt ra yêu cầu cập nhật chương trình đào tạo môn học này. Bài viết nhìn lại lịch sử phát triển của môn học Vẽ ghi ở Việt Nam và tham khảo môn học tương đương trong đào tạo tại các trường quốc tế. Thông qua đó tác giả đề xuất một số định hướng cập nhật và đổi mới môn học phù hợp với bối cảnh mới.

1. Bối cảnh lịch sử và môn Vẽ ghi ở trong đào tạo kiến trúc sư ở Việt Nam

Trước giai đoạn Pháp thuộc, các công trình cổ, di sản kiến trúc của Việt Nam thường không có hồ sơ ở dạng bản vẽ. Cho đến khi người Pháp thành lập Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (l’École des Beaux-Arts d’Indochine-EBAI) thì môn Vẽ Ghi chính thức trở thành môn học được đào tạo ở năm thứ 1 và 2 dưới tên Hồ sơ khảo cổ kiến trúc (Relevé architectural archéologie) dành cho sinh viên Mỹ thuật và Kiến trúc. Đối tượng đo vẽ là các công trình kiến trúc cổ, được thực hiện bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp với các dụng cụ đơn giản truyền thống. Hiệu trưởng trường EBAI là Victor Tardieu rất coi trọng môn học Vẽ ghi. Ông cho rằng “Môn học này là một bài tập hữu ích cho các hoạ sĩ cũng như các KTS để họ có được cảm nhận về nét đẹp truyền thống của đất nước mình, cũng như góp phần bảo vệ nền di sản kiến trúc cổ” [1].

Bài tập vẽ ghi của sinh viên Tran-Quang-Tran trong môn Khảo cổ kiến trúc ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
Bài tập vẽ ghi năm 1978 sinh viên năm 2. Nguồn sách Bài tập thiết kế năm 1978-1979 của Đại học Kiến trúc

Sau khi giành được độc lập, lực lượng chuyên gia khảo sát di sản tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các công trình di tích xuống cấp trầm trọng theo thời gian và ảnh hưởng của chiến tranh. Ở giai đoạn đầu, sản phẩm vẽ ghi của sinh viên cũng được coi là nguồn dữ liệu có giá trị đối với công tác bảo tồn di sản. Quan trọng hơn, ghi chép những công trình kiến trúc cổ được xác định là một công cụ quan trọng trong việc phát triển và kế thừa những giá trị kiến trúc truyền thống của dân tộc [2]. Cho đến thời điểm này đã có những thay đổi căn bản trong bối cảnh bảo tồn và tìm hiểu kiến trúc truyền thống. Các Viện bảo tồn, Trung tâm và tổ chức quản lý di sản đã thực hiện đo vẽ hệ thống di tích trọng điểm tương đối đầy đủ. Đây là một điểm rất tích cực trong công tác quản lý di sản, chúng ta đã chuyển từ giai đoạn “Không có thông tin di sản” đến “Hoàn thiện cơ sở dữ liệu di sản các cấp”.

Trong khía cạnh đào tạo, môn Vẽ ghi vẫn được tiếp tục nằm trong cấu trúc chương trình giảng dạy các năm đầu tiên của các trường đào tạo kiến trúc ở Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua. Mục đích cơ bản giúp sinh viên nâng cấp kỹ năng, từ đọc hiểu ngôn ngữ trừu tượng của bản vẽ kiến trúc trong Cơ sở Kiến trúc, sang đọc hiểu thực thể vật lý của kiến trúc từ đó khái quát thành ngôn ngữ bản vẽ trừu tượng. Bên cạnh đó, môn học này bổ khuyết cho môn Lịch sử Kiến trúc Việt Nam và Cấu tạo kiến trúc thông qua những ví dụ trực quan. Xa hơn nữa, môn học rèn luyện kỹ năng đo vẽ chính xác phục vụ cho các công tác khảo sát hiện trạng, đo vẽ hoàn công của KTS sau này

2. Môn Vẽ ghi trong đào tạo KTS hiện nay

Mặc dù tên môn học không trùng khớp nhưng nội dung tương tự của môn Vẽ ghi ở Việt Nam được tích hợp trong một hoặc một số môn học của chương trình đào tạo KTS của các trường Đại học trên thế giới.

Có thể nhận thấy xu hướng tăng cường ứng dụng các công nghệ đo đạc gián tiếp và xử lý hình ảnh trong công tác đo đạc và khảo sát di tích, công trình cổ và đô thị cũ. Ngoài ra, không thể không nhắc đến vai trò của công tác đo vẽ tay và ghi chép bằng các dụng cụ truyền thống tại hiện trường vẫn là một hoạt động cơ bản và xuyên suốt ở các trường đào tạo. Một nội dung đào tạo có nhiều nét tương đồng ở các cơ sở đào tạo này nữa đó là việc sinh viên phải thực hành công tác đánh giá và phân tích hiện trạng. Cụ thể trong đó bao gồm nội dung đánh giá tình trạng cơ lý của công trình cũng như chỉ ra các yếu tố môi trường tác động đến tình trạng đó của công trình.

3. Một số định hướng phát triển của Môn học Vẽ Ghi trong giai đoạn mới

Hiện nay, nghiên cứu công tác dạy môn Vẽ ghi tại Trường ĐH Xây dựng Hà nội cho thấy đã từng bước cập nhật và truyền tải đến sinh viên các kỹ thuật đo vẽ gián tiếp có sự hỗ trợ của các phần mềm, các thiết bị chụp ảnh đơn giản như máy ảnh, camera, flycam. Các chuẩn đầu ra của môn học được đề ra khá chi tiết và cụ thể như sau:

  • Nắm vững kỹ thuật và sử dụng thành thạo các thiết bị đo vẽ: Các thiết bị và công cụ hiện đại, mở ra một yêu cầu cập nhật không ngừng trong quá trình đào tạo KTS.
  • Kỹ năng làm việc nhóm và tổ chức hiện trường: Môn học Vẽ ghi nằm trong số ít môn học mà điểm thi được đánh giá trên cơ sở sản phẩm thực hiện bởi nhóm. Đây là kỹ năng rất quan trọng trong thực tiễn hành nghề Kiến trúc càng ngày đòi hỏi sự tham gia đa ngành và làm việc theo nhóm càng trở nên rõ ràng hơn.
  • Kỹ năng thiết lập hồ sơ khoa học: Vẽ ghi rèn luyện tư duy logic trong việc sắp xếp thông tin, từ các bản ký họa nháp tại chỗ đến bản vẽ kỹ thuật hoàn chỉnh trên phần mềm.
  • Kiến thức về công trình cổ: Giá trị kiến trúc, kỹ thuật xây dựng các công trình cổ cung cấp cho sinh viên những kiến thức quý báu về mối liên hệ giữa môi trường và đặc điểm kiến trúc và còn nguyên giá trị thực tiễn trong thời đại mới.

Môn học Vẽ ghi cần tiếp tục cập nhật kỹ thuật đo vẽ gián tiếp và số hóa nhưng không bỏ qua các kỹ thuật đo vẽ bằng các công cụ truyền thống cho sinh viên. Nhờ việc kết hợp hai yếu tố đo vẽ gián tiếp và đo vẽ trực tiếp, chương trình có thể cung cấp được bộ kỹ năng đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn của công việc trong tương lai, nâng cao độ chính xác, giảm thời gian đo đạc và tăng sự thuận tiện cũng như an toàn trong công tác đo đạc khảo sát. Các phần mềm miêu tả 2D 3D có thể tham khảo như: Làm quen Agisoft PhotoScan, Autodesk ReCap, và PhotoModeler để lưu trữ thông tin đối tượng đo đạc một cách đầy đủ và chi tiết [3].

Ví dụ trong bài giảng sử dụng thiết bị chụp ảnh và phần mềm trong môn Vẽ ghi ở trường Đại học Xây dựng Hà Nội

Các cơ sở đào tạo môn học Vẽ ghi có thể xây dựng cơ sở dữ liệu online để thuận tiện lưu trữ, phân loại và hệ thống chuẩn hóa. Thông qua đó, sinh viên sẽ hiểu được vai trò của tư duy hệ thống và tầm quan trọng của dữ liệu hoá công trình kiến trúc. Đây là những kỹ năng hết sức cần thiết trong bối cảnh chuyển đổi số của ngành công nghiệp xây dựng hiện nay. Mặt khác, nếu không có một sự kết hợp liên ngành tốt giữa các cơ sở đào tạo và các đơn vị thực chuyên môn bảo tồn có thể dẫn đến việc các hồ sơ vẽ ghi không cung cấp thông tin bổ ích mới. Thậm chí nảy sinh hiện tượng sao chép hồ sơ có sẵn, làm mất đi tính giá trị giáo dục của môn học. Đối tượng, quy mô, phạm vi và mức độ của môn vẽ ghi nên được lựa chọn linh hoạt và đa dạng hơn. Thực tiễn cho thấy thay vì yêu cầu sinh viên đo vẽ toàn bộ các công trình quá lớn trong thời gian ngắn có thể dẫn đến mức độ chính xác không cao và có phát sinh nguy cơ thiếu an toàn trong quá trình đo vẽ tại các vị trí khó tiếp cận của công trình. Đối với các công trình đã có hồ sơ đo vẽ trước thì sinh viên có thể tập trung vào việc đánh giá tính chính xác của hồ sơ và hoàn thiện chi tiết để có được tính hệ thống và giá trị sử dụng cao hơn. Một nội dung có thể bổ sung thêm là công tác đánh giá tình trạng của đối tượng vẽ ghi trong quá trình khảo sát. Sinh viên cần được hướng dẫn cách quan sát và ghi chú các hiện tượng: như là tình trạng, nguyên nhân và các hỏng hóc phổ biến về cơ lý và hóa sinh. Đây là cơ sở quan trọng để các KTS đưa ra các giải pháp tác động hoặc cải tạo trong môi trường hành nghề thực tiễn sau này.

Có thể thấy rằng, môn học Vẽ ghi đã có mặt từ những ngày đầu tiên trong các chương trình đào tạo KTS Việt Nam và nội dung tương đương cũng vẫn đang hiện diện trong chương trình đào tạo nhiều cơ sở đào tạo KTS trên thế giới. Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và kỷ nguyên số, môn học Vẽ ghi cũng không đứng ngoài xu hướng của các việc áp dụng các công nghệ và thiết bị hiện đại, cũng như việc xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin công trình. Điều này là cần thiết để đảm bảo để môn học viết tiếp một chặng dài lịch sử của mình trong quá trình đào tạo KTS ở kỷ nguyên mới.

Ths. KTS Nguyễn Trường Giang
* Nhóm chuyên môn Lý thuyết và lịch sử kiến trúc, khoa Kiến trúc và Quy hoạch,
Đại học Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2026)


Tài liệu tham khảo
[1] N. Q. Định: Mỹ thuật Đông Dương: sự hình thành và phát triển, 1st ed. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới, 2024;
[2] Hội Kiến trúc sư Việt Nam: Hội nghị toàn quốc lần thứ 2 (The 2nd national congress of Vietnamese architects). Hanoi, 1959;
[3] A. Baik and A. Alitany: “FROM ARCHITECTURAL PHOTOGRAMMETRY TOWARD DIGITAL ARCHITECTURAL HERITAGE EDUCATION,” Int. Arch. Photogramm. Remote Sens. Spat. Inf. Sci., vol. XLII–2, pp. 49–54, May 2018, doi: 10.5194/isprs-archives-XLII-2-49-2018.