Những luận cứ xây dựng mô hình dạy và học các môn lý luận và lịch sử kiến trúc

Đánh giá thực trạng việc dạy và học các môn lý luận & lịch sử kiến trúc hiện nay 
 
Trong quá trình đào tạo kiến trúc sư, đồ án được xem là môn học trung tâm. Các môn học lý thuyết khác cung cấp những kiến thức căn bản cho việc thực hành thiết kế sáng tác kiến trúc. Trên thực tế, sinh viên mới chỉ vận dụng được một vài môn học cụ thể vào đồ án như nguyên lý thiết kế, cấu tạo kiến trúc… về mặt hình thức. Còn lại hầu hết đồ án cho thấy sinh viên chưa hiểu biết sâu sắc về kiến trúc truyền thống, không tìm được mối nối giữa kiến trúc truyền thống và kiến trúc đương đại, cũng không định hướng được sự phát triển tương lai của kiến trúc … 
 
Nguyên nhân cơ bản là do việc sắp xếp các môn học từ Lịch sử kiến trúc phương Tây đến Lịch sử kiến trúc phương Đông đến Lịch sử kiến trúc Việt Nam là một tiến trình chưa hợp lý. Sinh viên học Lịch sử kiến trúc Việt Nam ở học kỳ II của năm học thứ 4 nên trong suốt thời gian trước đó họ không hiểu biết về kiến trúc truyền thống một cách sâu sắc. Mặt khác, chương trình học lý thuyết chiếm 100%, không có thời lượng cho việc thực hành, tham quan, thực tập. Kiến thức đang cung cấp cho sinh viên hiện nay chủ yếu là kiến thức chính thống sách vở, không đủ thời lượng để thực hành hay cung cấp thêm kiến thức từ thực tế. Đó cũng là nguyên do khiến cho sinh viên không thể cảm nhận thực sự về không gian kiến trúc, về không gian công trình sau khi đã học Lịch sử kiến trúc nên chưa biết vận dụng những bài học của thiết ke kiến trúc truyền thống vào sáng tác kiến trúc, thiếu sự nối kết giữa lý thuyết và thực hành… Kinh nghiệm từ các trường đại học nước ngoài cho thấy giờ học liên quan đến kiến trúc địa phương được chú trọng đưa lên hàng đầu và chiếm 50% thời lượng lý thuyết, 50% thời gian còn lại dành cho việc tham quan thực tế nên sinh viên không những chỉ hiểu biết mà còn thẩm thấu được không gian bên trong công trình. 
 
 Các chuyên đề thảo luận về văn hóa và kiến trúc địa phương làm sinh viên không những chỉ hiểu biết mà còn thẩm thấu được không gian bên trong công trình
 
Mặt khác, với một số môn học lý thuyết hiện nay, nội dung giảng dạy còn có tính khái quát chung, chưa thật sự hướng trọng tâm vào Kiến trúc nên đôi khi khô khan, gây ra sự nhàm chán trong quá trình học và sinh viên chưa thấy được lợi ích cùng với những ứng dụng liên ngành của môn học vào Kiến trúc.
Trong hệ thống các môn học lý thuyết nói chung, ngoài môn Cơ sở văn hóa Việt Nam, các môn học cung cấp những kiến thức xã hội, kiến thức văn hóa nghệ thuật, kiến thức về văn hóa Việt Nam gần như không có (ví dụ như Văn hóa đô thị, lịch sử nghệ thuật, mỹ học kiến trúc, nghệ thuật dân gian Việt Nam…). Đây là những môn học mang tính chất cội nguồn văn hóa Việt Nam nhưng chưa được chú trọng giảng dạy.
 
Kiến trúc là một ngành nghệ thuật – kỹ thuật tạo dựng và xử lý môi trường sống trong không gian, chính xác hơn là mô hình lục không như một khối rubic sáu mặt mà không có mặt nào được xem nhẹ hơn mặt khác. Kiến thức văn hóa, xã hội và hiểu biết về quy hoạch cần phải được tích hợp và chuyển hóa thành giải pháp cụ thể. Thế nhưng không ít đồ án kiến trúc đã nổi cộm chủ nghĩa hình thức chứ không còn thời gian nghiên cứu các thành phần không gian khác tương ứng nên thường thiếu đi chiều sâu và chưa bộc lộ được bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu sinh viên có cố gắng vận dụng kiến trúc truyền thống vào đồ án thì cuối cùng vẫn chỉ là sự gượng ép và chủ yếu là dừng ở hình thức bên ngoài.
 
Thành công của KTS Võ Trọng Nghĩa với giải thưởng kiến trúc quốc tế từ quán caphê “Gió & nước”  ở Bình Dương là một minh chứng cho việc ứng dụng được những tinh hoa của kiến trúc truyền thống vào công trình đương đại. Bài học từ thiết kế tranh tre nứa lá phù hợp với đặc điểm tự nhiên và quan niệm sống, phong tục và văn hóa  của người Việt là bài học đã có từ ngàn đời của cha ông ta.
 
NHỮNG LUẬN CỨ XÂY DỰNG MÔ HÌNH DẠY VÀ HỌC CÁC MÔN LÝ LUẬN & LỊCH SỬ KIẾN TRÚC
 
Hướng tới việc đào tạo theo tín chỉ, cần modun hóa các môn học, tạo sự liên thông cho sinh viên trong quá trình học. Vì vậy, 2 năm đầu tiên vẫn là chương trình học những môn cơ bản, 3 năm sau là các môn chuyên ngành. Trong đó Lịch sử kiến trúc và các Chuyên đề thuộc về nhóm các môn học chuyên ngành.
Để đáp ứng mục tiêu đào tạo kiến trúc sư có chất lượng cao, hội nhập được quá trình phát triển xã hội mà vẫn mang nét truyền thống trong sáng tác kiến trúc, rất cần sự thay đổi trong nội dung chương trình và phương pháp đào tạo kiến trúc sư hiện nay.
 Các buổi sinh hoạt ngoại khóa mang đến cho sinh viên nhiều kiến thức thực tế
 
Với tất cả các môn học, nội dung và phương pháp giảng dạy cần hướng trọng tâm vào Kiến trúc, tăng hàm lượng nội dung về kiến thức và kỹ năng giao tiếp, ứng xử với môi trường xã hội, ứng xử với kiến trúc. Đặt ra những tình huống và bài học cụ thể để sinh viên ứng xử với xã hội với môi trường, với không gian kiến trúc :
Ví dụ như Nguyên lý thiết kế không chỉ đơn thuần là học về dây chuyền tổ chức công năng và những nguyên tắc chung của việc thiết kế các thể loại công trình, mà sinh viên cần được làm những bài toán về thiết kế kiến trúc trong môi trường cụ thể, trong những điều kiện cụ thể về văn hóa, về kinh tế xã hội, về địa hình thổ nhưỡng khu vực…vv. Triết học ngoài những kiến thức rất căn bản cần tập trung cho sinh viên cái nhìn qua lăng kính Kiến trúc, giúp sinh viên có những hiểu biết về tính triết học trong kiến trúc, phân tích được triết lý trong các công trình kiến trúc, biết ứng dụng triết học vào việc thiết kế kiến trúc. Trắc địa, hay kết cấu công trình không phải để biến sinh viên kiến trúc thành những kỹ sư xây dựng biết tính toán “nửa vời” mà để sinh viên  biết chọn lựa giải pháp kết cấu hợp lý cho thể loại công trình và phù hợp với kinh tế xã hội, thẩm mỹ và công năng…vv. 
 
Đối với các môn học Lịch sử kiến trúc cũng vậy, nội dung giảng dạy không chỉ dừng lại ở việc mô tả các hình thức kiến trúc trong lịch sử mà quan trọng là quá trình phát triển của kiến trúc để thấy mạch nối xuyên suốt giữa kiến trúc truyền thống – hiện tại – tương lai. Song song với việc học về tập quán văn hóa, ứng xử không gian, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nghệ thuật đời thường, nghệ thuật dân gian… sinh viên sẽ có cái nhìn mang dấu ấn học thuật, đa dạng hơn và sâu sắc hơn. 
Dạy và học Lịch sử kiến trúc không thuần túy là học những gì của ngày hôm qua mà còn là định hướng, quy luật, bài học cho ngày mai, là sự tổng kết quá khứ để dự đoán và hướng tới tương lai. Lịch sử kiến trúc phải đáp ứng được mục tiêu cung cấp tư liệu, quá trình phát triển của thể loại công trình, sự phát triển kiến trúc trên thế giới, các xu hướng, nguyên nhân và các bài học kinh nghiệm, tương lai của lịch sử… 
 
Cần có sự thay đổi căn bản: nhìn lịch sử đa chiều, liên ngành với các môn học và các ngành nghệ thuật khác; nhìn với tư duy nhân văn, thay đổi thói quen nhìn lịch sử thông qua khái niệm về các con số, hay đơn thuần là mô tả công trình, không cứng nhắc đánh giá lịch sử qua một lăng kính cố định hoặc một khuôn mẫu quen thuộc. Cần nhìn nhận và đánh giá các công trình kiến trúc truyền thống từ nhiều chiều phù hợp với bối cảnh ra đời để rút ra được những bài học hữu ích cho hôm nay, tránh được tình trạng các đồ án kiến trúc hoặc không mang dấu ấn văn hóa bản địa, hoặc chỉ là những tác phẩm nhại cổ.
 
Đề nghị cấu trúc chương trình học các môn Lịch sử kiến trúc thay đổi như sau: Lịch sử kiến trúc Việt Nam (HKI năm thứ 3) – Lịch sử kiến trúc phương Đông (HKII năm thứ 3) – Lịch sử kiến trúc phương Tây (năm thứ 4). Như vậy, sinh viên được tiếp cận và tìm hiểu về kiến trúc bản địa trước khi có cái nhìn ra thế giới là một quy trình hợp lý cả về thời gian và tư duy kiến thức.
 
Các môn học Lịch sử kiến trúc phương Tây, Lịch sử kiến trúc phương Đông, Lịch sử kiến trúc Việt Nam nên tăng thời lượng để trong quá trình học có thảo luận và tham quan thu hoạch. Nên tăng số lượng các Chuyên đề lý luận kiến trúc. Sinh viên được quyền tự chọn và đăng ký học chuyên đề. Các chuyên đề bắt đầu được học từ năm thứ 3 và được tổ chức song song với quá trình học đồ án để phục vụ cho đồ án. 
 
Gắn các môn Lịch sử kiến trúc và các chuyên đề với quá trình thực hành thông qua các đồ án ngắn hạn để sinh viên thể hiện được kiến thức và sự hiểu biết của mình về lĩnh vực lịch sử văn hóa kiến trúc.
 
Xây dựng ngân hàng các chuyên đề đa dạng phong phú theo 2 nhóm : nhóm Lý luận (ví dụ: chuyên đề Bảo tồn di tích kiến trúc, Văn hóa phương Đông và kiến trúc, …); nhóm Kỹ thuật (ví dụ: chuyên đề trang thiết bị kỹ thuật trong công trình, chuyên đề kiến trúc nhà cao tầng, kiến trúc bệnh viện, kiến trúc nhiệt đới…). Cần thiết xây dựng thêm các chuyên đề mới để có thể tăng cường kiến thức về kiến trúc và văn hóa Việt Nam áp dụng một cách hiệu quả vào chương trình đào tạo kiến trúc sư như Mỹ học kiến trúc, Phân tích kiến trúc, Lịch sử nghệ thuật, nghệ thuật dân gian, … 
 
Cuối cùng, chất lượng đào tạo sẽ hiệu quả hơn nếu sinh viên có được một khoảng thời gian thực tập trước tốt nghiệp, một vấn đề tuy được xem là khó khả thi trong thời buổi kinh tế thị trường nhưng không phải là bế tắc hoàn toàn, ví dụ như tổ chức đi thực tế, giao bài tập từ những xưởng thiết kế bên ngoài, tổ chức hội thảo khoa học về những đề tài xã hội đang quan tâm… Có thể nói học kỳ 9 với việc phân bổ chương trình hợp lý sẽ mở đầu cho sự chín chắn của sinh viên trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp sau này. 
 
ThS.KTS Nguyễn Bích Hoàn
Trường Đại học kiến trúcTP.HCM