Những cuộc chuyển dời
KTS Bùi Quang Hanh sinh năm 1913 tại làng Tân An Đông, tổng An Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Từ thuở thiếu thời, ông đã cùng một số thân nhân trong gia tộc lên tàu viễn dương để bắt đầu cuộc sống mới của một gia đình Việt trên đất Pháp, một nước Pháp đang bắt đầu hồi phục sau Thế chiến thứ nhất. Năm 1934, ông trở thành sinh viên ban Kiến trúc trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris [1]. Năm 1942, ông tốt nghiệp KTS trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, trở thành thế hệ KTS người Việt thứ hai tốt nghiệp KTS tại Pháp (sau những người Việt đầu tiên tốt nghiệp vào giữa thập niên 1930: Nguyễn Duy Đức [2], Nguyễn Khắc Schéou [3] và Lữ Văn Nhiều [4]).
Tốt nghiệp trong bối cảnh nước Pháp nói riêng và toàn châu Âu nói chung đang chìm trong sự hỗn loạn của Thế chiến thứ hai cùng với sự hiện diện của quân đội Nhật tại Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, ông tiếp tục ở lại Pháp dù sự quan tâm của cựu lục địa giai đoạn này dành nhiều cho những chương trình chiến tranh hơn những chương trình kiến thiết hay tái thiết.
Khi Thế chiến thứ hai kết thúc, ông trình luận án tốt nghiệp đô thị gia tại Học viện Đô thị, Viện Đại học Paris [5] năm 1946, trở thành đô thị gia người Việt thứ hai tốt nghiệp tại Pháp sau người tiên phong Lữ Văn Nhiều vào giữa thập niên 1930.
Sau khi tốt nghiệp KTS và đô thị gia tại Pháp, ông rời châu Âu qua Mỹ hành nghiệp một thời gian, trở thành KTS Việt Nam đầu tiên hành nghiệp kiến trúc tại Mỹ, đồng thời ghi danh nghiên cứu về kiến trúc tiền chế trước khi trở lại Paris hành nghiệp và nghĩ suy về một cuộc trở về.
Nửa đầu thập niên 1950, ông trở về Việt Nam, vẫn giữ nguyên quốc tịch Pháp như ngày vừa sinh và mở văn phòng KTS tư vụ tại đường Général Marchand trong bối cảnh Sài Gòn là nơi quy tụ rất lớn của thế hệ những KTS người Pháp đã thành danh và những KTS người Việt tốt nghiệp từ Trường Mỹ thuật Đông Dương [6] tại Hà Nội, Trường Kiến trúc Đà Lạt [7] tại Đà Lạt cùng một số KTS khác cũng từ Paris trở về.
Sài Gòn, trường Cao đẳng Kiến trúc
Trên “đường chân trời” của nền Giáo dục Việt Nam thế kỷ 20, sự hiện diện của trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn vẫn luôn mang trong mình một số phận vô cùng đặc biệt. Sau những biến cố tại Hà Nội cuối năm 1943 với những cuộc oanh tạc của không quân Đồng minh vào các vị trí nghi ngờ chiếm đóng của quân đội Nhật dẫn đến quyết định dời ban Kiến trúc vào Đà Lạt, rồi nhanh chóng phải đóng cửa khi Thầy và trò vẫn còn chân ướt chân ráo vì Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương vào mùa Xuân năm 1945; lặng lẽ mở cửa trở lại vào năm 1947 và chính thức dời vào Sài Gòn cuối năm 1950 với những nỗ lực không mệt mỏi trong việc duy trì ngôi trường đào tạo KTS duy nhất trên bán đảo Đông Dương của GS.Giám đốc – KTS bậc Thầy Arthur Émile Louis Kruze, linh hồn của trục dọc Hà Nội – Đà Lạt – Sài Gòn trong “biên niên sử” nhiều thăng trầm của trường Kiến trúc.
Sau khi trở về Việt Nam vào năm 1900, KTS Bùi Quang Hanh trở thành GS kiến trúc người Việt thứ hai tại trường Cao đẳng Kiến trúc sau một người trẻ tuổi từ Paris sớm trở về: GS Trần Văn Tải (người sẽ trở thành GS. Giám đốc người Việt đầu tiên của trường Cao đẳng Kiến trúc ở tuổi 32, sau khi GS. Giám đốc Arthur Émile Louis Kruze trở về Pháp sau Hiệp định Genève lịch sử). Sau đó là sự liên tiếp gia nhập Ban Giảng huấn Trường Cao đẳng Kiến trúc của thế hệ KTS người Việt tốt nghiệp từ trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris (các GS Phạm Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc, Huỳnh Kim Mãng, Lê Văn Lắm, Tô Công Văn) và từ chính trường Kiến trúc Sài Gòn – GS Trần Phi Hùng sau một thời gian tốt nghiệp, du học tại Mỹ cũng trở về.
Tại Trường Cao đẳng Kiến trúc, ngoài GS người Pháp Louis Anatole Georges Pineau, Thầy của hầu hết các bậc Thầy còn ở lại như một GS “viện trợ”; GS, niên trưởng Bùi Quang Hanh nhận được sự nể trọng rất mực của tất cả các GS thuộc Ban Giảng huấn và là GS duy nhất hướng dẫn đồ án kiến trúc sáng tác học cấp 1 sau Hiệp định Genève trước khi những họa thất được chia vào giữa thập niên 1960 tại Trường Cao đẳng Kiến trúc, một vị GS tài giỏi, khiêm nhường, ít nói – “Rất hiền lành, mẫu mực, đúng đắn trên mọi phương diện” [8], “Với cung cách một bậc Thầy cao niên khả kính” [9], “Để lại những khuôn thước để noi theo” [10].
Sài Gòn, sau Hiệp định Genève
Sài Gòn vừa sau Hiệp định Genève là một đại công trường dở dang khi thế hệ KTS tài danh người Pháp đã hồi hương, để lại một khối lượng kiến trúc khổng lồ cần tiếp nối và nền kiến trúc hiện đại Việt Nam nhiều cơ hội đầy rộng mở đã dần được gánh vác bởi thế hệ KTS niên trưởng người Việt tốt nghiệp từ Trường Mỹ thuật Đông Dương, Trường Kiến trúc Đà Lạt và 3 thế hệ KTS người Việt từ Pháp trở về cùng những KTS đầu tiên tốt nghiệp trường Kiến trúc Sài Gòn.
Một thời gian sau Hiệp định Genève, đường Général Marchand trở thành đường Nguyễn Cư Trinh và Văn phòng KTS tư vụ Bùi Quang Hanh tại số 51 Nguyễn Cư Trinh trở thành một địa chỉ đầy uy tín của những thân chủ là Giám đốc các nhà băng, hãng xưởng, công ty kỹ nghệ, Đại học đường, công ốc và nhiều địa ốc khác bên cạnh sự từng bước khẳng định mình của thế hệ KTS người Việt tại Bộ Kiến thiết, (sau là Nha Tổng Giám đốc Kiến thiết và Thiết kế Đô thị, Kiến Ốc cục, sau là Tổng cuộc Phát triển Gia cư), Phủ Tổng thống, Nha Công binh, các cơ quan Bộ thuộc Chánh phủ cùng hàng loạt những văn phòng KTS tư vụ hoạt động sôi nổi, tự do.
Cùng với đó, sự ra đời của KTS Đoàn giữa thập niên 1960 [11] càng làm cho vai trò của thế hệ KTS người Việt thêm vững chãi, những điều khoản đặc biệt và quyết liệt về bảo vệ danh dự và nghề nghiệp của người KTS trong diễn biến của cuộc chiến tranh đang dần lên cao và nhiều thế hệ sinh viên kiến trúc cùng KTS mới tốt nghiệp từ trường Kiến trúc Sài Gòn phải gia nhập công binh, phần lớn thời gian ở quân trường và sa trường, lấy binh nghiệp là nghề nghiệp. Điều này đã trở thành một trong những điều đáng tiếc lớn nhất của nền kiến trúc Việt Nam hiện đại.
Liên danh KTS
Hình thức liên danh KTS tại Đông Dương được hình thành đầu tiên bởi thế hệ KTS người Pháp nhằm nghiên cứu những đồ án có khối lượng lớn mà một văn phòng KTS tư vụ không thể giải quyết hết. Tiếp nối là liên danh giữa KTS người Pháp và KTS người Việt và dần trở thành quen thuộc sau Hiệp định Genève là liên danh giữa các KTS người Việt hoặc giữa các văn phòng kiến trúc quốc tế và KTS người Việt.
Riêng trong số liên danh các KTS người Việt, ngoài những liên danh giữa các KTS cùng Trường Mỹ thuật Đông Dương, Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ Thuật Paris, Trường Kiến trúc Đà Lạt hoặc Trường Kiến trúc Sài Gòn với nhau; có thể thấy những liên danh mới dần trở nên quen thuộc giữa thế hệ các KTS có sự cách biệt về tuổi đời hay có phần khác nhau về hệ thống Giáo dục và giai đoạn: D.P.L.G. [12], D.A.P.L.G. [13], D.P.L.G.I. [14], E.S.A.D. [15] và E.S.A.S. [16]. Những liên danh này, ngoài việc tăng cường sự đảm bảo đối với những đồ án có khối lượng nghiên cứu lớn còn phát huy được thế mạnh riêng của từng KTS, sự truyền thụ kinh nghiệm và trực tiếp học nghề giữa những KTS giàu kinh nghiệm và những KTS trẻ tuổi sau trường học và trong chính trường đời.
Ngoài việc là KTS trong liên danh sáng giá gồm 3 KTS DPLG: Trần Văn Tải – Bùi Quang Hanh – Lê Văn Lắm, nổi tiếng với những đồ án trường học: Sư phạm, Kiểu mẫu, Khoa học, Kỹ thuật, Viện Đại học với lối kiến trúc tân kỳ, chuẩn mực; là KTS cố vấn bản địa đối với các văn phòng kiến trúc quốc tế trong các đồ án: Đại học đường, Khu Kỹ nghệ, KTS Bùi Quang Hanh còn liên danh với những KTS là GS đồng nghiệp khác hoặc học trò cũ đã ra trường: Tô Công Văn, Nguyễn Văn Quyện, Cổ Văn Hậu.
Theo Tạp chí Xây dựng Mới năm 1959 về trường Tiểu học Sư phạm Thực hành Sài Gòn:
“Chương trình xây cất được nghiên cứu tỉ mỉ: Các lớp học tương đối đủ chỗ cho 300 nam và nữ học sinh, kiến trúc phù hợp với khí hậu, vật liệu xây cất chắc chắn, bền bỉ nhưng không đắt tiền. Tất cả đều nhắm vào tiêu chuẩn tiết kiệm, rẻ tiền để có thể dùng làm kiểu mẫu cho việc xây dựng các trường tương lai.
Trường gồm có 3 phần: Các lớp học, phòng hội và bệnh thất, văn phòng hành chánh.
- Các lớp học: 11 lớp chia ra làm 2 dãy, mỗi dãy có 1 sân chơi rộng rãi, riêng biệt cho học sinh lớn và nhỏ (các em theo lớp mẫu giáo). Tất cả đều ở dưới đất, thuận tiện cho việc ra vào và học tập hoặc thể thao ngoài sân.
Đặc điểm trong việc xây cất các lớp là tìm phương pháp ngăn ngừa sự nóng bức bằng cách chừa khoảng trống nơi giữa nóc, trần nhà dùng nhiều tấm “đan” mỏng để che nắng cho các mặt ngoài, đặt nhiều cửa lưới to rộng về hướng Bắc để có thoáng khí gió mát và tránh ánh nắng mặt trời.
Mỗi lớp có nhiều tủ nhỏ đặt sát tường dùng đựng quần áo, sách vở, dụng cụ học sinh và một cửa rộng lớn ăn thông ra vườn chơi. - Phòng hội và bệnh thất: Phòng Hội rộng rãi dùng để chiếu bóng hoặc diễn thuyết đủ chỗ cho 150 học sinh. Trong phòng có sân khấu bằng ván ghép lại có thể dời đi sau buổi trình diễn. Đặc biệt là 2 dàn cửa nơi chánh và tả diện vào ngày hội để một số khá đông người ngồi ngoài phòng vẫn trông vào được.
Bệnh thất dùng để khám bệnh, có chỗ cho học sinh tập đọc và tập nghe (để khám sức khỏe của tai và mắt), nơi tích trữ tài liệu dụng cụ cứu cấp, được đặt ở cạnh các lớp. Bệnh thất phải ở nơi yên tĩnh, tránh sự đùa giỡn ồn ào. - Văn phòng hành chánh: Ngoài các văn phòng thường trực còn có phòng GS, phòng tiếp khách, chỗ chứa tài liệu và dụng cụ ấn loát.
Phòng GS vừa là nơi hội họp, đàm luận, vừa để đọc sách và nghỉ ngơi.
Tất cả các thành phần trên đây đều được nghiên cứu sắp đặt cho phù hợp với sự công dụng, sự liên lạc giữa các nhân viên hành chánh, giáo viên và học sinh được mau lẹ, dễ dàng và thuận tiện.
Sau cùng là dự định một chỗ đậu xe hơi cho các giáo chức và nơi để xe đạp học sinh.”
Trong đồ án Y khoa Đại học đường Sài Gòn, cùng với các KTS người Việt: Ngô Viết Thụ, Trần Văn Tải, Lê Văn Lắm và Nguyễn Mỹ Lộc, KTS duy nhất đại diện ban 5 người KTS Việt Nam là KTS Bùi Quang Hanh đi Hoa Kỳ làm việc trong nửa năm, (từ tháng 10/1961 đến tháng 04/1962) với Ban KTS Hoa Kỳ (là: Smith, Hinchman and Grylls Associates có trụ sở văn phòng tại Detroit, bang Michigan) – Đây là những KTS được giao nhiệm vụ chính: Lập đồ án theo tinh thần của Thỏa hiệp án Chương trình Viện trợ Mỹ số 430.54.150, lập đồ án chính thức sau khi đồ án sơ bộ đã được nghiên cứu bởi Smith, Hinchman and Grylls Associates cùng toàn bộ ban KTS Việt Nam trong 4 tháng kể từ tháng 03/1961 tại Việt Nam. Kết quả là đồ án kiến trúc quy mô lớn đầu tiên được thực hiện bởi hình thức liên danh giữa một hãng kiến trúc Hoa Kỳ và một ban KTS người Việt được thực hiện, mở đầu cho các hình thức liên danh sau đó giữa nhiều đơn vị kiến trúc quốc tế và các KTS người Việt diễn ra trong những đồ án quy mô lớn tại Việt Nam suốt thập niên 1960 và đầu thập niên 1970.
Cùng với KTS tài danh Tô Công Văn, KTS Bùi Quang Hanh cũng là KTS người Việt cộng tác chính với OICC RVN [17], một cơ quan được thành lập từ năm 1965 phụ trách chương trình kiến thiết các cơ sở quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam của RMK-BRJ [18], một trong bốn tập đoàn xây dựng lớn nhất nước Mỹ. Chương trình kiến thiết đặc biệt 10 năm này từ giữa thập niên 1960 trở thành chương trình cùng bản hợp đồng kiến thiết lớn nhất lịch sử tính tới thời điểm đó. [19] [20] [21]
Dù ở một vai trò vô cùng quan trọng, vị KTS điển trai có phong thái quý tộc, lịch duyệt trong bộ complet sáng màu đứng đằng sau hàng loạt đồ án tân kỳ của OICC tại Việt Nam vẫn luôn rất kiệm lời và khiêm nhường, điều giúp ông nhận được sự kính nể của nhiều KTS đồng nghiệp, những người trọng tài, không trọng tiếng. Ông thường một mình trầm lặng đi về giữa hai trụ sở OICC trên đường Hai Bà Trưng và Tự Đức cùng những chồng họa đồ nặng trĩu, khi cần thì nói tiếng Anh với những kỹ thuật gia người Mỹ, nói tiếng Pháp trong những cuộc ngoại giao và nói tiếng Việt lơ lớ tại văn phòng KTS hoặc trên họa thất, giảng đường của Trường Cao đẳng Kiến trúc.
Thư viện Quốc gia
Năm 1955 tại Sài Gòn, Bộ Giáo dục đã mở một cuộc thi thiết lập đồ án Trung tâm Văn hóa tại khu đất Khám Lớn cũ gồm có Thư viện Quốc gia và các trường: Đại học Văn khoa, Đại học Luật khoa và Học viện Quốc gia Hành chánh. Cuộc thi không có giải Nhất. Đồ án của KTS Nguyễn Hữu Thiện, một KTS tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội đoạt giải Nhì, đồ án của KTS Bùi Quang Hanh đoạt giải Ba.
Năm 1957, chương trình kiến thiết được thực hiện theo đồ án của liên danh 3 KTS: Nguyễn Hữu Thiện – Bùi Quang Hanh – Lê Anh Kim (một KTS trẻ tuổi, tài năng thuộc thế hệ Đà Lạt – Sài Gòn – Paris trở về) nhưng chỉ thực hiện được một phần vì thời cuộc.
Năm 1965, đồ án Thư viện Quốc gia được chính thức khơi lại một cách toàn diện và việc khẩn thiết phải thực hiện là tìm kiếm một “KTS hữu danh” [22], hội tụ đủ tất cả những điều cần có đối với một đồ án kiến trúc có tầm quan trọng bậc nhất nhằm “mở rộng chân trời văn hóa trong bối cảnh “liên lập quốc tế” của kỷ nguyên nguyên tử hiện nay”. [23]
Vị KTS hữu danh được đề cập đó là Bùi Quang Hanh và đồ án Thư viện Quốc gia còn có sự trợ lực rất lớn của Trương Văn Long, KTS tương lai của đồ án trường Kiến trúc Sài Gòn mới cùng Trần Quang Nhựt Huân, những sinh viên kiến trúc đang thực tập tại văn phòng, một số cán sự và họa viên kiến trúc khác.
Cùng với yêu cầu “xây đắp và phát huy một nền văn hóa vừa bắt nguồn trong truyền thống cổ truyền của dân tộc vừa có tính cách cấp tiến, phù hợp với trào lưu tư tưởng và văn minh thế giới” [24], KTS Nguyễn Hữu Thiện, một KTS giàu nhiệt tâm về việc nghiên cứu những kiến trúc mới chuyển tải tinh thần từ nguồn cội Việt Nam, chủ soái phong trào quay về kiến trúc dân tộc thập niên 1960 trở thành KTS cộng tác với KTS Bùi Quang Hanh trong đồ án Thư viện Quốc gia về những thành phần mang đường nét dân tộc và kiểm tra công trường. KTS Nguyễn Hữu Thiện cũng là một GS nhiệm giáo đã nhiều năm tại trường Kiến trúc Sài Gòn.
Nhân vật thứ ba của liên danh không phải người xa lạ, đó là KTS Lê Văn Lắm, KTS của đồ án đại cương năm 1963 và tại thời điểm thiết lập liên danh, ông đang là đương kim Tổng Giám đốc Nha Kiến thiết và Thiết kế Đô thị trực thuộc Bộ Công chánh, cơ quan gánh vác rất nhiều nhiệm vụ thực thi các chương trình quốc gia về đô thị và kiến trúc. KTS Lê Văn Lắm cũng là GS đã nhiều năm tại trường Kiến trúc Sài Gòn, giảng dạy chương trình ban Thiết kế Đô thị.
Theo báo cáo của mùa Thu năm 1967 của các KTS nghiên cứu Thư viện Quốc gia:
“Cạnh Thư viện Quốc gia được xây cất có Dinh Gia Long [25], Pháp đình [26] và Dinh Độc Lập. Nằm trong khu vực này, Thư viện cần được xem là một kiến trúc quan trọng, vừa vững chắc, bền vững, lâu dài và vừa đẹp đẽ, xứng đáng là một vật báu… Kiến trúc được nghiên cứu với những đường nét Việt Nam, nơi bên ngoài lẫn bên trong các phòng đọc sách, khách sảnh, thính đường, phòng triển lãm,… sẽ trù liệu, kiến tạo và trang hoàng theo lối Việt Nam.
Dù thế, Thư viện Quốc gia phải được hòa hợp với Dinh Gia Long về chiều cao cũng như về khoảng thối lui và hình dáng kiến trúc bên ngoài với những cột cao từ nóc đến tận nền nhà cùng một phần nhô ra để che lối vào cửa chính.
Một cách tổng quát, các phòng đọc sách, mượn sách, đọc báo chí, phòng họp hoặc phòng triển lãm,… đều nằm ở tầng trệt hoặc tầng lầu 1 để dân chúng tiện ra vào, còn các kho chứa đồ án, báo chí, câu lạc bộ,… đặt dưới tầng hầm là nơi nhân viên Thư viện làm việc cũng như các kho sách đặt từ tầng lầu 1 đến tầng thứ 14 (không có liên lạc với dân chúng) ngoài các phòng quan trọng như phòng đọc sách, phòng triển lãm đều được nằm trên lầu 1 để có thể thông ra các vườn hoa.
Về phương hướng, chính diện thông ra đường Gia Long [27] nhắm hướng Tây Bắc nên cần có hành lang và mặt lưới bằng bê tông che bớt nắng chiều. Hậu diện đường Lê Thánh Tôn hướng Đông Nam trông ra vườn hoa là hướng tốt nhất nên sẽ có nhiều cửa sổ và cửa cái. Phần tả diện phía Công Lý [28] vì kiến trúc nằm gần đường và xe cộ tấp nập nên sẽ dự trù một vách tường ngăn. Hữu diện sát cạnh Đại học Văn khoa cũ chỉ dự trù những cửa sổ nhỏ vì nằm phía các văn phòng hành chánh.
Vì kinh phí dự trù quá eo hẹp so với tổng số diện tích của kiến trúc nên chỉ dùng những vật liệu xây cất có tánh cách thông dụng. Hơn nữa, Thư viện là nơi đại chúng ra vào, không nhất thiết phải dùng những vật liệu quá xa hoa như một dinh Thượng quốc với điều kiện là phải chọn loại vật liệu thật tốt, có thể bền vững lâu dài, với lại nơi khách sảnh và phòng sách sẽ dự trù trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc và sơn mài của những họa sư danh tiếng chắc chắn sẽ tăng phần thẩm mỹ của Thư viện. Ngoài ra, các vườn hoa, hồ nước… sẽ tăng thêm vẽ mỹ quan của kiến trúc.
Nơi góc đường Gia Long và Công Lý sẽ có một tượng điêu khắc kỷ niệm nơi khu đất xây cất Thư viện trước kia là một khám đường đã giam giữ nhiều nhà ái quốc Việt Nam.”
Gần cuối năm Mậu Thân 1968, công trường xây cất “bộ não khổng lồ của quốc gia” [29] mới được bắt đầu bởi hãng thầu Huỳnh Học cùng sự trợ lực của kỹ sư công chánh Hoa Trường Xuân, các họa sỹ, điêu khắc gia danh tiếng song song với hàng ngàn công trường tái thiết các công trình kiến trúc tại Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn cùng nhiều thành phố, thị xã khác.
Một cuộc chuyển dời
KTS Bùi Quang Hanh lặng lẽ rời Sài Gòn qua định cư tại Hoa Kỳ đầu năm 1975, khép lại những năm tháng đầy kỷ niệm ở quê hương trong nghề nghệp cùng những tình thân thiết, mở đầu một chương mới nhiều trầm lặng như con người vẫn luôn trầm lặng của ông. Gần 2 thập kỷ đầu sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc cũng đã chứng kiến những sự xáo trộn khôn cùng trong lịch sử của Trường Đại học Kiến trúc, từ diện mạo, chương trình cho đến muôn vàn số phận cùng biết bao di sản của ngôi trường vang bóng nay đã trở nên khó thể hình dung. Tại Hoa Kỳ, ông cũng dần gặp lại những thân hữu, đồng nghiệp, học trò cũ của mình ngoài những người không bao giờ có thể gặp lại, cùng san sẻ những nỗi đời riêng và không lần nào trở lại Việt Nam.
KTS của Thư viện Quốc gia lặng lẽ qua đời vào một ngày gần cuối tháng 12/1992 khi Lễ Giáng sinh đang gần kề tại San Jose, California, để lại bao niềm mến tiếc cùng những di sản và lòng kính trọng vô cùng đặc biệt vẫn còn lan tỏa âm thầm sau thế kỷ 20, dù là hữu hình hay vô hình, trong lòng người đang sống hay những người đã mất.
Bùi Quang Hanh, KTS.D.P.L.G., đô thị gia I.U.U.P., GS trường Cao đẳng Kiến trúc Saigon (nguồn: HSSA historic program © nguyen ngoc son library & archive)
KTS Bùi Quang Hanh một buổi chiều mùa Hè năm 1966 trong phút chờ thuyết trình đồ án Thư viện Quốc gia. (nguồn: HSSA historic program © nguyen ngoc son library & archive)
KTS Nguyễn Ngọc Sơn
Trường ĐH Kiến trúc TPHCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2024)
Tài liệu tham khảo:
[1] École Nationale Supérieure des Beaux-Arts de Paris
[2] 1935
[3] 1935
[4] 1936
[5] Institut d’Urbanisme de l’Université de Paris
[6] École des Beaux Arts de l’Indochine
[7] École d’Architecture de Dalat
[8] Ký ức của GS Nguyễn Trọng Kha, ban Giảng huấn trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn
[9] Luận án tốt nghiệp của KTS Đinh Xuân Bình, KT65 trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn
[10] Luận án tốt nghiệp của KTS Trần Ngọc Toàn, KT65 trường Cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn
[11] Sắc luật 013/65 ngày 01/09/1965 thiết lập KTS Đoàn Quốc gia
[12] Diplômé Par Le Gouvernement
[13] Diplômé et Agréé Par Le Gouvernement
[14] Diplômé Par Le Gouvernement de Indochine
[15] École Supérieure d’Architecture de Dalat
[16] École Supérieure d’Architecture de Saigon
[17] Officer in Charge of Construction, Republic of Vietnam
[18] Raymond International, Morrison-Knudsen, Brown & Root, and J.A. Jones
[19] Base Development in South Vietnam 1965–1970, Washington, DC: Department of the Army, 1991 – Dunn, Carroll H.
[20] Vast U.S. Construction Program Changing Face of South Vietnam: 1,500 Projects, Built Jointly By Military and Civilians, Also Help Reduce Supply Problems and Alter Course of the War, The New York Times, 10/12/1967 – Baldwin, Hanson W.
[21] The Vietnam Builders: Private Contractors, Military Construction and the ‘Americanization’ of United States Involvement in Vietnam, Graduate Journal of Asia-Pacific Studies, 2004 – Carter, James M.
[22] Báo cáo mùa Thu năm 1967 của ông Nguyễn Đình Minh, Giám đốc Nha Hành chánh, Bộ Văn hóa
[23] [24] Diễn văn của ông Tô Văn Quế, Đổng lý Văn phòng Tổng Bộ Văn hóa Xã hội trong buổi họp báo tại Bộ Văn hóa, 07/11/1967
[25] Nay là Bảo tàng TP.HCM
[26] Nay là Tòa án Nhân dân TP.HCM
[27] Nay là đường Lý Tự Trọng
[28] Nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa
[29] Diễn văn của ông Mai Thọ Truyền, Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa tại lễ Khánh thành Thư viện Quốc gia, 23/12/1971










































