Thời đại luôn có xu hướng “dẫn dụ” (hoặc “đày ải”) con người vào vòng quay của nó – Và chỉ có ý chí mới giúp người KTS giữ được lửa ấm đam mê của mình. Dưới đây là cuộc trò chuyện về sự nghiệp kiến trúc của một người có nền tảng nghề nghiệp đặc biệt của thế hệ thứ hai – KTS Nguyễn Trường Lưu – Ông quê ở miền Nam, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, học tập cả ở Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội và TP.HCM. Cuộc đời và sự nghiệp kiến trúc của Ông là một hành trình hòa giải những khác biệt: Giữa Bắc và Nam, giữa cái tự do nghệ sĩ với cái khuôn khổ hệ thống, giữa “cơm áo” với “túi thơ”…
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
“Độc thư phá vạn quyển, hạ bút như hữu thần”
KTS Vũ Hiệp: Xin chào KTS Nguyễn Trường Lưu! Trong nhiều tác phẩm kiến trúc của ông, tôi ấn tượng với Khu Tưởng niệm các vua Hùng ở TP.HCM, một công trình có tư duy hiện đại nhưng gợi nhớ ngôn ngữ kiến trúc truyền thống. Ông có thể kể về quá trình thiết kế công trình này?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Năm 2001, TP.HCM tổ chức cuộc thi Khu Tưởng niệm các Vua Hùng, tại Phường Bình Long Quận 9, khu đất rộng hơn 6ha là một thành phần trong khu Công viên Văn hóa Lịch sử dân tộc, rộng hơn 400 ha, do KTS Khương Văn Mười thực hiện đồ án quy hoạch. Đồ án của tôi khi đó có tên là “Đường Tre”. Đây là một con đường đi từ dưới mặt đất lên đỉnh đồi, nơi đặt Đền Tưởng niệm các Vua Hùng (đồi có độ cao 21m), hai bên đường được trồng tre với mong muốn khi hai hàng tre này sẽ phủ bóng kín cho con đường – Con đường như một trục ký ức lịch sử của đất nước từ thế kỷ 21 quay lại lịch sử thời các vua Hùng, với ý tưởng:
Thứ nhất, Tre là là biểu tượng cho sức mạnh dân tộc Việt Nam, như trong câu thơ của nhà thơ Nguyễn Duy: “Tre xanh/Xanh tự bao giờ?/Chuyện ngày xưa …/Đã có bờ tre xanh…”;
Thứ hai, tạo một tuyến không gian tĩnh lặng cho người hành hương hồi tưởng về lịch sử nước mình, trải dài 4000 năm.
Cuộc thi được thực hiện làm 02 vòng, ở vòng 01 có 14 đồ án tham dự. So với các bài dự thi khác thì tôi thể hiện phần công trình Đền Tưởng niệm sơ sài hơn, nhưng ý tưởng về mặt không gian: Con đường trở về với quá khứ thì khá đặc biệt. Kết quả, tôi lọt vào vòng 02, đứng thấp nhất trong 06 đồ án được chọn.
Vào vòng 02, tôi tập trung cho ngôi đền, công trình chính trong Khu tưởng niệm. Nhiều phương án làm theo lối giả cổ theo kiến trúc điển hình của Đền, Đình ở thế kỷ 19. Có phương án làm theo kiểu hiện đại như kiến trúc đền của KTS Tadao Ando người Nhật Bản… Tôi nghĩ cần thiết kế một ngôi đền tưởng niệm các vua Hùng ở vùng đất Nam Bộ nói chung hay TP.HCM nói riêng, có sự giao thoa giữa lịch sử và tinh thần hiện đại của vùng đất Nam Bộ, vừa theo ngôn ngữ kiến trúc đương đại, vừa thể hiện tinh thần con cháu các vua Hùng đi mở rộng bờ cõi phương Nam nhớ về tổ tiên. Khi thuyết trình trước Ban giám khảo tôi nhấn mạnh đến tính “Bản địa” của vùng đất này và tính thời đại của kiến trúc. Đền của thế kỷ 21 phải khác thế kỷ 19 hay 15… Đền vua Hùng ở Nam Bộ phải có kiến trúc hiện đại, mạnh mẽ, khoáng đạt… theo tính cách của người dân Nam Bộ, khác với ở miền Bắc hay ở Huế (Đền ở miền Bắc sẽ thâm trầm, lắng đọng, còn ở Huế phải thơ mộng) – Vì nếu làm theo phong cách truyền thống, mấy chục năm sau người ta lại ngộ nhận đó là kiến trúc thời phong kiến – như thế là giả.
Phương án kiến trúc có mái bằng hình vuông để làm sân vọng và ở giữa được khoét tròn thông với không gian lễ ở tầng dưới. Toàn khối công trình lấy hình ảnh như dáng chim Lạc hướng vọng về phía Bắc nơi Tổ tiên.
Công trình được chia làm 03 không gian:
- Không gian Hội ở tầng trệt: Không gian để trống, là nơi vui chơi, ồn ào;
- Không gian Lễ ở tầng trên: Không gian khu thờ, nơi cần sự tĩnh lặng. Ở không gian này, kiến trúc được xây dựng một hình ảnh âm bản của Trống đồng, ở giữa thiết kế Nhà để Trống đồng do Bộ Văn hóa tặng;
- Không gian Vọng trên sân thượng: Sau khi làm lễ, người dân lên không gian Vọng để bái vọng về phương Bắc nơi tổ tiên của đất nước.
Đến vòng này tôi được xếp hạng đứng đầu trong các đồ án.
KTS Vũ Hiệp: Vậy là ông đã chiến thắng ở cuộc thi này?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Không. Sau đó Hội đồng và Ban chỉ đạo cuộc thi đã đề nghị cho 03 tác phẩm đứng đầu ở vòng 02 làm nâng cấp thêm vòng 03. Và ở vòng 03 phương án kiến trúc của tôi cũng có điểm vượt trội, sau đó Ban tổ chức đề nghị tôi làm thêm một số phương án để “nâng cấp ý tưởng”, nhưng cuối cùng quay lại gần phương án đầu. Sau hơn một năm cuộc thi mới kết thúc. Công trình được xây dựng hoàn thành năm 2009.
KTS Vũ Hiệp: Qua quá trình thực hiện dự án này, dường như ông rất chú trọng đến yếu tố bối cảnh. Ông có sử dụng lý thuyết hay tư tưởng gì để định hướng sáng tác kiến trúc không?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Tôi nhớ cách đây khoảng hơn 40 năm, có lần, tôi đọc một cuốn sách của KTS Nguyễn Trực Luyện (tôi không nhớ sách của Ông viết hay dịch), nói về ý tưởng kiến trúc trong sáng tác, đại ý là: Nếu như một người sáng tác, sáng tạo tác phẩm kiến trúc mà dựa vào các lý thuyết, trường phái, xu hướng, hay nguyên lý kiến trúc để đưa ra ý tưởng thì không ổn. Những điều đó phải “thấm” vào người, KTS cũng có thể tạm “quên” nó đi trong quá trình tìm ý, sau khi hoàn thiện ý tưởng kiến trúc mới thấy nó phù hợp với xu hướng, nguyên lý hay lý thuyết chung.
Theo đó, có thể hiểu: Lý luận, trường phái giống như kiến thức cơ bản, dù rất quan trọng để làm không sai, nhưng chỉ để học thôi. Còn sáng tác thì phải có một cái gì đó thật sự xúc động. Tôi muốn nói đến tầm quan trọng của cảm nhận và trực giác của KTS, người làm thiết kế.
KTS Vũ Hiệp: Những cảm nhận/trực giác này liệu có sự khác biệt giữa người có nền tảng kiến thức và trải nghiệm thực tế về kiến trúc với người không có, thưa ông?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Có thời gian tôi được mời thỉnh giảng ở Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM, tôi hướng dẫn đồ án. Tôi thường nói với sinh viên bằng câu thơ của Đỗ Phủ: “Độc thư phá vạn quyển, hạ bút như hữu thần” (Đọc vạn quyển sách, hạ bút có thần). Biết nhiều công trình, đọc sách, đi thực tế, ghi chép lục vấn xem các bậc thầy đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề thế nào… từ đó sẽ có cảm giác, rồi trực giác.
Khác với các ngành nghệ thuật khác, kiến trúc cần có đơn đặt hàng. Mà nhiều việc tự nhiên bất ngờ tới. KTS không có sẵn hiểu biết thì sẽ bỏ qua cơ hội, hoặc làm không đủ sâu. Không nên để có đơn đặt hàng rồi mới nghiên cứu thể loại công trình đó, rồi “ép” ra phương án.
Có lần tôi hướng dẫn tốt nghiệp. Một sinh viên chọn làm thiết kế sân bay. Qua mấy lần gặp, tôi thấy bạn này cứ như trên mây, không biết gì về công năng của sân bay. Tôi mới hỏi đã đi máy bay chưa? Trả lời chưa. Tôi đề nghị sinh viên đó nên đi một chuyến máy bay và ghi chép thực tế. Thiết kế mà chỉ “xào nấu” từ sách vở thì không ra.
Trau dồi kiến thức nhưng không được bám vào sách vở. Ví dụ, tôi thiết kế trường học thì càng lên tầng trên thì càng làm hành lang rộng, vượt qua tiêu chuẩn. Vì sao? – Vì giờ ra chơi các em ở tầng trên ngại xuống sân, cứ chen chúc ở hành lang, nóng bức, chật chội.
Từ những bước chân đầu tiên đến hình thành cái tôi sáng tạo
KTS Vũ Hiệp: Tôi thấy ông nói giọng Hà Nội. Một câu hỏi hơi riêng tư một chút: Lý do gì ông lại vào TP.HCM học tập và làm việc?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Ba mẹ tôi quê ở Tiền Giang, năm 1954 tập kết ra Hà Nội. Gia đình từng sống ở 87B Lý Thường Kiệt, rồi 51 Trần Hưng Đạo (khu Liên hiệp văn học nghệ thuật), từng là hàng xóm của nhà thơ Chế Lan Viên. Bác Chế Lan Viên có lần nói với tôi: “Cháu đừng học văn, học cái gì về khoa học kỹ thuật ấy. Vì các nhà khoa học tự nhiên có thể viết văn, làm thơ còn nhà thơ thì không biết sửa điện trong nhà”. Hồi phổ thông, tôi học giỏi các môn tự nhiên, nên năm 1972 thi ĐH Tổng hợp Hà Nội. Học được một năm thì bị chuyển trường vì nghịch quá.
Đang lúc vất vưởng thì gặp anh Trịnh Cường đang là sinh viên kiến trúc, rủ tôi thi vào Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội, bảo là học vui lắm, trong khi anh ấy học khóa K71 bị tụt xuống khóa K73. Năm ấy, thi đầu vào là các môn Toán, Lý, Hóa – tôi đỗ ngay. Vào rồi mới học vẽ, tôi thấy rất vui. Sau học kỳ một, ai có điểm vẽ tĩnh vật và bảng kẻ chữ (chắc là luyện nét bằng bút chì) cao thì vào học khoa Kiến trúc, điểm thấp thì vào khoa Xây dựng, Đô thị. Vốn là dân chuyên về khoa học tự nhiên nên học các môn tự nhiên ở năm thứ nhất đối với tôi rất nhàn, đôi khi cũng bỏ lớp, trốn học bắt tàu hỏa đi chơi từ ga Phúc Yên tới Việt Trì – Lào Cai. Trong trường có mấy thầy cô Nam Bộ tập kết, khuyên tôi ở lại Xuân Hòa để luyện vẽ. Tôi nghe theo, ở lại nhờ cô Dung kèm thêm. Hết học kỳ một, tôi được chọn vào khoa Kiến trúc.
Học hết năm thứ hai, năm 1976, tôi theo gia đình vào TP. HCM và tiếp tục học kiến trúc ở Trường ĐH Kiến trúc TP. HCM, và làm việc ở Thành phố đến bây giờ.
KTS Vũ Hiệp: Là một sinh viên có nền tảng học vấn và kinh nghiệm sống ở miền Bắc, ông có gặp khó khăn gì khi học tập trong môi trường mới: Trường ĐH Kiến trúc TP. HCM?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Năm tôi vô học chương trình của Trường Kiến trúc Sài Gòn cũ, vẫn theo chương trình của Pháp là 6,5 năm, học xong được cấp bằng KTS (tương đương chứng chỉ Đệ tam cấp), ra trường là được hành nghề. Sau này mới dần dần điều chỉnh cho thống nhất khung chương trình chung của Bộ Xây dựng – các khóa sau rút xuống 6 năm, rồi 5 năm…
Các môn tự nhiên thấy không có vấn đề, nhưng học đồ án trong họa thất có nhiều bỡ ngỡ. Cả khóa của tôi có khoảng 45, 46 người gì đó, chia thành 04 nhóm theo 04 thầy để sửa đồ án. Với đồ án đầu tiên, các Thầy ở Trường Sài Gòn truyền đạt về kinh nghiệm thực tế của những người hành nghề nhiều hơn. Vì vậy, sau khi nghe thầy nhóm mình sửa xong, tôi đến các nhóm khác để nghe, rồi cả đến lớp trên và lớp dưới nữa. Hồi đó trường có truyền thống sinh viên khóa dưới làm “negre” (đầy tớ, đệ tử) cho sinh viên khóa trên – gọi là “patron” (ông chủ, đại ca). Tôi cũng phải tìm một patron, phụ giúp anh ấy, đổi lại, được anh ấy hướng dẫn làm bài. Cho đến nay, trường vẫn giữ truyền thống khi sinh viên khóa mới vô trường thì có sinh viên khóa lớn nhất của trường làm lễ tiếp nhận, nhưng kiểu “negre” và “patron” gần như không còn.
Một cái khác nữa là trong khi ở Hà Nội có môn Thiết kế nhanh như là một môn phụ thì ở Sài Gòn có môn tương đương – Họa cảo – lại có vai trò rất quan trọng. Mỗi sinh viên bắt buộc phải đậu hai bài Họa cảo. Đây là đồ án “khó nhất”, gần như cả lớp rớt. Có người năm thứ sáu vẫn thi Họa cảo (của năm thứ hai) để trả nợ. Kỷ lục có người sau 21 năm quay lại trả môn Họa cảo – xong thì mới được nhận đồ án tốt nghiệp. Môn này hay vì hai lẽ: Thứ nhất, nó dạy cho mình rèn tính nhạy cảm của nghề kiến trúc, giống như chơi thể thao phải có “cảm giác banh”; thứ hai, ai mà “lỡ” đậu, thì phải theo đuổi ý tưởng đó để triển khai trong bài đồ án tiếp theo, nếu mà đổi phương án thì sẽ bị cho rớt đồ án – nó rèn sự kiên trì theo đuổi ý tưởng. Tôi “qua” hai bài họa cảo ngay từ năm đầu tiên vào Trường.
KTS Vũ Hiệp: Vậy hai năm học kiến trúc ở miền Bắc có giúp gì cho việc học tiếp ở TP. HCM của ông?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Những bài học nhập môn ở miền Bắc cho mình hiểu về nguyên lý thiết kế, về cấu tạo. Anh có thể sáng tạo bất cứ thứ gì nhưng kiến trúc ấy phải dựa trên nền tảng nào đó. Vì vậy, mình làm có lý luận, không rơi vào tình trạng làm mà không hiểu vì sao lại thế.
KTS Vũ Hiệp: Tôi từng nghe nói rằng sau năm 1975 đã xảy ra tranh luận về đào tạo KTS ở Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM giữa nhóm các Thầy từ miền Bắc mới vào với các Thầy ở Trường ĐH Sài Gòn trước năm 1975. Ông nghĩ về điều này như thế nào?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Sau khi tiếp quản, các thầy miền Bắc vào còn trẻ, lại chưa được thiết kế nhiều, trong khi các thầy miền Nam đã có kinh nghiệm hành nghề nhiều năm, nên cũng có lời qua tiếng lại. Phải đến thế hệ thứ hai đi vào TP.HCM như thầy Vũ Đại Hải, đã có kinh nghiệm thiết kế, mới không xảy ra xì xào nữa.
Hiệu trưởng đầu tiên sau năm 1975 là thầy Trương Tùng có cách quản lý khá mềm dẻo, chấp nhận chương trình đào tạo cũ. Khi ấy, thầy Nhạc thuyết phục thầy Tùng là giữ giáo trình trường Paris – Đào tạo KTS rốt cục sau khi ra trường phải là nghệ sĩ, có cái tôi, chứ không thể giống nhau đồng loạt. Đối với sinh viên, sáng tạo quan trọng hơn là bám chặt vào tiêu chuẩn.
KTS Vũ Hiệp: Đồng ý rằng tiêu chuẩn và công nghệ là những thứ không đứng yên trong kiến trúc. Vậy khi thiết kế Đài Truyền hình TP.HCM, thể loại công trình văn hóa liên quan chặt chẽ đến thiết bị, công nghệ, các cơ sở ông đưa ra bắt đầu từ đâu?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Làm kiến trúc, đầu tiên mình phải hiểu về công năng và đối tượng sử dụng công trình. Năm 1999, Đài Truyền hình Thành phố mời tôi làm phương án thiết kế. Ngay từ khi bắt đầu tôi đã có ý nghĩ: Đây không phải là công trình công cộng, văn hóa mà đây là một nhà máy “sản xuất” báo hình – Nó không thuộc loại công trình “văn hóa” thuần túy. Và tôi nghĩ nếu vẫn sử dụng dây chuyền công nghệ tại thời điểm đấy của HTV thì sẽ dễ lạc hậu về công năng, công nghệ và thiết bị. Tôi muốn đi xa hơn. Tôi yêu cầu một số cán bộ của Đài cùng với KTS đi tham quan đài truyền hình các nước Đông Nam Á và châu Âu. Đi về rồi, chúng tôi tự nhiên thấu hiểu: Phải thiết kế công trình mới này theo hướng “hội nhập”, tránh tình trạng như nhiều công trình truyền hình ở các tỉnh thành khi xây xong là phải đập phá, cải tạo lại ngay do lạc hậu về dây truyền sản xuất và công nghệ.
KTS Vũ Hiệp: Được biết, ông là con trai của nhà thơ – nhà phê bình văn học Bảo Định Giang. Vậy ông có ảnh hưởng gì từ người cha của mình hoặc từ văn học không?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Đương nhiên, tôi ảnh hưởng từ Ba một phần, ảnh hưởng phần khác là từ môi trường, nhất là những năm sơ tán sống cùng các văn nghệ sĩ, trong khu tôi ở cũng có nhiều văn nghệ sĩ và là nơi các văn nghệ sĩ đến làm việc, hoạt động… Mùa hè năm 1972, tôi cùng ba mẹ ở lại Hà Nội, tại trụ sở Hội Liên hiệp, có hầm kiên cố nên một số văn nghệ sĩ không phải đi sơ tán ở lại Hà Nội làm nhiệm vụ đã đến đây ở, trong thời gian này có những kỷ niệm khó quên với các bác Nguyễn Tuân, bác Hoàng Trung Thông… Nói chuyện với các bác văn nghệ sĩ, tôi cảm nhận được và có ý thức rất sớm về việc làm nghệ thuật là như thế nào.
KTS Vũ Hiệp: Trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật khác, lĩnh vực nào ảnh hưởng tới ông nhiều và ảnh hưởng tới công trình kiến trúc của ông?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Tôi nghĩ tôi khá “nhạy” với các loại hình nghệ thuật, trong đó văn học ảnh hưởng nhiều, ngoài ra là những lĩnh vực cảm nhận thị giác như điêu khắc, tranh, nhiếp ảnh – Đó là những lĩnh vực rất gần với kiến trúc. Ở văn phòng kiến trúc của tôi, khi tuyển dụng ai tôi cũng có câu hỏi: Gần đây nhất bạn đọc tác phẩm văn học nào? Bạn thích những tác phẩm văn học nào? Nếu nhận được câu trả lời “Không” thì văn phòng sẽ có thư trả lời: “Cảm ơn bạn, bạn chưa đáp ứng được tiêu chí của văn phòng, hẹn bạn dịp khác”.
KTS Vũ Hiệp: Sau khi tốt nghiệp đại học, ông bắt đầu hành nghề thế nào?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Sau khi tốt nghiệp, tôi và KTS Nguyễn Văn Tất được giữ lại trường làm giảng viên. Nhưng tôi không muốn làm giảng viên, thích làm thiết kế hơn. Sau này anh Tất cũng xin ra ngoài làm thiết kế. Lúc ấy, ở TP.HCM có hai viện thiết kế: Thứ nhất là Viện Khảo sát và Thiết kế thuộc Sở Xây dựng, ở đấy có nhiều KTS thuộc chế độ cũ được trưng dụng, trong đó nhiều KTS có kinh nghiệm lâu năm, thực hiện thiết kế các công trình của Thành phố và các tỉnh lân cận; Thứ hai là Viện Thiết kế Tổng hợp thuộc Bộ Xây dựng. Tôi thích Viện thiết kế của Sở hơn vì ở Viện thiết kế Tổng hợp có làm về quy hoạch, hồi đó tôi không thích quy hoạch (cười)…
KTS Vũ Hiệp: Ông có thể kể một số công trình trong thời gian làm việc ở Viện thiết kế TP.HCM?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Quy định thời đó là sau khi ra trường, làm thực tập hai năm, đơn vị công tác nhận xét đạt, chấp thuận nhận chính thức thì mới quay lại trường lấy bằng. Người nào nhanh thì sau hai năm thực tập có thể làm chủ trì thiết kế công trình. Lúc bắt đầu đi làm, các đàn anh hay nhờ tôi phụ giúp, ngoài các công việc được giao. Tôi nhận làm hết, không quan tâm đến tiền công, nhiều hôm cặm cụi đến khuya. Thời bao cấp, dù anh làm nhiều hay ít thì nhận lương hàng tháng đều như vậy – 63 đồng/ tháng. Viện trưởng Trần Ngọc Lếnh từng hỏi tôi: Vì sao ôm đồm công việc nhiều như vậy. Tôi trả lời: “Người ta buôn bán phải có vốn, vốn của mình là kiến thức, nên trau phải dồi “nhiều vốn” – Tôi nghĩ sau này kiểu gì mình sẽ gặp thể loại công trình này, còn nếu mình có làm sai thì đàn anh cũng không mắng… (Cười).
Sau khi hết thời gian tập sự, tôi được chủ trì thiết kế một số trường phổ thông. Rồi tham gia thiết kế sân vận động 40.000 chỗ ở Cần Thơ, hồi đó thiết kế phải làm sân đắp đất vì lúc ấy bị cấm vận, không có vật liệu để xây. Ngoài ra, tôi còn tham gia cải tạo Nhà thờ Tuyên Úy của chế độ cũ trở thành Nhà Thiếu nhi Gia Lai Kontum (cũ). Công trình cuối cùng trước khi nghỉ là Nhà Thiếu nhi Thành phố, được giải thưởng Kiến trúc Quốc gia. Sau này công trình bị đập đi làm mới, công trình thiết kế mới cũng do tôi thiết kế.
KTS Vũ Hiệp: Vậy là ông đã nghỉ làm ở Viện thiết kế từ năm 1990?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Năm 1990, đất nước đã đổi mới được mấy năm. Anh em KTS đã nhận nhiều việc ở bên ngoài, dù vẫn phải “nhờ dấu” cơ quan nhà nước. Tôi xin nghỉ ở Viện vì thu nhập thấp quá, không đủ nuôi gia đình. Nhưng lãnh đạo Viện không cho nghỉ, bảo rằng tôi thuộc diện cán bộ quy hoạch, phải được sự đồng ý của Giám đốc Sở và Ban Tổ chức Thành ủy. Các anh khuyên cứ để biên chế ở Viện, có việc thì mang về làm, nhận phần trăm, nhưng tôi muốn mình dứt bỏ hoàn toàn biên chế nhà nước để thực sự tham gia vào thị trường. Tôi không muốn đứng kiểu “chân trong, chân ngoài”, nửa vời.
KTS Vũ Hiệp: Rời khỏi biên chế nhà nước, ông làm gì?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Sau 03 năm ra ngoài tự làm thì cũng chưa đâu vào đâu, có lúc làm ngoài giờ cho công ty thiết kế của Bộ Quốc phòng (Công ty 56), có khi vẽ minh họa cho báo, vẽ biển quảng cáo. Năm 1993, Hội KTS Thành phố mở Công ty tư vấn ACSA, tôi đăng ký mở Văn phòng 4 trực thuộc công ty, chủ yếu thiết kế và thi công biệt thự, nhà phố.
KTS Vũ Hiệp: Ở Việt Nam, vừa thiết kế và vừa thi công biệt thự thì thu nhập tốt hơn làm thiết kế thuần túy rồi, nhưng thời gian làm thi công cũng hơi lãng phí chất xám kiến trúc đúng không ạ?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Năm 1996, có lần tôi gặp lại đồng nghiệp cũ ở Viện thiết kế, cậu ấy bảo: “Anh giờ thay đổi nhiều quá, nhậu nhẹt, chửi thề. Em thấy tiếc cho anh”. Câu nói đó làm tôi suy nghĩ nhiều.
Có lúc đỉnh điểm, tôi thi công đồng loạt mười mấy công trình. Thời gian suốt ngày chỉ để giải quyết sự vụ thực tế. Điều đó làm tư duy ngắn lại, không suy nghĩ dài hạn. Mà chỉ loanh quanh làm biệt thự, không có cơ hội thiết kế công trình lớn.
Suy đi tính lại, tôi quyết định không thi công nữa, quay lại chăm chú vào thiết kế. Thực tế lúc đó cho thấy: Muốn thiết kế các công trình lớn, chỉ có cách tham dự các cuộc thi tuyển. Vậy là tôi tham gia các cuộc thi, bị rớt cũng nhiều (đến 2/3 là thất bại), hoặc có cái thắng nhưng chấp nhận làm lỗ để lấy tiếng. Mình có tiếng, một số đơn vị chủ động mời thiết kế.
“Tôi may mắn được làm kiến trúc với Ý chí kiên định!”
KTS Vũ Hiệp: Trong cuốn sách “Kiến trúc hiện đại miền Nam Việt Nam”, Nhà nghiên cứu kiến trúc Mel Schenck (người đã đến miền Nam Việt Nam từ trước năm 1975) cho rằng: Miền Nam Việt Nam là một trung tâm kiến trúc hiện đại trên thế giới biểu hiện “Chủ nghĩa bản địa giữa thế kỷ 20”. Ông nghĩ thế nào về nhận định này của KTS Mel Schenck.
KTS Nguyễn Trường Lưu: Ông Mel Schenck có tặng cho tôi 1 cuốn sách này. Tôi nghĩ đây là một cuốn sách sưu tập, nhận xét… về các công trình kiến trúc xây dựng ở miền Nam Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng trong những thập niên 1950 – 1975. Cuốn sách này không thuần túy là một cuốn sách giới thiệu kiến trúc chung chung vì tôi thấy có nhiều KTS đồng nghiệp của tôi cũng chưa hiểu lắm về kiến trúc hiện đại và kiến trúc đương đại. Hồi tôi đi học cũng như sau này, nhiều người thường gọi các công trình kiến trúc này là kiến trúc “nhiệt đới”, điển hình là các thể loại kiến trúc có hệ thống lam ngang, lam dọc, hệ thống gạch hoa tường (gạch bông gió) dùng để chống bức xạ mặt trời, mưa ảnh hưởng trực tiếp vào công trình nhưng vẫn để gió mát vào bên trong. Sau này hình thức kiến trúc đó nhiều KTS gọi là kiến trúc hai da, kiến trúc hai lớp …
Cuốn sách đã được tái bản với sự quan tâm của các KTS, nó như một lời cảnh báo tới giới nghề và công chúng: Miền Nam Việt Nam và TP.HCM đang có một kho vàng về những công trình đặc thù kiến trúc của thế giới. Dù vậy, đến nay nhiều công trình đã bị đập bỏ – Tôi gọi những công trình này là kiến trúc tiền di sản, vì có nhiều công trình đã có tuổi đời hơn 70 năm. Nếu chúng ta giữ gìn thì mai sau chúng ta có một quỹ di sản kiến trúc mang tính bản địa.
KTS Vũ Hiệp: Mel Schenck, trong cuốn sách của mình, có nhắc tới công trình mở rộng Kho bạc Nhà nước TP. HCM tại số 37 Nguyễn Huệ do ông thiết kế, viết rằng:“Theo kiến trúc hiện đại đương thời nhưng nó tuân theo các nguyên tắc của kiến trúc hiện đại Việt Nam giữa thế kỷ 20, vốn được thiết lập từ năm 1950”. Ông cho biết về quá trình thiết kế mở rộng tòa nhà này?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Về công trình Kho bạc Nhà nước TP.HCM, được khởi công xây dựng vào năm 1917 theo hình thức kiến trúc tân cổ điển Neoclassical architecture. Đến năm 2002, công trình phải mở rộng do nhu cầu sử dụng ngày càng lớn. Đây là một bài toán khó, vì khu đất hiện hữu không còn quỹ đất cho phần mở rộng. Vì vậy, giải pháp kiến trúc phải thiết kế giữa công trình kiến trúc hiện hữu và công trình mới mở rộng (cao tầng) phải hài hòa và đảm bảo công trình mới xây dựng không ảnh hưởng tới kiến trúc và kết cấu của công trình hiện hữu.
Tôi đã nghiên cứu các phương án để trình bày với Chủ đầu tư dựa trên quan điểm: Công trình mới theo hình thức kiến trúc hiện đại; tìm giải pháp để hình thức kiến trúc đương đại và hình thức kiến trúc tân cổ điển hài hoà giữa công trình hiện hữu và công trình mới.
Ở thời điểm này các công trình kiến trúc thuộc địa Pháp đã mặc nhiên là di sản kiến trúc TP.HCM. Mặt khác, kiến trúc hiện đại xây dựng từ năm 1950 đến năm 1975 đã là kiến trúc chủ đạo của thành phố Sài Gòn, hai kiến trúc này đã hòa quyện với nhau trong một không gian vùng lõi đô thị một cách hài hòa. Kiến trúc đương đại tạo cho công trình cải tạo mở rộng một tổ hợp kiến trúc tương phản để tôn nhau lên giữa cái mới và cái cũ (kiến trúc này trên thế giới đã làm nhiều) nhưng người dân thành phố vẫn chưa quen. Nếu phương án kiến trúc mới dựa theo kiến trúc tân cổ điển của kiến trúc hiện hữu thì sợ sau này người dân Thành phố cho rằng khối nhà cao tầng cũng được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 20. Vì vậy, tôi đã chọn phương án kiến trúc hiện đại để thuyết phục Chủ đầu tư. Việc này rất khó, khiến cho phương án phải dừng gần 02 năm sau mới được thuyết trình lại và Chủ đầu tư chấp thuận. Trong buổi thuyết trình, có thành viên của Chủ đầu tư còn nói: “Các anh miền Nam lạ thật, phương án kiểu Pháp đẹp thế mà không chọn, đi chọn phương án xấu”!?
Nhắc đến chuyện này, để thấy rằng: Nghiên cứu của Mel Schenck rất đáng chú ý khi khẳng định giá trị của kiến trúc Sài Gòn – TP. HCM giữa thế kỷ 20.
Lúc trước, tôi có nói cuốn sách là một lời cảnh báo, bởi lẽ: Ngày nay, chúng ta nói về di sản, toàn nói các công trình của Pháp thuộc. Cứ như vậy thì mãi mãi sẽ không có thêm di sản. Tôi cho rằng kiến trúc hiện đại bản địa của Sài Gòn cũng là tiền di sản cho kiến trúc TP.HCM mai sau.
KTS Vũ Hiệp: Được biết ông thiết kế rất nhiều công trình và thể loại công trình. Khi thiết kế, bên cạnh “gu” của chủ đầu tư, ông có hay gặp khó khăn khác?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Thiết kế cùng một thể loại, thì cái sau phải khác cái trước, mình phải thắng mình – Đấy chính là khó khăn. Công nghệ thay đổi, mình phải bắt đầu lại, không làm theo quán tính được.
Môi trường hành nghề ở Việt Nam còn nhiều cái bất lợi cho KTS. Chẳng hạn chủ đầu tư là doanh nghiệp hay tư nhân, cứ bảo: Làm vài phương án xem sao. KTS làm xong thì không chọn cái nào, mà cũng không tạm ứng. Rút kinh nghiệm, lúc đầu tôi phải xem gu chủ nhà thế nào, nếu thấy không hợp thì giới thiệu KTS khác phù hợp hơn.
Còn Chủ đầu tư là doanh nghiệp nhà nước (vốn ngân sách nhà nước), khi trình bày phương án nhiều lãnh đạo phát biểu: “Em không rành và không hiểu về kiến trúc lắm”… nhưng “Theo ý em là: 1….; 2….; 3….” – Chỉ cần mấy cái ý chấm chấm thì ở văn bản Chủ đầu tư gởi đơn vị thiết kế trở thành quyết định phải thay đổi (cười) – Tôi cũng không biết nên giải quyết cách nào?!
KTS Vũ Hiệp: Nhiều KTS tiếng tăm đều gắn với hình ảnh của công ty mình thành lập, sao tôi thấy ông không giới thiệu công ty của mình mà chỉ giới thiệu cá nhân ông?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Từ lúc mở Văn phòng 4 thuộc Công ty TNHH Xây dựng Kiến trúc Miền Nam (ACSA), tôi cảm nhận nếu mình mở công ty thì phải có bộ máy quản lý, nếu không thì lại sa đà vào công tác quản lý, không còn thời gian làm chuyên môn. Mà làm không đúng pháp luật thì cũng chết. Thiết kế nhiều công trình lớn nhưng tôi chưa bao giờ có công ty của mình, mà thường đứng với công ty đối tác. Mình chỉ làm nội dung chuyên môn, nhường người khác làm quản trị.
KTS Vũ Hiệp: Quay lại vấn đề Chủ nghĩa Hiện đại bản địa của kiến trúc miền Nam. Ông suy nghĩ gì về vấn đề này với những kiến trúc mới hiện nay?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Có 3 trụ cột ảnh hưởng nhau: Thiên nhiên – Con người và Kiến trúc. Ba yếu tố này tương tác, có thể bổ trợ hoặc phá hoại nhau. Kiến trúc hiện đại Sài Gòn có hệ thống lam, tường hoa gió, tường hai lớp, vì nó phù hợp với khí hậu hai mùa mưa và khô. Kiến trúc mới nên nghĩ về bản địa, trước đây làm bê tông, giờ nhôm và vật liệu mới – Cái gốc của kiến trúc là thiên nhiên và phải hiểu cái chữ “bản địa” rộng hơn – Bản địa là điều kiện tự nhiên của vùng đất và con người của vùng đất đấy.
KTS Vũ Hiệp: Ông tham gia thiết kế rất nhiều công trình Nhà thiếu nhi như: Nhà Thiếu nhi Quận 2, Nhà Thiếu nhi Thành phố, Nhà Thiếu nhi Quận 11. Vậy các công trình này có thể hiện kiến trúc bản địa khu vực TP. HCM và vùng Nam Bộ không?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Nhà Thiếu nhi Quận 2 tôi làm năm 2001, Nhà Thiếu nhi Thành phố tôi làm năm 2014 Và Nhà thiếu nhi Quận 11 tôi làm năm 2019. Tất cả các công trình này tôi đều dựa trên tiêu chí: Trẻ em thích thiên nhiên giống như hồi mình còn đi học mình thường nhìn ra ngoài cây cối mà không nghe bài giảng (cười) – Vì vậy, các công trình này tôi đều tạo ra thiên nhiên, cây xanh, cảnh quan cả bên ngoài và bên trong công trình. Chính cảnh quan đó cũng góp phần làm giảm độ nóng của bức xạ mặt trời.
KTS Vũ Hiệp: Như vậy, ông thiết kế đa dạng các thể loại công trình: Trường học, nhà thiếu nhi, đài truyền hình, đền thờ… Ông có thể thống kê cho đến nay đã làm bao nhiêu công trình và có bao nhiêu Giải thưởng Kiến trúc không?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Không nhớ được chính xác, khoảng 300-400 công trình, hạng mục lớn nhỏ gì đó. Về việc tham gia các cuộc thi và giải thưởng, thú thực không phải để lấy giải thưởng, mà chỉ muốn nói bạn bè là mình vẫn đang hành nghề. Hạnh phúc không phải là giải thưởng mà là quá trình thiết kế, kể cả khi đồ án của mình chưa được duyệt.
KTS Vũ Hiệp: Ông có sở thích gì trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật khác?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Cái thú đầu tiên là đọc sách văn học. Đến giờ vẫn giữ nguyên tắc là trung bình một đến hai tuần là đọc một cuốn sách văn học. Sở thích thứ hai là vẽ tranh – tôi từng học Trường ĐH Mỹ thuật TP. HCM, nhưng phải nghỉ giữa chừng vì không thể học hai trường cùng một lúc. Thứ ba, nhiếp ảnh. Tôi từng rất say mê nhiếp ảnh, bỏ cả văn phòng mấy tháng để đi săn ảnh. Nếu không có cảnh báo của đồng nghiệp thì có thể đã giải thể bộ máy văn phòng thiết kế kiến trúc của tôi từ lâu rồi. Rốt cục, tôi thích nhiều thứ nhưng vẫn chọn kiến trúc.
KTS Vũ Hiệp: Ngoài ra, ông còn thích những gì?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Kiến trúc, yoga và bia. Yoga làm cho con người mình cân bằng lại, còn bia thì làm cho mình phấn chấn để có những ý tưởng mới (cười).
KTS Vũ Hiệp: Được biết trong thời gian từ năm 2020 đến nay, ông còn là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP. HCM. Ông có bị áp lực bởi công việc không?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Khi nhận nhiệm vụ làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thành phố, tôi cũng khá hoang mang, vì cũng không phải ham công việc hoặc quyền lực. Ba tôi từng giận khi tôi bỏ nhà nước, nhưng khi thấy tôi chuyên chú vào chuyên môn thì ông khuyên: “Con không nên tham gia bất cứ công việc lãnh đạo nào, làm chuyên môn là ổn nhất với con”. Nhưng số phận cứ đưa đẩy, từ thành viên hội đồng kiến trúc của Hội KTS Thành phố (vào để học hỏi chuyên môn của các KTS Nguyễn Quang Nhạc, Trần Đình Quyền), dần dần tôi được chỉ định làm lãnh đạo Hội KTS, rồi Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thành phố. Làm rồi mới thấy, nó mất quá nhiều thời gian. Ngày trước các hội viên gặp nhau để bàn về tác phẩm, nay thì để giải quyết các thủ tục hành chính, rồi chính mình cũng bị hành chính hóa.
KTS Vũ Hiệp: Ông tham gia nhiều cuộc thi tuyển kiến trúc, thất bại có nhiều không? Và nếu có thất bại thì ông có cảm nhận gì?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Như tôi đã nói ở phần trên, 2/3 các cuộc dự thi của tôi là thất bại, nhưng như thế cũng là tỷ lệ thắng cao rồi. Nghề kiến trúc có cái giống ngành y: Người ta chọn người giỏi nhất, không quan trọng tiền bạc. Tôi cho rằng: Phải được giải Nhất – Vì chỉ có giải nhất thì công trình kiến trúc mới được chọn xây dựng. Tác phẩm kiến trúc phải là công trình thật trong không gian và phục vụ con người chứ không phải trên bản vẽ. Hàng trăm giải Nhì không bằng một giải Nhất. Nghề này phải rất quyết liệt như vậy mới được.
KTS Vũ Hiệp: Để đánh giá 45 năm hành nghề: “Có được – Có thua”. Ông có thể nói gì về sự nghiệp của mình?
KTS Nguyễn Trường Lưu: May mắn!
KTS Vũ Hiệp: Và câu hỏi cuối cùng, theo ông, một công trình hoàn hảo thì cần những yếu tố gì ở giai đoạn thiết kế kiến trúc?
KTS Nguyễn Trường Lưu: Năm 2025, trong một lần tham gia đào tạo CPD (Hội thảo phát triển nghề nghiệp liên tục) ở Hội KTS TP.HCM, tôi làm việc với KTS Trần Đình Thông (KTS Trần Đình Thông tốt nghiệp và hành nghề ở bên Mỹ). Hai anh em trao đổi thì thấy rằng, công trình tốt phải đạt được “tứ quý” là: “Ý TƯỞNG – Ý ĐỒ – Ý TỨ và Ý CHÍ”. Chữ “tứ quý” là cách chơi chữ của chơi bài tây có 4 lá cùng số, nó cũng có nghĩa là: 4 mùa. Sau hàng chục năm hành nghề tôi và anh Thông đều nhất trí trong 4 cái ý đó thì Ý CHÍ quan trọng nhất. Nếu cứ thỏa hiệp theo ý kiến của Chủ đầu tư thì cái công trình kiến trúc của mình sẽ là một công trình thiết kế tập thể không có Ý TƯỞNG, Ý ĐỒ và Ý TỨ.
KTS Vũ Hiệp: Xin trân trọng cảm ơn Ông.
KTS Vũ Hiệp (thực hiện)
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2026)
Sinh năm 1955 ở Hà Nội, quê Tiền Giang
Tốt nghiệp KTS – ĐH Kiến trúc TP. HCM năm 1980.
Phó Chủ tịch Hội KTS Việt Nam, Nguyên Chủ tịch Hội KTS TP. HCM, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP. HCM.
Công trình tiêu biểu: Đài truyền hình TP. HCM, Kho bạc Nhà nước TP. HCM, Nhà Thiếu nhi Quận 2, Trường THCS Lê Quý Đôn, Khu Du Lịch Hoàng Ngọc (Hoàng Ngọc Resort), Trụ sở Công ty Xổ số kiến thiết TP.HCM, Khu Tưởng niệm các Vua Hùng TP. HCM, Nhà Thiếu nhi TP.HCM, Trụ sở UBND quận Phú Nhuận – TP. HCM, Quảng trường Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại TP. HCM, …
Giải thưởng: Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2011), Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia, Giải thưởng Kiến trúc Xanh Việt Nam, …
Huân chương Lao động hạng Ba.


























