Tóm tắt
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Việt Nam. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở và lũ lụt đã gây ra nhiều thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống kiến trúc nhà ở trong vùng. Bài viết nghiên cứu các mô hình tổ chức không gian điểm dân cư nông thôn và giải pháp kiến trúc nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH đối với nhà ở vùng ĐBSCL, đồng thời đề xuất những định hướng phát triển kiến trúc nhà ở bền vững, giàu bản sắc và thích ứng tốt với điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt. Nghiên cứu cũng xem xét các nguyên nhân, tác động của BĐKH và chủ trương quy hoạch đô thị liên quan, nhằm đề xuất chiến lược phát triển phù hợp cho vùng này.
Từ khóa: Kiến trúc bền vững, BĐKH, đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở, giải pháp kiến trúc.
I. Giới thiệu chung
BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Tại Việt Nam, khu vực ĐBSCL đang chịu tác động nặng nề từ BĐKH, đặc biệt là các hiện tượng nước biển dâng, xâm nhập mặn, lũ lụt và sạt lở. Những hiện tượng này không chỉ đe dọa đến sinh kế và an toàn của người dân mà còn đặt ra những thách thức lớn đối với hệ thống kiến trúc nhà ở trong vùng. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá thực trạng kiến trúc nhà ở tại ĐBSCL, phân tích các thách thức từ BĐKH, và đưa ra các mô hình tổ chức không gian và giải pháp kiến trúc bền vững. Nghiên cứu cũng sẽ đề xuất những định hướng phát triển kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa của vùng ĐBSCL.
Viện Kiến trúc là tổ chức sự nghiệp khoa học có chức năng nghiên cứu phát triển kiến trúc cũng như hỗ trợ và thúc đẩy các chương trình hoạt động của Hội KTS Việt Nam. Các đề xuất nghiên cứu này trên cơ sở tổng hợp thông tin từ kết quả các chương trình hoạt động, đề tài khoa học và các cuộc thi, hội thảo do Hội tổ chức trong các năm qua.
Trích đăng tham luận tại Hội thảo Gặp ỡ mùa thu 2024

1.1. Bức tranh tổng thể về BĐKH
BĐKH có tác động lớn về rủi ro cục bộ, khu vực và toàn cầu đối với xã hội loài người và các hệ sinh thái tự nhiên như: Sức khỏe con người, nông nghiệp và an ninh lương thực, cung cấp nước, giao thông vận tải, năng lượng, đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Nhiều thông tin cho rằng, các hiện tượng mưa cực lớn rất có thể sẽ tiếp tục tăng về tần suất và cường độ trên khắp hầu hết các nơi trên thế giới cùng với các loại sự kiện cực đoan khác, chẳng hạn như lũ lụt, hạn hán và bão lớn [1].
BĐKH với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, do sự mất cân bằng của hệ sinh – khí quyển thế giới gây nên hiệu ứng nhà kính. Thực tế cho thấy: Hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông đô thị và sinh hoạt của dân cư tạo lượng khí nhà kính lớn nhất. Khu vực đô thị là nơi tập trung dân số, các hoạt động kinh tế và tiêu thụ nhiều hàng hóa nên phát thải nhiều khí nhà kính, mặt khác cũng sẽ chịu ảnh hưởng và thiệt hại lớn hơn các khu vực khác khi có thiên tai. Việc ứng phó với BĐKH lại xuất phát từ năng lực của mỗi quốc gia, của từng địa phương tại các khu vực đô thị cũng như các điểm dân cư nông thôn.
1.2. Tác động của BĐKH đối với Việt Nam và vùng ĐBSCL
Việt Nam là một trong những quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH và nước biển dâng bên cạnh những tác động chủ yếu khác bao gồm: i) Sự gia tăng nhiệt độ; ii) Nước biển dâng, bão và áp thấp nhiệt đới; iii) Lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất; iv) Hạn hán; v) Các hiện tượng khí hậu cực đoan khác gồm các đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng, các đợt rét và số ngày rét đậm, rét hại, mưa cực lớn, giông tố, lốc…
Trong Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng phê duyệt đã xác định khu vực chịu ảnh hưởng của ngập lụt và đề ra phương hướng xây dựng đô thị cho từng khu vực.
Khu vực 1, ngập sâu trung bình từ 2m, thuộc các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang;
Khu vực 2, ngập trung bình 1m-2m, thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ. Tại 2 khu vực này cần hạn chế phát triển đô thị quy mô lớn và hạn chế san lấp mặt bằng quy mô diện tích lớn; phát triển đô thị theo tuyến song song với hướng thóat lũ nhằm giảm tác động của lũ đến đô thị.
Khu vực 3, ngập nông, thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang cần phát triển đô thị quy mô diện tích lớn; tập trung theo hình thái đô thị nén; dành quỹ đất cần thiết để đào hồ, kết nối kênh rạch đảm bảo tiêu thóat nước; xây dựng mới, cải tạo và vận hành tốt tuyến đê ngăn triều ở cửa sông nhằm hạn chế tác động ngập lụt và xâm mặn đến đô thị.
Khu vực 4, ven biển, chịu ảnh hưởng của thủy triều cần phát triển đô thị tại khu vực đất giồng, bãi bồi cao ở ven sông, ven biển. Tại khu vực đô thị xây dựng mật độ cao, dùng phương pháp san đắp tập trung toàn bộ khu vực xây dựng, giải pháp đê bao chống lũ hoặc kết hợp cả hai giải pháp. Khu vực xây dựng với mật độ thấp, san đắp cục bộ theo vị trí công trình, dành quỹ đất còn lại trong từng khu chức năng để đào hồ, kết nối kênh rạch. Khuyến khích phát triển các loại công trình, mô hình ở thích nghi với lũ [3].
II. Thực trạng phát triển nhà ở vùng ĐBSCL
Vùng ĐBSCL là khu vực trọng điểm của Việt Nam về nông nghiệp và thủy sản, nhưng cũng là vùng chịu nhiều tác động nặng nề từ BĐKH và thiên tai. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhà ở trong khu vực, với nhiều thách thức cũng như cơ hội. Dưới đây là thực trạng phát triển nhà ở vùng ĐBSCL:
2.1. Thực trạng về nhu cầu nhà ở
- Tăng trưởng dân số và đô thị hóa: Với hơn 17 triệu dân, ĐBSCL là một trong những khu vực có mật độ dân số cao nhất cả nước. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở các thành phố như Cần Thơ, Long Xuyên, Mỹ Tho và các khu vực ven sông đã làm gia tăng nhu cầu về nhà ở, đặc biệt là ở các khu đô thị và vùng ven.
- Nhu cầu cải thiện chất lượng nhà ở: Nhiều hộ gia đình trong khu vực vẫn sống trong các ngôi nhà kém chất lượng, thiếu các tiện nghi cơ bản và khả năng chống chịu với thiên tai, đặc biệt là ở vùng nông thôn và các khu vực ngập lụt.
2.2. Kiểu nhà ở phổ biến
- Nhà sàn và nhà đất thấp: Ở khu vực nông thôn, các kiểu nhà truyền thống như nhà sàn và nhà đất thấp vẫn phổ biến. Nhà sàn thường được xây dựng để tránh ngập lụt và bảo vệ khỏi động vật hoang dã. Tuy nhiên, sự thay đổi về khí hậu và sự phát triển kinh tế đã dẫn đến việc nhiều hộ gia đình từ bỏ nhà sàn và xây dựng nhà đất thấp hoặc bán kiên cố.
- Nhà bán kiên cố và nhà tạm: Nhiều gia đình sống trong các căn nhà bán kiên cố với kết cấu tạm bợ, không đáp ứng đủ tiêu chuẩn an toàn về phòng chống lũ lụt, bão gió. Nhà ở bán kiên cố thường được xây dựng từ vật liệu nhẹ như tôn, gỗ, và dễ bị hư hại khi gặp thiên tai.
2.3. Thách thức từ BĐKH và thiên tai
- Ngập lụt và sạt lở đất: Do ảnh hưởng của mực nước biển dâng và sạt lở đất, nhiều khu vực nhà ở ven sông và ven biển ĐBSCL đang bị đe dọa nghiêm trọng. Các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, và Bến Tre thường xuyên phải đối mặt với tình trạng sạt lở và ngập lụt, dẫn đến việc nhiều hộ gia đình mất nhà cửa và phải di dời.
- Khả năng chống chịu thiên tai kém: Phần lớn nhà ở trong khu vực, đặc biệt là ở vùng nông thôn, không có khả năng chống chịu với thiên tai. Nhiều căn nhà không được thiết kế để chống chịu bão lụt hoặc sạt lở, khiến cư dân dễ bị tổn thương khi thiên tai xảy ra.
2.4. Phát triển nhà ở xã hội và nhà ở an toàn
- Các dự án nhà ở xã hội: Tại các đô thị lớn như Cần Thơ và các khu vực lân cận, một số dự án nhà ở xã hội đã được triển khai để đáp ứng nhu cầu nhà ở của các hộ gia đình có thu nhập thấp. Tuy nhiên, số lượng các dự án này còn hạn chế và chưa đủ để đáp ứng nhu cầu lớn của cư dân.
- Nhà ở an toàn thích ứng với BĐKH: Một số sáng kiến và dự án phát triển nhà ở thích ứng với BĐKH đã được triển khai, tập trung vào việc xây dựng các căn nhà chống lũ và chịu được bão. Ví dụ như các mô hình nhà nổi, nhà nâng cao sàn, và sử dụng vật liệu bền vững đang được thí điểm tại một số khu vực ven sông và vùng bị ngập lụt.
2.5. Thách thức về tài chính và cơ sở hạ tầng
- Khó khăn về tài chính: Nhiều hộ gia đình thu nhập thấp, không đủ khả năng xây dựng hoặc cải tạo nhà ở an toàn, đặc biệt ở các khu vực ven sông hay những vùng bị ảnh hưởng bởi ngập lụt. Sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ và các tổ chức xã hội còn hạn chế, trong khi giá cả vật liệu xây dựng ngày càng tăng.
- Thiếu hạ tầng và dịch vụ công cộng: Ở nhiều khu vực nông thôn, hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông, điện, nước sạch và hệ thống thóat nước còn yếu kém. Việc phát triển nhà ở không thể tách rời với phát triển hạ tầng đô thị, tuy nhiên, việc đầu tư vào các dịch vụ công cộng này còn chậm.
2.6. Cơ hội phát triển bền vững
- Chương trình phát triển bền vững vùng ĐBSCL: Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều chương trình hỗ trợ phát triển nhà ở bền vững cho ĐBSCL, tập trung vào xây dựng các mô hình nhà ở thích ứng với BĐKH, tăng cường khả năng chống chịu của người dân trước thiên tai.
- Ứng dụng vật liệu và công nghệ mới: Nhiều dự án đang thử nghiệm việc sử dụng các vật liệu xây dựng bền vững và thân thiện với môi trường, như tre, nứa, hoặc bê tông nhẹ, giúp giảm thiểu chi phí xây dựng và nâng cao tuổi thọ của công trình.
Thực trạng phát triển nhà ở ĐBSCL cho thấy sự cấp bách của việc nâng cao chất lượng nhà, thích ứng với BĐKH và thiên tai, đồng thời đảm bảo nhu cầu nhà ở ngày càng tăng của người dân trong khu vực.
Trong phần tiếp theo, trên cơ sở định hướng liên quan đến quy hoạch, thiết kế, quản lý và áp dụng công nghệ. Chúng tôi đưa ra một số mô hình điển dân cư nông thôn và, giải pháp thiết kế nhà ở vùng ĐBSCL thích ứng với từng loại hiện tượng thiên tai do tác động của BĐKH.
III. Định hướng phát triển bền vững kiến trúc nhà ở vùng ĐBSCL
3.1. Đối với quy hoạch phát triển đô thị, điểm dân cư nông thôn
Việc giảm thiểu và thích nghi với BĐKH đặt ra những yêu cầu cấp bách và cần có cơ sở khoa học trong công tác quy hoạch. Để đảm bảo phát triển bền vững, các nội dung và tiêu chuẩn cần thiết kế phù hợp với điều kiện tự nhiên và sự BĐKH tại khu vực ĐBSCL, tập trung vào các lĩnh vực sau:
- Lựa chọn vị trí xây dựng: Đảm bảo an toàn trước các hiện tượng thời tiết cực đoan như ngập lụt, sạt lở và thiên tai. Việc lựa chọn vị trí phải dựa trên nghiên cứu kỹ lưỡng về điều kiện địa hình, địa chất và quy luật tự nhiên, nhằm tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển bền vững của khu vực;
- Xác định giới hạn và ngưỡng phát triển không gian: Cần định rõ giới hạn phát triển không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn dựa trên khả năng chịu tải của môi trường, tránh việc mở rộng đô thị không kiểm soát gây tác động xấu đến hệ sinh thái và nguồn tài nguyên;
- Xác định chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật: Các chỉ tiêu về mật độ dân cư, diện tích đất đai, hạ tầng kỹ thuật và kiến trúc cần được thiết kế để hài hòa với điều kiện tự nhiên và phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế. Đặc biệt, các công trình cần giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH;
- Phân khu chức năng và tổ chức không gian: Việc phân khu chức năng cần dựa trên các yêu cầu cụ thể của từng vùng, nhằm đảm bảo không gian phát triển hợp lý, đồng bộ, tăng cường khả năng chống chịu của các khu vực trước tác động của BĐKH;
- Bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di sản kiến trúc: ĐBSCL có nhiều di sản kiến trúc và cảnh quan quan trọng cần được bảo tồn, đồng thời phát huy giá trị văn hóa lịch sử trong quá trình phát triển đô thị và xây dựng nhà ở, nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương;
- Đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội: Hạ tầng đô thị cần được nâng cấp để đáp ứng các thách thức về môi trường và xã hội, bao gồm hạ tầng giao thông, cấp thóat nước, hệ thống điện và các dịch vụ xã hội. Đồng thời, việc bảo vệ và phát triển môi trường bền vững phải được coi là yếu tố chủ đạo trong quy hoạch;
- Quản lý cung cấp dịch vụ đô thị và chống thiên tai: Việc cung cấp dịch vụ đô thị phải đảm bảo an toàn xã hội và nâng cao khả năng phòng ngừa, chống chịu với các thiên tai như lũ lụt, bão gió, trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra mạnh mẽ.
3.2. Đối với thiết kế nhà ở
Trọng tâm thiết kế nhà ở trong bối cảnh ứng phó với BĐKH cần được định hướng theo những nguyên tắc sau:
- Thận trọng trong mọi giai đoạn: Từ khảo sát, đánh giá đến nhận diện các giá trị cốt lõi, mọi giải pháp từ cải tạo, chỉnh trang đến xây mới cần được thực hiện một cách thận trọng và tôn trọng các giá trị truyền thống, văn hóa và môi sinh;
- Nghiên cứu mô hình nhà ở thích ứng: Việc thiết kế cần nghiên cứu các mô hình nhà ở thích ứng với các điều kiện ngập lũ và BĐKH khác nhau, tận dụng những ưu điểm của nhà ở truyền thống, đồng thời cải tiến để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại;
- Khai thác giá trị truyền thống trong sự sáng tạo mới: Các giải pháp thiết kế mới cần hài hòa giữa cái “mới” và cái “cũ”, sao cho phù hợp với lối sống, văn hóa của người dân mà không phá vỡ những giá trị vốn có. Thiết kế phải vừa tôn trọng yếu tố lịch sử, vừa sáng tạo và thích nghi với điều kiện môi trường mới;
- Sử dụng nguyên vật liệu sẵn có: Việc thiết kế nhà ở cần tận dụng nguyên vật liệu tại địa phương, nhằm giảm chi phí xây dựng và tăng cường tính bền vững. Các kiểu dáng mới cần được nghiên cứu và phát triển trên nền tảng kết hợp sáng tạo và truyền thống, đảm bảo tính thóang mát, mạch lạc, và khả năng chống chịu thiên tai.
3.3. Đối với công tác quản lý phát triển đô thị và nông thôn
- Quy hoạch tổng thể nhà ở thích ứng với BĐKH: Cần phát triển quy hoạch nhà ở cho từng khu vực cụ thể, đặc biệt là những khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập lụt và thiên tai. Các mô hình như nhà nổi, nhà sàn, hoặc những giải pháp kiến trúc bền vững cần được ưu tiên phát triển.
- Giáo dục và đào tạo về kiến trúc bền vững: Cần nâng cao nhận thức của người dân về thiết kế nhà ở bền vững và khả năng chống chịu thiên tai thông qua các chương trình tư vấn và hướng dẫn từ chính quyền địa phương.
- Hỗ trợ tài chính và chính sách khuyến khích: Chính phủ và các tổ chức tài chính cần hỗ trợ người dân, đặc biệt là các hộ gia đình thu nhập thấp, trong việc xây dựng và cải tạo nhà ở. Đồng thời, các chính sách khuyến khích đầu tư từ các doanh nghiệp vào lĩnh vực này sẽ tạo ra nguồn lực phát triển nhà ở bền vững cho ĐBSCL.
3.4. Đối với việc áp dụng công nghệ trong khảo sát đánh giá và thiết kế
Trong kỷ nguyên số này, tất cả các ngành công nghiệp đang tích cực khám phá cách sử dụng công nghệ số để đạt được sự chuyển đổi và nâng cấp và ngành kiến trúc cũng không ngoại lệ. Do đó, chúng tôi đưa phần định hướng về công nghệ sau với những phân tích khá chi tiết làm cơ sở gợi mở cho các nghiên cứu tiếp sau.
Với kiến trúc nhà ở ứng phó với BĐKH, rất cần sự khai thác sâu sắc về đặc điểm của địa điểm, môi trường tự nhiên. Hiện nay, tư duy thiết kế chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phán đoán chủ quan của nhà thiết kế, thường dựa trên phân tích định tính; tính hợp lý khoa học của chương trình vẫn chưa được xác minh. Việc phân tích địa điểm không đủ kỹ lưỡng có thể dễ dàng dẫn đến xung đột giữa thiết kế và môi trường, gây thiệt hại sinh thái và mất đa dạng sinh học – bền vững ảo.
Đề xuất ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo – Artificial Intelligence (AI) vào trong kiến trúc, thúc đẩy sự phát triển các giải pháp thiết kế thích ứng theo hướng số hóa, hiện thực, tương tác và khoa học. Nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra – Artificial Intelligence Generated Content (AIGC) đóng vai trò quan trọng trong việc tích hợp nhiều dữ liệu thu thập được, biên dịch nội dung hiệu quả, tối ưu hóa so sánh sơ đồ, tạo bối cảnh ảo, phát triển xanh và bền vững, … cụ thể:
- Hệ thống hỗ trợ chuyển đổi số kiến trúc: Đòi hỏi kiến thức liên ngành và hỗ trợ kỹ thuật; AIGC phá vỡ ranh giới giữa nhiều thông tin và tạo ra nội dung có chất lượng ổn định nhờ lợi thế học trước và tích hợp đa phương thức, thúc đẩy xây dựng và tối ưu hóa hệ thống về kiến trúc hoàn chỉnh, đồng thời đẩy nhanh quá trình số hóa.
- Phương án thiết kế sáng tạo: Thiết kế truyền thống dựa vào kiến thức, kinh nghiệm và khả năng thẩm mỹ của người thiết kế, khó theo kịp thời đại về nhận thức, hiệu quả và tính nhân văn (tác phẩm đồng nhất hóa, sử dụng tài nguyên không hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái không đầy đủ). AIGC đã mang đến những đổi mới sâu sắc và sức sống mới trong kiến trúc từ phân tích trước, xây dựng logic và thể hiện thiết kế cho đến toàn bộ quy trình ứng dụng sáng tạo.
Mặc dù AIGC không có nhận thức và cảm xúc của con người, song nó nó có thể thực hiện thiết kế trên cơ sở những thông tin khảo sát đánh giá đầy đủ và xác thực nhất, kết hợp phong cách nghệ thuật và các yếu tố sáng tạo, mở rộng hình thức biểu đạt nghệ thuật, thiết kế tham số. AIGC không chỉ cung cấp các trải nghiệm kiến trúc bằng thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác mà còn sử dụng phương tiện tương tác phi tuyến tính, cho phép người xem đắm chìm vào logic của câu chuyện văn hóa, kích hoạt sự cộng hưởng. Tuy nhiên, tinh thần xã hội và nhân văn của cảm xúc không thể là một lượng thông tin khổng lồ và cách diễn giải đơn giản của một vài mô hình; cảm xúc của con người cần nắm bắt được sự cân bằng giữa nghệ thuật và khoa học. Do đó, sáng kiến chủ quan của con người không bao giờ có thể bị bỏ qua.
IV. Mô hình, giải pháp ứng phó với BĐKH cho vùng ĐBSCL
4.1. Đề xuất mô hình điểm dân cư nông thôn (ĐDCNT) thích ứng với BĐKH
- ĐDCNT có tổ hợp cấu trúc dạng tuyến tính: Kết nối một hoặc hai thôn, ấp cũ theo tuyến bằng cách tận dụng hệ thống giao thông đường bộ và ven kênh rạch, ven sông. Ưu điểm: Tiết kiệm kinh phí đầu tư cho hệ thống giao thông; phù hợp với điều kiện địa hình và văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của cư dân quen sống vùng kênh rạch và đi lại chủ yếu bằng ghe, thuyền.
- ĐDCNT có tổ hợp cấu trúc dạng Nhóm: Kết nối hai hay ba thôn, ấp cũ tạo nên một tổ hợp nhóm, do yếu tố địa hình nhiều kênh rạch nên sử dụng cầu bắc qua, kết hợp với đi lại bằng ghe, thuyền.
- ĐDCNT có tổ hợp cấu trúc dạng Mạng: Là giải pháp đào thêm kênh rạch, lấy đất đắp cao nền đường tạo nên hệ thống kênh rạch dạng mạng giúp thóat nước nhanh khi ngập lụt. Thích hợp với vùng đất trũng, đất thấp, vùng đất thường xuyên ngập lũ như vùng Đồng Tháp Mười. Ưu điểm: Phù hợp với giao thông đi lại trên kênh rạch của dân cư; ĐDCNT và các thôn, ấp gần gũi, thuận lợi cho hướng phát triển dân cư lâu dài.
- ĐDCNT có tổ hợp cấu trúc dạng Tuyến: Bám vào hệ thống đường giao thông và kênh rạch, ven sông sẵn có. Các công trình nhà ở kết hợp với làm dịch vụ, buôn bán thương mại hai bên khu đất (một bên theo đường giao thông, một bên bám theo ven kênh, rạch, ven sông) để tận dụng hệ thống giao thông đường bộ và đường sông phục vụ vận chuyển hàng hóa, nông thổ sản. Trục giữa của khu đất tổ chức trục sinh thái, bố trí các công trình nhà ở làm nông nghiệp nuôi trồng thủy hải sản… kết hợp với các công trình nhà trẻ, trường học, nhà văn hóa cụm dân cư, sân chơi thể thao, công viện, cây xanh, hệ thống hồ điều hòa, hồ tiêu nước kết hợp với cảnh quan mặt nước. Đặc biệt, các công trình nhà ở tại trục sinh thái được kết hợp với hệ thống ao, hồ (đào ao, hồ lấy đất đắp nền nhà theo kinh nghiệm dân gian vùng đất trũng, thấp, vùng ngập lụt). Kết hợp với làm kinh tế hộ gia đình, người dân có thể sử dụng hệ thống ao, hồ để nuôi thủy sản như tôm, cua, cá… Khoảng cách giữa trục lõi sinh thái và khu nhà ở kết hợp với buôn bán và làm dịch vụ được ngăn chia bởi hai trục giao thông đường bộ và đường thủy thông qua hệ thống kênh hai bên và hệ thống hồ nuôi thủy sản. Mô hình này phù hợp với các khu dân cư có số dân nhỏ, tương đương một thôn, ấp.
- ĐDCNT có tổ hợp cấu trúc dạng điểm: Dựa trên hệ thống kênh, rạch xung quanh và trung tâm bố trí lõi sinh thái. Các công trình nhà ở kết hợp với làm dịch vụ, thương mại bố trí vòng ngoài ĐDCNT bám theo trục đường giao thông và kênh, rạch. Lõi sinh thái ở trung tâm kết hợp với nhà trẻ, trường học, nhà văn hóa, cây xanh, mặt nước, hồ điều hòa, hồ chứa nước ngọt, đồng thời làm mô hình nhà ở nông nghiệp nuôi trồng thủy sản theo hệ sinh thái khép kín. Mô hình này cũng phù hợp với các khu dân cư có số dân nhỏ.
Do đặc điểm vùng ĐBSCL rất bằng phẳng, tổng lượng lũ lại lớn, nên khả năng làm hồ chứa để cắt, chậm và chứa lũ là khó có thể thực hiện. Tuy nhiên, có thể lợi dụng nguồn nước lũ để tích vào các hồ chứa với mục đích trữ nước ngọt cho mùa khô và cải tạo môi trường là rất khả thi. Dựa vào điều kiện tự nhiên và yêu cầu sử dụng đề xuất xây dựng các dạng hồ sinh thái trên cả 4 khu vực chịu ảnh hưởng của ngập lũ ở ĐBSCL. Quá trình khai thác đất cần có quy hoạch, sau khi thi công khai thác lấy đất, cần đắp bờ và trồng cây bao quanh hồ để đảm bảo chống sạt lở và vệ sinh môi trường [7].
4.2. Đề xuất giải phát thiết kế nhà ở thích ứng với BĐKH
a. Giải pháp thiết kế kiến trúc phù hợp với ngập lụt và nước biển dâng
- Xây nhà nâng cao nền móng: Nhà ở cần được thiết kế với nền móng cao hơn mức ngập lụt dự kiến. Sử dụng các loại nền móng chắc chắn để tránh hiện tượng sụt lún. Một số kiểu nhà sàn hoặc nhà cao cột có thể được áp dụng để nâng toàn bộ nhà lên cao khỏi mức nước ngập. Lợi ích: Giảm nguy cơ ngập lụt trực tiếp, bảo vệ tài sản và duy trì môi trường sống an toàn khi nước dâng cao.
- Thiết kế hệ thống thóat nước và lưu trữ nước hiệu quả: Các công trình nhà ở cần được thiết kế hệ thống thóat nước thông minh, bao gồm bể chứa nước mưa để tận dụng nước mưa, giảm áp lực thóat nước ra sông. Sử dụng hệ thống thóat nước tự nhiên và sinh thái học (ví dụ như: bãi cỏ thấm nước, hồ chứa nhỏ trong nhà). Lợi ích: Giảm nguy cơ ngập lụt cục bộ, bảo vệ nguồn nước ngọt và tối ưu hóa tài nguyên nước, đặc biệt là trong mùa mưa lũ.
- Sử dụng vật liệu chống nước và bền vững: Sử dụng các vật liệu có khả năng chống thấm nước tốt như bê tông chịu nước, gạch chống nước hoặc vật liệu composite để xây dựng nhà. Các phần cấu trúc dễ tiếp xúc với nước như nền nhà và tường nên được phủ vật liệu chống thấm, chống ăn mòn. Lợi ích: Giảm thiệt hại do thấm nước và gia tăng tuổi thọ của các công trình nhà ở trong điều kiện ngập nước dài hạn.
Ví dụ: Nhà sàn truyền thống của người Khmer và người Chăm ở ĐBSCL có thể là hình mẫu tốt để phát triển các loại nhà sàn hiện đại, phù hợp với điều kiện ngập nước kéo dài.
b. Giải pháp chống xâm nhập mặn và bảo vệ nguồn nước
- Thiết kế hệ thống lọc nước và dự trữ nước ngọt: Lắp đặt hệ thống lọc nước mặn thành nước ngọt quy mô nhỏ tại các hộ gia đình, kết hợp với việc dự trữ nước mưa trong các bể chứa lớn để sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất. Lợi ích: Đảm bảo nguồn nước ngọt ổn định, giảm phụ thuộc vào các nguồn nước bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.
- Xây dựng các tường chắn hoặc kè bao quanh nhà: Xây dựng tường chắn hoặc kè xung quanh khu vực nhà ở, đặc biệt là các vùng gần biển hoặc gần sông bị xâm nhập mặn. Tường chắn có thể giúp hạn chế sự xâm nhập của nước mặn và bảo vệ các khu vực đất nông nghiệp gần nhà. Lợi ích: Giảm thiểu ảnh hưởng của nước mặn đến đất đai và nguồn nước ngầm quanh khu vực nhà ở.
c. Giải pháp chống sạt lở bờ sông và bờ biển
- Chọn vị trí xây nhà an toàn: Xây dựng nhà ở cách xa các khu vực dễ sạt lở, tránh các bờ sông và bờ biển đang có nguy cơ sụt lở. Sử dụng bản đồ nguy cơ sạt lở và quy hoạch đô thị để chọn các vị trí an toàn cho việc xây dựng nhà cửa. Lợi ích: Bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản cho người dân, giảm thiểu rủi ro do sạt lở gây ra.
- Sử dụng công nghệ xây dựng tường chống sạt lở và kè chắn: Ứng dụng các kỹ thuật xây dựng kè chắn, tường bê tông hoặc các biện pháp kỹ thuật như thảm sinh thái và trồng cây ven bờ sông để tăng cường khả năng chống sạt lở. Lợi ích: Hạn chế hiện tượng sạt lở đất, bảo vệ nhà cửa và hệ thống hạ tầng ven sông, ven biển.
d. Giải pháp thích ứng với khí hậu khắc nghiệt và biến đổi thời tiết
- Tăng cường thông gió và ánh sáng tự nhiên: Thiết kế nhà ở với hệ thống cửa sổ lớn, thông thóang, tối ưu hóa luồng gió tự nhiên để giảm nhiệt độ trong nhà. Sử dụng các vật liệu cách nhiệt trên mái nhà và tường để giảm nhiệt độ bên trong nhà trong những ngày nắng nóng. Lợi ích: Giảm sự phụ thuộc vào điều hòa không khí và tiết kiệm năng lượng, đồng thời tạo ra môi trường sống thoải mái và dễ chịu trong điều kiện thời tiết nóng bức.
- Sử dụng hệ thống năng lượng mặt trời và điện tái tạo: Lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà để cung cấp điện cho nhu cầu sinh hoạt, giảm phụ thuộc vào lưới điện quốc gia. Kết hợp với các hệ thống lưu trữ năng lượng để sử dụng khi thời tiết bất lợi. Lợi ích: Tiết kiệm năng lượng và giảm lượng khí thải nhà kính, đồng thời giúp cung cấp nguồn năng lượng bền vững cho các hộ gia đình.
e. Giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững các khu vực ven biển và nông thôn
- Phát triển hệ thống đê điều và công trình sinh thái: Xây dựng các công trình sinh thái như rừng ngập mặn, hệ thống rừng chắn gió ven biển và các khu vực bảo tồn thiên nhiên để bảo vệ bờ biển và giảm thiểu tác động của sóng biển và gió bão. Lợi ích: Tăng cường khả năng chống chịu thiên tai của các khu vực ven biển và bảo vệ nhà cửa, đất đai khỏi các hiện tượng thời tiết cực đoan.
- Ứng dụng mô hình nông nghiệp kết hợp với nhà ở: Xây dựng các khu nhà ở kết hợp với mô hình nông nghiệp bền vững như hệ thống nuôi trồng thủy sản, trồng cây chịu mặn và mô hình canh tác lúa nước phù hợp với điều kiện khí hậu. Lợi ích: Đảm bảo sinh kế ổn định cho người dân trong điều kiện BĐKH, đồng thời tạo ra môi trường sống hài hòa với thiên nhiên.
f. Giải pháp tăng cường nhận thức và năng lực ứng phó của cộng đồng
- Đào tạo và nâng cao nhận thức cộng đồng: Tổ chức các chương trình giáo dục cộng đồng về BĐKH, hướng dẫn cách xây dựng nhà ở an toàn và bền vững. Đào tạo người dân về các biện pháp ứng phó khi xảy ra thiên tai như lũ lụt, bão, và sạt lở. Lợi ích: Nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH và khả năng tự ứng phó khi gặp thiên tai, từ đó giảm thiểu thiệt hại.
- Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào quy hoạch và xây dựng: Khuyến khích người dân tham gia vào quá trình quy hoạch đô thị và xây dựng các giải pháp kiến trúc nhà ở bền vững. Các dự án xây dựng nhà ở cộng đồng nên lắng nghe ý kiến từ cư dân địa phương về nhu cầu và kinh nghiệm sống của họ. Lợi ích: Tạo ra các khu nhà ở phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, đồng thời tăng cường trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sống.
Kết luận
Kiến trúc nhà ở tại ĐBSCL đang đối mặt với những thách thức lớn từ BĐKH. Các giải pháp kiến trúc được đề xuất trong bài nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các công trình nhà ở bền vững, thích ứng với điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt. Quy hoạch hợp lý, kết hợp với việc bảo tồn các giá trị văn hóa và ứng dụng công nghệ hiện đại, sẽ là chìa khóa giúp ĐBSCL phát triển bền vững, giảm thiểu tác động của BĐKH và bảo vệ an toàn cho người dân.
KTS. Nguyễn Tuấn Ngọc
Phó Viện trưởng Phụ trách Viện Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam
TS.KTS. Đinh Thị Hải Yến
Trưởng phòng Quản lý NCKH, Viện Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 9-2024)
Bài học kinh nghiệm – Một số mẫu nhà ứng phó với BĐKH trong và ngoài nước
1. Nhà chống lũ quét – Nhà nâng bởi các thành phần nổi khi có lũ (2024)
(Nguồn: Bài viết nghiên cứu của nhóm 05 tác giả người Philippines: Timothy James Ebro, Jholo Ambay, Tobias Antolino Jr., John Rogel Ursua, Ajimar Borlan, đăng trên Tạp chí European Modern Studies Journal, thàng 2/2024)
Nhà truyền thống và nhà lưỡng cư đặt nền móng trên mặt đất hoặc ở một độ cao nhất định và thường không lường trước được mực nước dâng cao nhanh chóng trong lũ quét, có thể làm hỏng kết cấu. Nghiên cứu này nhằm mục đích thiết kế một ngôi nhà chống lũ quét và ước tính chi phí xây dựng. Nguyên lý lực đẩy của Archimedes được áp dụng để cho phép kết cấu nổi trong thời gian lũ quét. Thành phần nổi, EPS Geofoam, được gắn vào từng cột của kết cấu, được bao bọc bởi tường chắn và các vật liệu nhẹ như tấm tre, được sử dụng cho các bộ phận kết cấu được nâng đỡ bởi thành phần nổi. Với điều này, thiết kế nhà chống lũ quét có thể nâng từ vị trí cố định, cách mặt đất 1,5m lên đến 3m, khiến nó trở thành một thiết kế đáng tin cậy dựa trên Bộ luật kết cấu quốc gia của Philippines (NSCP) năm 2015 và Cơ quan quản lý tình trạng khẩn cấp liên bang (FEMA). Hơn nữa, thiết kế nhà chống lũ quét đắt hơn 47% so với chi phí nhà ở thông thường, mặc dù chi phí trong tương lai từ việc tái thiết nhà sau lũ quét khiến đây trở thành một cách tiếp cận tiết kiệm. Do đó, việc triển khai thiết kế nhà chống lũ quét thúc đẩy khả năng thích ứng với BĐKH vì nó giải quyết được mối đe dọa của lũ quét và đảm bảo an toàn.
2. Mô hình nhà ở trống tầng và nhà ở nâng nền ứng phó BĐKH (2021)
(Nguồn: Lê Thị Hồng Na, Đặng Hải Đăng, Nguyễn Đặng Hoàng Nhật Trường, bài nghiên cứu đăng trên trang thông tin điện tử https://www.researchgate.net/publication/346204729, tháng 1/2021)
Trong nghiên cứu này, tình trạng kiến trúc nhà ở nông thôn tại Vĩnh Long được đánh giá một cách có hệ thống theo các tiêu chí kiến trúc bền vững. Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các loại hình nhà ở nông thôn tại Vĩnh Long đều chịu tác động của BĐKH. Trong năm loại hình nhà ở nông thôn hàng đầu của Vĩnh Long, chỉ có biệt thự là thóat khỏi phần lớn tác động. Nhà ở truyền thống là loại hình không bị ảnh hưởng đáng kể bởi BĐKH. Tuy nhiên, nhà phố đang phải đối mặt với tác động của xói mòn sông và thủy triều cao. Đặc biệt, nhà ở thuần nông và nhà ở đơn sơ bị ảnh hưởng nặng nề bởi sạt lở đất, triều cường, xâm nhập mặn và lốc xoáy. Dựa trên mối quan hệ với đặc điểm kiến trúc bản địa, điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường của tỉnh Vĩnh Long, các giải pháp kiến trúc liên quan đến BĐKH đã được đề xuất để nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai.
3. Nhà ở vùng bão lũ, ngập lụt – Phương án Cuộc thi “Nhà ở nông thôn vùng bão lũ, ngập lụt” do Hội Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức (2011) (Nguồn: Viện Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam)

Tài liệu tham khảo
1. Climate change knowledge portal, 2024: What is Climate Change? https://climateknowledgeportal.worldbank.org/overview
2. Yale Program on Climate Change Communication, 2018, Public opinion on climate change, https://climatecommunication.yale.edu/about/the-program/
3. Trần Thị Lan Anh – Cục Phát triển Đô thị (Bộ XD), Bài phát biểu tại Hội thảo “Phát triển đô thị bền vững ở vùng ĐBSCL” tổ chức tại Hậu Giang, https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1184/77531/phat-trien-do-thi-ben-vung-o-vung-dong-bang-song-cuu-long.aspx, 2023
4. Mật độ phân bố dân cư đô thị – nông thôn khu vực ven biển Việt Nam có cao độ dưới 10m so với mực nước biển, https://www.newscientist.com/article/dn11483-coastal-living-a-growing-global-threat/, 2007
5. Lê Thị Thúy Hà, Nguyễn Việt Dũng – Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, “Quy hoạch và mô hình phát triển đô thị vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi tự nhiên”, Trang tin của Tạp chí Kiến trúc, https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/quy-hoach-va-mo-hinh-phat-trien-do-thi-vung-dbscl-thich-ung-voi-bien-doi-tu-nhien.html, 2023
6. Lê Trọng Bình – Viện Kiến trúc, “Giải pháp ứng phó với BĐKH trong quy hoạch phát triển các đô thị ven biển”, Tham luận Hội thảo – Đô thị Việt Nam với BĐKH do Hội KTS Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng, 2010
7. Viện Kiến trúc – Hội KTSVN, Báo cáo tổng hợp “Khảo sát, đánh giá kiến trúc nông thôn tại một số địa điểm đặc trưng điển hình thuộc một số vùng KT-XH tại Việt Nam (năm thứ 2) và định hướng phát triển kiến trúc nông thôn từ truyền thống đến hiện đại, gắn kết thời kỳ hội nhập”, 2023.

































