Từ diễn ngôn về bản sắc của kiến trúc miền Bắc trước 1975 đến định hướng chiến lược hiện đại – bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trong bối cảnh đô thị hóa và hội nhập toàn cầu, kiến trúc Việt Nam đứng trước một nan đề quen thuộc: Một mặt, đó là áp lực của dòng chảy toàn cầu hoá với những công trình kiến trúc hiện đại, tiên tiến mang tầm quốc tế, nhằm chứng minh năng lực phát triển quốc gia – Mặt khác, đó lại là nỗi lo âu về sự mai một của tinh thần dân tộc và dấu ấn bản địa trong kiến trúc. Định hướng “Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” vừa một nhu cầu tự thân và cũng là một yêu cầu chính trị xã hội. Trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp xây dựng bản sắc kiến trúc, chúng ta thường rơi vào một nghịch lý: Càng cố gắng thể hiện tính dân tộc, dường như kiến trúc lại càng trở nên xa lạ với đời sống thực tế hiện tại – Những mái cong bê tông hoành tráng của những ngôi chùa tân thời, những họa tiết hoa sen, trống đồng được sử dụng một cách cơ học trong các thiết kế như một món đồ trang trí hiện đại… Đó là một sự “trình diễn” thị giác dễ dãi, nơi yếu tố bản sắc bị biến thành một món hàng lưu niệm hơn là một thực thể sống.

Thông qua việc khảo sát lại khái niệm bản sắc trong kiến trúc miền Bắc Việt Nam giai đoạn trước 1975, bài viết hướng đến trả lời những câu hỏi cốt lõi: Bản sắc kiến trúc nằm ở lớp vỏ hay ở cấu trúc tầng sâu? Bản sắc là kết quả của việc sao chép quá khứ hay là hệ quả của việc giải quyết các vấn đề thực tại?

“Bản” và “Sắc”: Sự “nhập nhằng” giữa cội nguồn và diện mạo

Để có thể khái niệm hoá được “Bản sắc”, chúng ta cùng quay lại những định nghĩa cơ bản của phương tiện biểu đạt tư duy của con người: Ngôn ngữ. Vì đây là nơi mà thế giới quan và ý nghĩa hiện ra với con người [1]. Mục từ “Bản sắc” trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê [2] mang một ý nghĩa đặc biệt mà đôi khi đã bị vô tình bóc tách sai lệch. Chữ “Bản” là yếu tố ghép trước danh từ, dùng để tự xưng, mang nghĩa “của chúng tôi”, còn “sắc” là cái có hình dạng, con người có thể nhận biết được . Hợp lại, từ “bản sắc” được định nghĩa là màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính. Từ đó, khi đưa vào kiến trúc, “bản” chính là những gì diễn tả những yếu tố nền tảng như địa hình, khí hậu, vật liệu địa phương. Đó là thế giới quan của con người về những gì xung quanh mình. Còn “sắc” là hình thức bên ngoài, những gì con người nhận biết được thông qua các giác quan. Có lẽ, một phần từ điều này mà khái niệm Bản sắc thường được hiểu như những gì nhìn thấy được, bỏ qua cái cội rễ căn cốt vô hình.

Trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức của Đỗ Văn Y. Nguồn ảnh: Serge Herisson (được tăng độ phân giải bằng AI Gemini)

Bản sắc, theo KTS Charles Correa [3], không phải là một đối tượng để tìm thấy hay tái dựng. Bản sắc chính là dấu vết của một nền văn minh lưu lại. Đó là một quá trình xây dựng, trao truyền, tiếp nối, biến đổi và thích ứng của con người trong lịch sử. Từ đó, Correa cho rằng: Bản sắc phải đến từ những vấn đề sâu sắc hơn, từ chính những gì mà con người đang thực sự phải đối mặt và tìm cách giải quyết. Trong tư duy triết học của Heidegger [4], việc tổ chức không gian không chỉ là thích ứng vật lý mà còn là cách con người hiện diện và kiến tạo thế giới một cách chân thực nhất. Dưới góc nhìn này, bản sắc không thể nào được “chế tạo” ra ngay tức khắc, thông qua những yếu tố thị giác đơn thuần như bằng cách sao chép một chi tiết của thế kỷ 17 đặt vào tòa nhà thế kỷ 21 như một “nhãn dán” cho xuất xứ hàng hoá thương mại. Bản sắc phải được “hiện hình” thông qua cách chúng ta đối xử với điều kiện khí hậu nhiệt đới, ánh nắng chói chang với những cơn mưa rào, và với cách sinh hoạt thường ngày của một gia đình Việt. Tất cả hợp lại tạo thành truyền thống bản địa.

Đi sâu hơn trong việc giải mã bản sắc như một quá trình, nhà địa lý học nhân văn Yi-Fu Tuan [5] đã chỉ ra một khía cạnh mang tính kỹ thuật và triết học của sự lưu truyền của bản địa. Ông lập luận rằng truyền thống bản địa là sự ràng buộc, giới hạn những lựa chọn của giải pháp kiến trúc đòi hỏi những kỹ năng để tạo ra những tổ hợp lựa chọn trong điều kiện hạn chế. Quan điểm này của Tuan đã làm chỉ rõ một khía cạnh căn bản: Bản sắc không nảy sinh từ sự dư thừa hay những ý thích duy mỹ tùy tiện. Mà nảy sinh khi con người bị đẩy vào những giới hạn (về vật liệu, kỹ thuật, địa hình) và buộc phải dùng tài năng để tạo ra những giải pháp tối ưu nhất trong cái lồng hẹp của thực tại. Một quan điểm tương tự của GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính [6] đã đúc kết sắc sảo về tính chất cốt lõi của kiến trúc: “Kiến trúc nơi cư trú cổ truyền của mọi dân tộc về thực chất, là hàm số của những cái bó buộc. Cái làm được chính là cái có thể từ những bó buộc, không hơn. Xem ra kiến trúc đích thực thường sinh ra từ những sự bó buộc và sự vắt kiệt những cái có thể”. Ngôi nhà Việt cổ truyền không có mái cong vì sở thích trang trí; mái dốc ấy ra đời từ sự bó buộc của những cơn mưa rào nhiệt đới và giới hạn của kỹ thuật lợp lá, lợp ngói. Kết cấu bộ vì kèo không phải là một sự phô diễn quyền lực, mà là sự vắt kiệt khả năng chịu lực của vật liệu sẵn có trong tay người thợ.

Bản sắc kiến trúc không phải là một sự tự do vô hạn, mà trái lại, là nghệ thuật của sự sinh tồn trong những giới hạn trên vùng đất mà kiến trúc được sinh ra. Khi tính chất riêng bị tách rời khỏi quy luật sinh tồn (khí hậu, công năng, văn hoá) để chỉ phục vụ mục đích trang trí, điều đó không còn là bản sắc mà chỉ là một mặt nạ văn hóa.

KTS và nhà nhân chủng học Amos Rapoport, một trong những cha đẻ của lĩnh vực Nghiên cứu Môi trường Hành vi, đã đẩy cuộc thảo luận đi xa hơn bằng cách đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của mọi sự tạo tác không gian kiến trúc. Trong tác phẩm kinh điển “House Form and Culture” , Rapoport [7] đã đưa ra một luận điểm mang tính cách mạng – Mặc dù khí hậu và kỹ thuật đóng vai trò quan trọng, nhưng văn hoá mới là yếu tố quyết định lên hình thức kiến trúc và tổ chức không gian. Dưới quan điểm này, khí hậu, vật liệu và công nghệ chỉ là những yếu tố ràng buộc: Chúng đặt ra giới hạn cho những gì không thể làm, chứ không quyết định những gì buộc phải làm. Từ đó, theo Rapoport truyền thống, là tập hợp của rất nhiều thuộc tính, để rồi từ đó kiến trúc được nảy sinh từ sự lựa chọn. Tại sao người Việt chọn cấu trúc nhà ba gian hai chái với bàn thờ ở trung tâm mà không phải là một cấu trúc khác dù cùng sống trong một vùng khí hậu với các dân tộc láng giềng? Câu trả lời nằm ở nhận thức thế giới quan và cấu trúc xã hội của cộng đồng đó. Rapoport cho rằng nếu muốn tìm kiếm bản sắc, đừng nhìn vào các chi tiết trang trí bề mặt, hãy nhìn vào lối sống. Ông định nghĩa: Lối sống là sự cụ thể hóa của văn hóa thông qua các hoạt động thường nhật. Từ đây, có thể thấy một đóng góp nữa của Rapoport cho cuộc thảo luận về bản sắc. Đó là những yếu tố thật sự nằm ở những giá trị cốt lõi ít thay đổi (ví dụ: tính cộng đồng, sự tôn trọng tổ tiên, sự gắn kết với thiên nhiên).

Còn hình thức kiến trúc (mái ngói, cột gỗ) chỉ là những biểu hiện ngoại vi có thể thay đổi theo thời gian và công nghệ. Nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Khắc Tụng, tác giả của bộ sách Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam, cùng chia sẻ quan điểm. Ông cho rằng khí hậu chỉ là một trong những yếu tố chung, nếu chỉ căn cứ vào khí hậu thì kiến trúc mỗi nhóm dân (sắc) tộc sẽ có cách ứng phó riêng với điều đó [9]. Sự khác biệt trong kiến trúc của các dân tộc được phản ánh trong hình thức cấu trúc và văn hóa đời sống hàng ngày. Đây là cái được tác giả Nguyễn Khác Tụng gọi là “Mặt bằng sinh hoạt”, để phân biệt với “Mặt bằng thiết kế” công năng. Cùng với những yếu tố vật chất như hình thức, kết cấu thì mặt bằng sinh hoạt này biểu hiện ra sự khác biệt, lý lịch nhiều đời của một dân tộc. Bản sắc kiến trúc Việt Nam, theo góc nhìn này, nằm ở cách con người tổ chức tầng bậc không gian. Ví dụ như sự phân chia giữa trong và ngoài, giữa không gian thờ cúng linh thiêng và không gian sinh hoạt trần thế, giữa khu vực của nam và nữ giới trong ngôi nhà truyền thống.

Đây chính là những mô thức hình thái không gian. Khi lối sống thay đổi, bản sắc kiến trúc cũng thay đổi theo một cách hữu cơ. Do đó, việc sao chép hình thức cũ (Sắc) mà không hiểu logic của lối sống hiện đại (Bản) sẽ tạo ra những không gian vô hồn nơi con người không thể tìm thấy sự kết nối với bản ngã văn hóa của mình.

Bản sắc, vì thế, nên được xem như là sản phẩm của những gì tất yếu – Đó là giọng nói rành rọt của vùng đất sản sinh ra kiến trúc một cách chân thực, vì khó lòng có thể khác đi được – Đó là kết quả của một quá trình tinh lọc khắt khe qua nhiều thế kỷ, nơi những gì thừa thãi, phù phiếm bị loại bỏ, chỉ còn lại cái cốt lõi sinh tồn.

Thời kỳ tiền hiện đại: Bản sắc trong sự vô thức

Trước thời kỳ hiện đại, khái niệm Bản sắc gần như không tồn tại trong từ vựng của những phường thợ thủ công Việt Nam. Đơn giản vì họ không có nhu cầu định danh trước một đối tượng khác biệt. Ngôi nhà truyền thống ra đời từ sự thích nghi tuyệt đối với tự nhiên, như: Mái dốc lớn để thoát nước mưa nhanh, hiên sâu để chắn nắng, tạo không gian đệm, cấu trúc vì kèo linh hoạt từ nguồn vật liệu địa phương… Hành động xây dựng lúc đó là một phần của sinh hoạt nông nghiệp, bình thản và tự nhiên như cuộc sống của chính người nông dân.

Đây cũng là hiện tượng thông thường trên thế giới, như Rapoport giải thích [7], đó là thế giới quan thu nhỏ, mô hình lý tưởng về môi trường sống, mà không hề có sự can thiệp của người thiết kế với một ý đồ riêng nào. Đơn giản vì những người làm nhà, xây nhà cùng chia sẻ một mô hình kiến trúc chung, thích ứng với phần lớn các yêu cầu về văn hoá, vật lý khí hậu. Bản sắc lúc này nằm ở tổ hợp toàn thể của cái thành thật của cấu trúc, tính vững chãi của kết cấu, nguồn gốc địa phương của vật liệu, tính thích ứng của khí hậu và sự duyên dáng của hình thức mà cả cộng đồng chấp thuận. Hình mẫu này tạo nên cái bản chất của truyền thống. Đây cũng là cái như Correa [3] đã lập luận, bản sắc là những dấu vết một nền văn minh đã để lại trong lịch sử. Tuy nhiên, chính ở đây, những dấu vết này cũng khiến chúng ta dễ bị nhầm lẫn giữa cái ngoại diện vốn là sản phẩm sau cùng và tập hợp của các yếu tố đóng góp trong cả quá trình.

Thời hiện đại: Sự “va chạm” giữa các nền văn hoá và nhu cầu tự khẳng định

Sự xuất hiện của người Pháp tại Việt Nam đã tạo ra một cú sốc văn hóa. Lần đầu tiên, người Việt với văn hoá truyền thống, thấy mình bị đặt trong thế đối trọng và chèn ép của “Cái khác biệt”. Đến lúc này nhu cầu định danh trỗi dậy mạnh mẽ. Hội Khai Trí Tiến Đức và những người thiết kế thời bấy giờ như Đỗ Văn Y đã ý thức rất rõ việc phải tạo ra một lối kiến trúc “làm theo lối ta, như theo cách thức tây, cần nhất là theo lối kiến trúc Bắc Kỳ”. Hội quán Khai trí (1920) hay các cuộc thi thiết kế nhà ở năm 1924 chính là những nỗ lực chính thống đầu tiên trong việc tạo ra một mô hình lai ghép giữa kỹ thuật văn hoá tân thời và hình thức của kiến trúc truyền thống.

Bên cạnh đó, một chương trình khác, tuy không khoác lên mình những hình thức của quá khứ, các KTS của chương trình Nhà Ánh sáng của Tự Lực Văn Đoàn trong thập niên 30 lại tiếp cận văn hóa sống của người Việt theo một cách hiện đại hơn. Họ đề xuất những mẫu nhà chung cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam có chung mẫu số mái dốc để ứng phó điều kiện khí hậu nhiệt đới, không gian thoáng đãng đáp ứng điều kiện sinh hoạt và vệ sinh, và vật liệu xây dựng địa phương. Một cộng đồng dân tộc mới trong buổi giao thời chính là cái Nhất Linh kêu gọi “Cái gì bền chặt, còn mãi mãi, không phải là những căn nhà dựng lên, mà chính là cái ý muốn chung của chúng ta, của dân quê, cái ý muốn có sự thay đổi mãi mãi, cái lòng nhiệt thành với công việc ta làm, lúc nào ta cũng hết sức, chắc ở mình và chắc ở tương lai”.

Lời kêu gọi này đã đẩy khái niệm “Bản” vượt khỏi những vật liệu thông thường để biểu đạt vào “ý muốn chung của chúng ta”, của những người Việt trong một giai đoạn. Đó cũng là cấu trúc xã hội và thế giới quan của xã hội mà Rapoport nhấn mạnh. Với Nhà Ánh Sáng, bản sắc không phải là một đối tượng để tìm thấy trong quá khứ, mà là một tiến trình xây dựng tương lai, nơi kiến trúc là công cụ để cụ thể hóa khát vọng về một đời sống văn minh và tự chủ của người Việt.

Những sự chuyển mình của kiến trúc Việt Nam đầu thế kỷ 20 quá trình mà các trí thức và kiến trúc sư đóng vai trò như những nhà văn hóa. Họ sử dụng kỹ thuật hiện đại (phần xác) để bảo vệ và duy trì lối sống của cộng đồng dân tộc (phần hồn). Bản sắc kiến trúc giai đoạn này, vì thế, là một sự kết hợp biện chứng giữa cái hiện thời của công năng và kỹ thuật, với sự duy trì với các ký ức thị giác và tinh thần của dân tộc, để hướng đến tương lai.

Thời kỳ Độc lập: Diễn ngôn về tính Dân tộc và các giới hạn của Hình thức kiến trúc.

Sau năm 1954, miền Bắc đứng trước nhiệm vụ xây dựng quốc gia. Đây là giai đoạn mà các ngành sáng tác ở Việt Nam vận hành dưới sự chi phối của phương pháp sáng tác Hiện thực XHCN với công thức nổi tiếng: Hình thức dân tộc, nội dung XHCN. Định hướng “dân tộc” chính là sự khẳng định danh tính của kiến trúc Việt Nam giai đoạn hậu thuộc địa. Bản sắc kiến trúc, hay tính dân tộc, trở thành một chỉ dấu cũng như mệnh lệnh chính trị.

Phương án Nhà Quốc hội của KTS Nguyễn Cao Luyện, Trần Hữu Tiềm và các chuyên gia Trung Quốc. Nguồn ảnh: Sách “Thế hệ KTS đầu tiên của Hội KTS Việt Nam” – được tăng độ phân giải bằng AI Gemini.

Theo lập luận của Anthony Smith [10], bản sắc dân tộc không chỉ là ý thức chính trị, mà là một hiện tượng văn hóa, lịch sử sâu dài. Và kiến trúc chính là một trong những công cụ chính để biểu đạt bản sắc dân tộc, thông qua việc huy động các yếu tố bản địa [11]. Điều này có thể thấy rõ ở hội nghị lần 2 của Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam năm 1957 tại Hà Nội. Báo cáo của hội nghị khẳng định, khi miền Bắc Việt Nam tiến lên một xã hội mới thì nền kiến trúc mới – đó là “Một nền kiến trúc dân tộc và tiến bộ. Nó có cội rễ ăn sâu vào nền kiến trúc cổ của nước nhà. Trong điều kiện địa chất và khí hậu nhất định, trải qua một quá trình vừa thích ứng vừa khắc phục hoàn cảnh thiên nhiên […] Chúng ta phải tìm hiểu và học tập những cái đó, tìm ra những nét điển hình của cách sinh hoạt thích hợp nhất với dân tộc chúng ta trong những điều kiện của hoàn cảnh mới” [12, p. 13]. Từ đó, khái niệm cội rễ được đồng nhất với những công trình cổ còn sót lại sau chiến tranh. Để thoả mãn các yêu cầu này, dường như theo quan điểm của các KTS, kiến trúc dân tộc đồng nghĩa với các kiến trúc cổ. Từ đó, không khó để giải thích vì sao lễ đài Ba Đình năm 1955 hay phương án Nhà Quốc hội năm 1960 có mái cong và lầu gác. Những yếu tố này này đã biến ngôn ngữ kiến trúc trở thành một hệ thống kí hiệu học khổng lồ để nhấn mạnh sự liên tục của nền văn hóa Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những khẩu hiệu chính trị và những hình thức của quá khứ, cũng ngay từ chính giai đoạn này, các KTS thế hệ đầu tiên của Việt Nam cũng nhanh chóng chỉ ra các yếu tố quyết định của kiến trúc dân tộc: Đó là văn hoá và khí hậu sinh thái. Đây là một sự chuyển dịch quan trọng từ việc sử dụng kiến trúc như một công cụ “diễn trình sử tính” sang việc coi kiến trúc là một thực thể sống thích nghi và tiến hoá.

Khi bàn về kiến trúc Hiện thực XHCN, KTS Trần Hữu Tiềm [13] khẳng định: Kiến trúc dân tộc không chỉ đơn thuần là sự bắt chước quá khứ. Hình thức của quá khứ là phương thức tồn tại của nội dung trong quá khứ. Trong khi một nền kiến trúc chỉ mang tính dân tộc khi phục vụ hiệu quả trong bối cảnh mới, truyền tải các giá trị đạo đức và tinh thần của nhân dân. Nói cách khác, tính hiện thời và giá trị văn hoá tinh thần mới là yếu tố tiên quyết. Nếu chúng ta dùng cái vỏ của xã hội nông nghiệp quá khứ để chứa đựng nội dung của một xã hội đang công nghiệp hóa, kiến trúc sẽ tạo ra những thực thể lai căng và giả dối. KTS Ngô Huy Quỳnh [14] lập luận: Tính dân tộc không nên được xác định qua hình thức, mà phải dựa trên những yêu cầu bền vững hơn – Đó là khí hậu, địa hình và lối sống địa phương. Ông hiểu rằng, chính việc giải quyết bài toán thông gió nhiệt đới, chống nóng và nương theo thế đất của từng vùng miền mới tạo ra một diện mạo kiến trúc Việt chân thực nhất. Nói cách khác, bản sắc dân tộc không phải là cái được dán lên vỏ ngoài công trình, mà là cái nảy sinh từ logic sinh tồn trên một vùng đất cụ thể. KTS Tạ Mỹ Duật [15] thậm chí còn đi xa hơn khi khẳng định: Không có “Hình thức dân tộc”, mà chỉ có “Tính dân tộc”. Đó một thực thể vô hình nhưng mạnh mẽ, tự hình thành, kết tinh và biến đổi liên tục trong chính dòng chảy của cuộc sống hiện thời. Ông khẳng định, việc sao chép sử dụng lại quá khứ là sự lười biếng. Vận dụng lại những ký hiệu hoá thạch của quá khứ như mái đao, hoạ tiết không chỉ kìm hãm sự phát triển của kỹ thuật kiến trúc, mà còn làm nghèo nàn hóa khái niệm dân tộc.

Những tư tưởng này có thể hiện rõ ở phương án Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh của KTS Nguyễn Đức Thiềm, không sử dụng lại các “từ vựng” hình thức cổ đại (chi tiết đầu đao, họa tiết trang trí), mà tiến hành trừu tượng hóa ngữ pháp của không gian truyền thống: Bệ đài vững chãi, phần thân tinh giản và hệ mái vươn rộng mang âm hưởng kiến trúc nhiệt đới. Sự chuyển mã bằng ngôn ngữ hình học khối kỷ hà hiện đại này giúp công trình từ chối sự lười biếng của việc sao chép quá khứ. Kết quả là, nó vừa tạo ra một biểu tượng dân tộc có sức mạnh thị giác (Sắc), vừa đáp ứng trọn vẹn tinh thần thời đại, quy mô công trình và vật liệu mới (Bản).

Những tư tưởng nói trên đã dựng lên được cuộc đối thoại sắc sảo giữa cái phổ quát của cả giai đoạn và cái đặc thù riêng biệt của dân tộc. Sau này, Chủ nghĩa Phê phán địa phương đến năm 1983 mới được Kenneth Frampton hệ thống hóa khái niệm và đưa ra 6 đặc điểm, phản kháng lại xu hướng tiêu chuẩn hóa của Chủ nghĩa Hiện đại phổ quát [16]. Tuy nhiên, các KTS Việt Nam của những năm 60-70 đã sớm nhận ra được những điều này bằng một tư duy trí thức độc lập và sự hiểu biết sâu sắc về căn cốt của kiến trúc dân tộc. Sự độc lập tri thức và những kiến giải sâu sắc của họ sẽ còn là những bài học nghiêm túc cho các thế hệ đi sau.

Có thể thấy cách nhìn thống nhất về Bản sắc trong tư duy của các KTS thế hệ đầu tiên. Một bên là nhu cầu định danh quốc gia thông qua các ký hiệu lịch sử (Sắc), và một bên là khát vọng đi tìm cái căn cốt của văn hoá và không gian nhiệt đới (Bản). Khước từ sự lười biếng của việc sao chép quá khứ, các KTS đã khẳng định một điều: Bản sắc dân tộc trong kiến trúc không phải là một mẫu hình đóng băng. Đó là hàm số của những ràng buộc và sự vận động từ đến thực tại. Thay vì như một nhãn hàng mang biểu tượng, bản sắc cần được sản sinh từ sự đối thoại với văn hoá, khí hậu, vật liệu và cấu trúc xã hội, chuyển trọng tâm từ biểu đạt hình ảnh sang diễn giải logic vận hành và trải nghiệm của con người Việt Nam. Từ góc độ này, bản sắc trong công trình kiến trúc được biểu đạt khi người Việt cảm thấy được thuộc về, được đối thoại với lịch sử và hiện tại. KTS không phải là người trang trí cho cho các ý đồ chính trị hay thương mại.

Bản sắc dân tộc: Kiến trúc của sự chân thực

Nhìn lại những quan điểm kiến trúc giai đoạn trước 1975, có thể rút ra một hướng đi chiến lược cho kiến trúc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Trước hết, hiểu biết về văn hoá, khí hậu, địa điểm địa phương cần được xem như một đòi hỏi cốt lõi của người kiến trúc sư hiện đại. Họ phải người trung gian, “phiên dịch” giữa những tầng sâu văn hóa của dân tộc và những đòi hỏi hiện thời của xã hội, từ đó tổ chức không gian phù hợp với khí hậu, tập quán sử dụng và cấu trúc xã hội của từng địa phương. Một công trình kiến trúc giải quyết tốt những yếu tố trên sẽ sự đóng góp, thúc đẩy sự vận hành cơ cấu căn cốt của người Việt. Tiếp đó, cần thoát khỏi cách hiểu bản sắc dân tộc như một bộ từ điển các dấu hiệu biểu tượng hay hệ hình mỹ học trang trí. Đó chỉ là những lớp vỏ hình thức của cả quá trình vận động của văn hoá xã hội. Trong các công trình công cộng đương đại như nhà ga, trung tâm hành chính, bảo tàng hay quảng trường đô thị, cần tỉnh táo trước cám dỗ trưng bày cái kho tín hiệu thị giác phổ thông của quá khứ.

Phương án Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1970.
KTS Nguyễn Đức Thiềm. Nguồn Trung tâm lưu trữ quốc gia 3

Câu hỏi về Tính dân tộc chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành không gian có ý nghĩa đối với xã hội, mà qua đó chúng ta có thể cùng “thấy”, cùng hiểu và cùng chia sẻ những tự hào của quá khứ, những thành tựu của hiện tại và những khát vọng của tương lai.

KTS Nguyễn Mạnh Trí
PGS. TS. KTS Nguyễn Việt Huy
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2026)


Ghi chú
1 Nhóm chuyên môn Lý thuyết và lịch sử kiến trúc, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng Hà Nội.
2 Nhóm chuyên môn Kiến trúc dân dụng, khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng Hà Nội.
3 Trong từ điển Thiều Chửu, chữ “bản” (本) thể hiện cái gốc, cội rễ, còn chữ “sắc” (色) diễn tả màu sắc, diện mạo, vẻ bề ngoài, cảnh tượng.
4 Bản dịch tiếng Việt “Văn hoá qua kiến trúc nhà ở” của nhà xuất bản Mỹ thuật, 2024.
5 Hội KTS Việt Nam thành lập năm 1948 trong giai đoạn chiến tranh Đông Dương trong Hội nghị lần 1 do tám KTS sáng lập, là: Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Ngọc Chân, Trần Hữu Tiềm, Đoàn Văn Minh, Tạ Mỹ Duật, Võ Đức Diên và Phạm Quang Bình. Tất cả đều được đào tạo từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Tài liệu tham khảo
[1] M. Heidegger: “Lettre on Humanism,” in Martin Heidegger, Basic Writings – D. F. Krell, Ed., New York: Harper & Row, 1977, pp. 189–242;
[2] H. Phê: Từ điển tiếng Việt – Viện Ngôn ngữ học. Đà Nẵng, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003;
[3] C. Correa, “Quest for Identity,” in Architecture and identity: proceedings of the regional seminar in the series Exploring architecture in Islamic cultures, Aga Khan Award for Architecture (Organization), Universiti Teknologi Malaysia, and Malaysia, Eds., in Exploring architecture in Islamic cultures, no. 1. , Singapore: Published for the Aga Khan Award for Architecture by Concept Media, 1983;
[4] M. Heidegger, “Building dwelling thinking,” in Rethinking architecture, Routledge., London: Routledge, 1997, pp. 95–104;
[5] T. Yi-Fu, “Traditional : What does it mean?,” in Dwellings, settlements, and tradition: cross-cultural perspectives, J.-P. Bourdier, N. AlSayyad, and International Association for the Study of Traditional Environments, Eds., Lanham : Berkeley, CA: University Press of America ; International Association for the Study of Traditional Environments, 1989, pp. 27–34;
[6] H. Đ. Kính: “Thiên nhiên và khí hậu nhiệt đới nóng ẩm trong sự cấu thành bản sắc kiến trúc,” – Văn hoá kiến trúc, Hà Nội: Nhà xuất bản Tri thức, 2012;
[7] A. Rapoport, House form and culture. New Jersey: Prentice-Hall, 1969.
[8] A. Rapoport, “Attributes of tradition,” in Dwellings, settlements, and tradition: cross-cultural perspectives, J.-P. Bourdier, N. AlSayyad, and International Association for the Study of Traditional Environments, Eds., Lanham : Berkeley, CA: University Press of America ; International Association for the Study of Traditional Environments, 1989, pp. 77–105.
[9] N. K. Tụng: “Thử tìm hiểu mối liên hệ giữa những nghiên cứu về nhà cửa dân gian các dân tộc của nhà dân tộc học với nhu cầu trong sáng tác các kiểu nhà cho những cư dân nhất định của KTS,” Tạp chí Kiến trúc, no. 1 – Hội KTS Việt Nam, Hà Nội, pp. 61–62, 1979;
[10] A. D. Smith, “Introduction: Nation and Interpretation,” in The nation made real: art and national identity in Western Europe, 1600-1850, First edition., Oxford: Oxford University Press, 2013, pp. 5–20;
[11] A. D. Smith, “National identity and vernacular mobilisation in Europe: National identity and vernacular mobilisation in Europe,” Nations and Nationalism, vol. 17, no. 2, pp. 223–256, Apr. 2011, doi: 10.1111/j.1469-8129.2011.00491.x;
[12] Hội KTS Việt Nam: Hội nghị toàn quốc lần thứ 2 (The 2nd national congress of Vietnamese architects). Hanoi, 1959;
[13] T. H. Tiềm: “Tìm hiểu về chủ nghĩa xã hội hiện thực chủ nghĩa trong kiến trúc,” Nội san Kiến trúc, no. 1, Đoàn KTS Việt Nam, Hà Nội, pp. 1–17, 1970;
[14] N. H. Quỳnh: “Mấy ý kiến về quy hoạch và kiến trúc nông thôn trước nhiệm vụ cải tạo thôn xóm và xây dựng phong hoá mới” – Nội san Kiến trúc, no. 2, Đoàn KTS Việt Nam, pp. 1–23, 1969;
[15] T. M. Duật: “Thử tìm một quan điểm về tính hiện đại và tính dân tộc trong kiến trúc,” Nội san Kiến trúc, no. 2, Đoàn KTS Việt Nam, pp. 14–18, 1979;
[16] F. Kenneth, “Towards a Critical Regionalism: Six Points for an Architecture of Resistance,” in Postmodern Culture.