1. Bối cảnh
Hiện nay, Việt Nam được xếp khoảng thứ 5 – 7 trong Tốp 10 quốc gia/vùng lãnh thổ hứng chịu bão, áp thấp nhiệt đới nhiều nhất thế giới. Theo thống kê, từ năm 1945 đến năm 2020, đã có 459 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, mỗi năm trung bình Việt Nam chịu 4-6 cơn bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào đất liền, chủ yếu vào tháng 6-11. Khu vực chịu ảnh hưởng nhất là miền Trung và miền Bắc, nhiều nhất là từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa. Trong những năm gần đây, bão có xu hướng dịch chuyển cả về phía Nam, nguyên do là khu vực nước ta nằm trên đường đi của bão từ biển Thái Bình Dương – một trong vài vùng được coi là “ổ bão” dữ dội nhất thế giới, chiếm đến khoảng 1/3 tổng số bão nhiệt đới toàn cầu mỗi năm. Trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng khốc liệt, việc nước ta hứng chịu các cơn bão với cường độ và số lượng ngày càng gia tăng là điều không thể tránh khỏi (năm 1973 số lượng cơn bão đổ bộ vào nước ta là 23, nhưng cường độ yếu hơn nhiều so với 15 cơn đổ bộ vào năm 2018, là năm có số cơn bão nhiều nhất trong 10 năm gần đây).
Về vấn đề ngập lụt (kể cả do hoàn lưu bão và nguyên nhân khác) nước ta cũng được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị lũ lụt và ngập nhất thế giới, gần một nửa dân số Việt Nam hiện sống ở vùng nguy cơ cao. Bên cạnh đó trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng thì có đến 20% đất liền nước ta bị ngập thường xuyên, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long tỉ lệ diện tích bị ngập lên tới hơn 40%. Việc ngập lụt này (do BĐKH, nước biển dâng) sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhà cửa và mưu sinh của khoảng 30 triệu người.
Tình trạng sạt lở và sụt lún cũng là những nguy cơ hiện hữu và ngày càng gia tăng tiềm ẩn. Trong đó, việc sạt lở diễn ra cùng sụt lún thường gắn liền với động đất và mưa bão. Còn riêng sụt lún, còn là nguy cơ hiện hữu, nặng nề cho các vùng đất bị ngập thường xuyên do biến đổi khí hậu.
Tình trạng trên sẽ ảnh hưởng vô cùng to lớn đến nhà ở và đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việt Nam, ở mọi vùng miền, theo các loại hình và cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, chỉ riêng BĐKH và mưa bão không thể giải thích được quy mô tàn phá – Chính quá trình đô thị hoá, xây dựng thuỷ điện… không được kiểm soát bài bản và khoa học đã tạo nên sự khủng hoảng nghiêm trọng, với hệ luỵ cao, dẫn tới hình thành nguy cơ hiện hữu, không kém gì thiên tai, điều đó có thể xem như là “nhân tai”, đã “tiếp tay đắc lực và cộng hưởng” cho tàn phá từ thiên tai: Với việc bê tông hóa, nhựa hoá kể cả các vùng ngập nước, lấp sông, ao hồ, tại các đô thị và nông thôn… đã làm cho BĐKH có mức độ nguy hiểm tăng lên gấp bội; nạn phá rừng, làm đập thuỷ điện vô tội vạ, bê tông hóa các vùng xanh nông thôn, thu hẹp và làm nông dòng chảy tiêu thoát… đã làm trầm trọng thêm mức sạt lở, úng ngập; việc thay đổi chiến lược “sống chung với lũ” sang “đương đầu với lũ” cũng để lại nhiều hệ luỵ không kém; Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến chậm và thiếu hiệu quả trong lĩnh vực này cũng là một nguyên nhân không nhỏ.
Về mặt thể chế, quy định, kiểm soát và triển khai vận hành: Các quy định của Việt Nam về phòng chống sạt lở, bão lốc, úng ngập, thời gian qua đã có nhiều nỗ lực đưa đến những kết quả hữu ích, đã giảm bớt được nhiều rủi ro. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều bất cập khá căn bản, chưa theo kịp BĐKH diễn biến phức tạp:
- Các quy định pháp lý bắt buộc, các chính sách nền tảng chưa có chế tài cụ thể, thiếu công cụ pháp lý mạnh mẽ để điều tiết, chế tài xử phạt chưa nghiêm, kế hoạch chậm cập nhật;
- Công tác khảo sát và đánh giá địa tầng, địa mạo thiếu chính xác và còn theo phương pháp tĩnh (tức là chỉ xác định tập trung ở trạng thái trong điều kiện bình thường, không có giải pháp đầy đủ để ứng phó BĐKH);
- Bất cập trong quy hoạch và quản lý đô thị: Quy hoạch thiếu tích hợp đồng bộ và tương tác. nhiều quy hoạch cao độ nền, thoát nước, không gian trữ nước vẫn là những nội dung rời rạc, không liên kết, dẫn đến ngập cục bộ hoặc khu cao đổ về khu thấp một cách không kiểm soát; bê tông hoá và san lấp tự do: gắn với tốc độ đô thị hóa nhanh, san lấp ao hồ, kênh rạch đại trà, làm suy giảm khả năng thoát nước tự nhiên; quy hoạch vượt quy luật và dự báo từ đầu, nhưng không được bổ sung điều chỉnh kịp thời;
- Vấn đề hạ tầng và nguồn vốn: Thiếu vốn, hạ tầng lạc hậu, chậm khắc phục sau thiên tai;
- Công tác dự báo và ứng phó: Dự báo phạm vi rộng và hẹp đều còn thiếu chính xác, hạn chế, thiếu chi tiết, thiếu kịp thời; sự phối hợp chưa đồng bộ trong vận hành khai thác.
Với những bất cập như vậy, chúng ta nên đổi mới cách tiếp cận nghiên cứu và đề xuất giải pháp thế nào cho phù hợp với tương lai gần và xa?
2. Định hướng về nghiên cứu và giải pháp chung
Đã có khá nhiều nghiên cứu và đề xuất giải pháp cho vấn đề này, nhưng phần lớn là bị động, cần có sự nhìn nhận đầy đủ và rõ ràng hơn. Thời điểm hiện nay, theo đường lối và chủ trương nhất quán từ Trung ương, cần quán triệt mấy nguyên tắc cơ bản:
- Một là, chủ động sống chung, tức là thích ứng với BĐKH, tôn trọng quy luật tự nhiên, tăng cường các giải pháp phi công trình;
- Hai là, hoàn thiện thể chế, bao gồm rà soát chính sách trong đó ưu tiên phòng ngừa và ứng phó chuẩn, nhanh. Rà soát quy hoạch, kiên quyết không san lấp ao hồ, cống, rạch, sông suối tự nhiên, khơi thông, nạo vét dòng chảy chủ động theo tính toán khoa học khả thi, thích ứng khi có thiên tai hoặc điều kiện bất lợi xảy đến;
- Ba là, đầu tư công nghệ để nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo sớm và chống chịu có hiệu quả cao (Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/04/2026 của Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam).
Quan điểm chuyên môn cần xem xét đồng thời:
- Phân vùng theo địa lý và địa hình, địa mạo, trên cơ sở tổng hợp thực tế và dự báo khoa học, đề xuất giải pháp tích hợp cho việc phòng chống theo mức độ trầm trọng của thiên tai và nhân tai;
- Chủ động giải quyết ngay từ khâu phòng chống, xuất phát từ các nghiên cứu, phân tích tính toán khoa học đề xuất các giải pháp cụ thể, làm thí điểm để rút kinh nghiệm nhân rộng, phổ biến kịp thời;
- Đồng bộ tất cả các khâu liên quan, bắt đầu từ chủ trương chính sách, quy định pháp lý; vận hành tích hợp hệ thống, kết nối các khâu từ tổng quan đến chi tiết (xem xét các vấn đề ảnh hưởng, tổ chức quy hoach chung, triển khai từng nội dung, từng phần việc riêng rẽ); huy động các cấp, các ngành có liên quan cùng vào cuộc, cùng giải quyết vấn đề theo mục tiêu chung;
- Phương châm xử lý: Vẫn cần tuân thủ theo nguyên tắc hai cấp, chính quyền và nhân dân cùng vào cuộc. Ưu tiên giải quyết theo hướng bốn tại chỗ: Chỉ huy; lực lượng; phương tiện và vật tư; hậu cần.
Tổng quan về định hình giải pháp - Với vấn đề chống bão: Cần định hướng giải pháp tại Việt Nam theo mô hình trên thế giới hiện nay, chuyển dịch mạnh mẽ từ việc chỉ xây dựng công trình kiên cố (giải pháp cứng) sang kết hợp hài hoà tự nhiên (giải pháp mềm) và ứng dụng công nghệ thông minh để thích ứng với BĐKH, bao gồm:
- Giải pháp công trình “cứng” (Hard Engineering): Đây là các cấu trúc hạ tầng kiên cố nhằm ngăn chặn trực tiếp tác động của bão và triều cường: (i) Hệ thống đê biển và đập chắn sóng (đã triển khai thành công tại Hà lan và St.Petersburg, Nga); (ii) Cửa ngõ triều cường được lập các “hàng rào tự động” nâng lên khi nước dâng cao (hệ thống dạng Oyster tự nâng hoặc Mako); (iii) Hồ và đập điều tiết lũ (như dạng hồ Marina, Singapore ngăn nước biển xâm nhập và chứa nước mưa kết hợp là hồ sinh thái); (iiii) Hệ thống tiêu thoát nước ngầm (như dạng bức tường ngầm của Nhật Bản để giảm úng ngập do bão và hoàn lưu tại các vùng đô thị);
- Giải pháp dựa vào tự nhiên “mềm” (Nature-Based Solutions-NBS): Với xu hướng tập trung vào việc phục hồi hệ sinh thái để hấp thụ năng lượng bão: (i) Phục hồi rừng ngập mặn và đất ngập nước: Rừng ngập mặn hoạt động như bức tường xanh, làm giảm năng lượng sóng tăng cấp do bão trước khi đập vào bờ; (ii) Rạn san hô nhân tạo và đê ngầm: Xây dựng các cấu trúc giảm sóng ngoài khơi, giúp giảm xói lở bờ biển; (iii) Mô hình thành phố bọt biển (Sponge Cities): Áp dụng tại nhiều đô thị kể cả vùng cũ có khả năng cải biên và vùng mới đô thị hiện có, lập đô thị mới, để hấp thụ nước mưa toàn mặt, thay vì chỉ thu gom thoát nước theo hệ thống cống rãnh, thường được thiết kế chỉ đáp ứng cho công suất trong điều kiện bình thường để tránh lãng phí;
- Quy hoạch và kiến trúc thích ứng (Resillient Architecture): (i) Quy hoạch có tính toán địa hình để bố trí tốt vùng cư trú (cao) và vùng tiêu thoát (thấp), có tính đến khả năng sử dụng không gian và địa hình đa năng (ví dụ mùa khô là công viên sinh thái, mùa ngập lụt là hồ chứa nước); (ii) Nâng cao sàn hoạt động chính, làm nhà nổi, hoặc làm tầng lánh nạn kiên cố, an toàn khi bị thiên tai, các giải pháp lắp ghép nhà cơ động; (iii) Vật liệu và kiến trúc chịu lực, thiên về toàn khối hoặc khung cứng bê tông cốt thép, thép, kể cả vật liệu và trang thiết bị hoàn thiện (cửa, tấm lợp mái…) cũng cần có khả năng chống chịu bão cấp lớn theo yêu cầu vùng miền; (iiii) Xây dựng có chủ đích: thiết kế không gian công trình tầng trệt sẵn sàng đón nước ngập và chống chịu được luồng chảy qua, giảm áp lực tối đa và giảm thiểu khả năng mất an toàn cho người.
- Công nghệ thông minh và quản lý rủi ro (Smart Management): (i) Dự báo AI và hệ thống cảnh báo sớm: Sử dụng AI để dự báo đường đi của bão và diễn biến ngập lụt theo thời gian thực; (ii) Quản lý 4 tại chỗ tốt: Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam từ trước đến nay đều nhấn mạnh việc chuẩn bị vật tư, nhân lực, chỉ huy và hậu cần tại địa phương sẽ có bão đổ bộ trước khi diễn ra đổ bộ của cơn bão với dự báo càng sát thực tế càng tốt; (iii) Sơ tán chủ động: Xây dựng khung pháp lý chặt chẽ, xây dựng sẵn, tính toán sẵn các khu sơ tán theo khoanh vùng bán kính thích ứng và đủ độ an toàn để di dời người dân và trang vật dụng thiết yếu từ sớm đến các khu trú ẩn an toàn, được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe trong điều kiện có thể.
- Với vấn đề chống sạt lở, sụt lún: Cũng như chống bão, trên thế giới, giải pháp chống sạt lở và sụt lún đang chuyển dịch mạnh mẽ từ các biện pháp công trình cứng”(xây kè, tường chắn…) sang kết hợp giữa công nghệ cao (AI,IoT) và giải pháp dựa vào tự nhiên (Nature-Based Solution NBS). Theo xu hướng từ sau 2025, đã ngả sang nhấn mạnh tính đồng bộ, thuận thiên, và quản lý rủi ro bền vững, cụ thể là:
-
- Nhóm giải pháp công trình (Hard Engineering): Đây chính là các biện pháp gia cố vật lý, tập trung tại khu vực có nguy cơ cao, bao gồm: (i) Gia cố mái dốc: Sử dụng neo trong đất, cọc bê tông, tường chắn, và phun bê tông để giữ ổn định đất đá; (ii) Quản lý dòng chảy: Xây dựng hệ thống thoát nước ngầm và bề mặt hồ chứa nước mưa, để giảm bão hòa nước trong lòng đất; (iii) Kè và cấu kiện giảm sóng: Sử dụng kè kiên cố tại các vùng đô thị hoặc kè mềm, kết hợp cấu kiện phá sóng, gây bồi bãi để bảo vệ sông, suối, bờ biển; (iiii) Gia cố nền móng: Áp dụng kỹ thuật cao để tăng độ cứng nền đất tại các vùng có nguy cơ hoặc đã sụt lún.
- Nhóm giải pháp phi công trình (Soft Engineering): Tập trung quản lý, quy hoạch và nâng cao nhận thức: (i) Cảnh báo sớm: Sử dụng mạng lưới cảm biến IoT, dữ liệu vệ tinh và AI để theo dõi lượng mưa, độ ẩm và độ nghiêng địa hình; (ii) Quy hoạch sử dụng đất: Chủ động di dời dân cư khỏi vùng nguy cơ cao; (iii) Hạn chế khai thác nước ngầm.
- Giải pháp dựa vào tự nhiên và sinh thái (NbS): Chính là xu hướng phát triển bền vững, thân thiện với môi trường: (i) Kỹ thuật sinh học: Phục hồi diện tích rừng tự nhiên, trồng cây có rễ sâu tại khu vực và vành đai, sử dụng thảm xơ dừa, lưới địa kỹ thuật để giữ đất và chống xói mòn bề mặt; (ii) Phục hồi rừng ngập mặn, trồng bổ sung rừng ngập mặn lấn biển: Tăng cường độ che phủ rừng này để chống xâm thực mất đất, giảm sóng và bảo vệ độ ổn định bờ biển; (iii) Thấm nước tự nhiên: Sử dụng càng nhiều càng tốt vật liệu lát nền thấm nước trong đô thị, khu dân cư, để nước mưa thấm tại chỗ xuống đất, hạn chế ngập úng dẫn đến gây sụt lún.
- Ứng dụng công nghệ với các xu hướng phù hợp và hiệu quả: (i) AI và Machine Learning: Sử dụng dữ liệu lịch sử và thời gian thực để dự báo sạt lở; (ii) BIM: Ứng dụng để quản lý rủi ro ngay từ khâu thiết kế công trình; (iii) Vật liệu mới: Nghiên cứu vật liệu tái chế, thân thiện môi trường, thay thế cát sông trong các công trình kè, phát triển mạnh các loại kè mềm tự nhiên.
- Với vấn đề chống ngập: Các giải pháp chống ngập lũ, nước biển dâng, do biến đổi khí hậu trên thế giới hiện nay cũng đang dịch chuyển từ đơn thuần giải pháp “chống cự” sang “thích ứng” và “chung sống”, kết hợp kỹ thuật hạ tầng cứng và giải pháp dựa vào thiên nhiên. Trọng tâm là mô hình thành phố bọt biển (thấm, giữ, lọc nước), hạ tầng xanh (mái nhà xanh, vườn mưa) và các hệ thống điều hoà lớn để quản lý nước mưa tại chỗ, cắt lũ thượng nguồn bằng các hồ điều hoà thuỷ điện, thuỷ lợi có dung tích thoả đáng, xây dựng thành phố dạng nổi trên mặt nước ngay từ đầu. Tổng quan các nhóm giải pháp chính bao gồm:
-
- Giải pháp hạ tầng xanh và dựa vào tự nhiên (Nature-Based-Solutions): (i) Thành phố bọt biển: Tăng cường diện tích thấm, sử dụng vỉa hè thấm nước, thu nước mưa và hồ điều hoà để giữ nước “tập trung” thay vì cố gắng xả nhanh; giải pháp này cũng chú ý hồ điều hoà cắt lũ thượng nguồn thuỷ điện, thay cho chỉ tích nước với yêu cầu “đủ” phát điện bốn mùa, thì phải làm kết hợp chức năng thứ hai, song hành quan trọng là trữ nước ngăn lũ; (ii) Mái nhà xanh và tường xanh: Giảm tốc độ dòng chảy nước gom từ các toà nhà; (iii) Phục hồi hệ sinh thái: Bảo vệ và tái tạo rừng, vùng đất ngập nước.
- Giải pháp hạ tầng cứng (kỹ thuật truyền thống): (i) Hệ thống thoát nước thông minh: Sử dụng công nghệ cảm biến và AI để dự báo và tối ưu hoá hệ thống thoát nước; (ii) Hồ điều hoà và kênh dẫn: Xây dựng các hồ chứa ngầm khổng lồ để lưu trữ nước tạm thời trong mưa lớn, kể cả trong đô thị và cả ngoại vi, xây dựng các hồ nổi cùng với yêu cầu như vậy tại khu vực thích hợp và thượng nguồn (có thể kết hợp hồ thuỷ lợi, sinh thái); (iii) Đê điều và cửa cống ngăn triều: Đặc biệt hợp với các quốc gia có cốt đất thấp hơn mực nước biển, hoặc ảnh hưởng úng ngập khi BĐKH, nước biển dâng.
- Quy hoạch và quản lý thích ứng: (i) Quy hoạch đô thị dựa trên rủi ro: Không xây dựng tại các khu vực nguy cơ cao, phân vùng chậm lũ; (ii) Nâng cấp quy chuẩn xây dựng đa dạng cho: Nâng cao nền nhà, quy định xây dựng nhà có mẫu thích ứng cho ngập lũ một phần (có thể là tầng 1), nhà có khả năng chống chịu nước, nhà nổi…
3. Một số phương cách có thể áp dụng phù hợp tại Việt nam
Phân vùng ảnh hưởng các loại thiên tai ở Việt Nam
Đối với các vùng miền của Việt Nam, do điều kiện khí hậu cũng như địa hình, địa mạo tự nhiên rất khác nhau, địa chất cũng có những cấu trúc riêng, kết hợp với phong tục tập quán, hình thái văn hoá theo bản sắc vùng miền, mức độ kinh tế, do đó việc phòng chống bão, lũ ngập, sạt lở và sụt lún cần được định hình rõ và đúng, trúng cho từng vùng. Trong đó, về mặt phòng, chúng ta sẽ quy hoạch và xây dựng được hệ thống đón đợi, đáp ứng được yêu cầu chống khi có thiên tai với quy mô và kinh tế phù hợp, cũng như lường trước được những nguy hiểm, thiệt hại để có thể giảm thiểu. Với việc chống, trên tinh thần huy động 4 tại chỗ, cũng sẽ ứng cứu được kịp thời và đặc biệt là giảm rủi ro cho tính mạng và tài sản nhân dân. Việc phân vùng này, có thể xác lập tương đối theo kết quả khảo sát thực tế và theo dõi quá trình tổng hợp thiên tai trong khoảng 100 năm vừa qua, có thể là:
- Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Do hoàn lưu bão và thay đổi khí hậu mùa, sẽ chịu ngập úng và sạt lở, trong đó ngập úng chủ yếu ở các phần địa hình, vùng quy hoạch và một phần nhà cửa, cho dù khoảng thời gian không dài. Nhưng vấn đề sạt lở và sụt lún ngày càng bất thường và rất nghiêm trọng, những vấn đề ngập úng đang có chiều hướng gia tăng, với phạm vi rộng và kéo dài ngày.
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ: Tình trạng bị ảnh hưởng các cơn bão với thiệt hại về người và tài sản mỗi năm đều xảy ra, tuy nhiên, do tỷ lệ công trình kiên cố và quy hoạch ổn định, nên các thiệt hại này hàng năm không còn lớn, có thể chủ động trong phòng và chống tương đối thuận lợi. Nhưng về vấn đề ngập úng, kể cả tại các đô thị, hiện là mối đe dọa thường xuyên, cần có những giải pháp cơ bản từ tổng thể đến chi tiết, để giải quyết trong cả hai yêu cầu phòng và chống.
- Vùng núi và trung du các tỉnh miền Trung: Đây là vùng bị thiên tai kép nặng nề nhất trong cả nước. Với ảnh hưởng của những cơn bão nhiệt đới, áp thấp ngày càng mạnh và dày, gây ra mưa kéo dài, dẫn đến ngập úng và đặc biệt là vấn đề sạt lở, sụt lún do lũ quét, kết hợp với địa hình có độ dốc lớn, địa chất không ổn định.
- Vùng đồng bằng ven biển các tỉnh miền Trung: Cũng là vùng bị nguy cơ kép từ thiên tai khó lường nhất cả nước. Vùng này thường bị sự tàn phá rất lớn của bão hàng năm do cường độ bão lớn và hệ thống công trình kiên cố còn có tỉ lệ hạn chế, kể cả các đô thị. Vấn đề ngập úng cũng xảy ra nghiêm trọng nhất cả nước, đang có xu hướng trầm trọng về tăng diện tích bị ngập, mức ngập sâu và thời gian dài hơn trước, do thượng nguồn diện tích rừng giảm nhanh, thuỷ điện trong vùng khi thiết kế chỉ giải bài toán tích đủ nước cho phát điện, mà không dành dung tích hồ chứa cho tích nước cắt lũ, cùng với việc điều phối tích nước thuỷ điện thiếu bài bản, không hài hoà yêu cầu chung, do đó, mỗi đợt mưa lũ thì các hồ thi nhau xả giữa lũ, để giữ an toàn đập, làm cho lũ ngập ở vùng hạ lưu thêm trầm trọng. Bên cạnh đó, các giải pháp phòng chống ở đây hầu như đều chưa được đặt vấn đề và triển khai bài bản, khoa học, hiệu suất. Còn việc chống sụt lún vùng này cũng cần đặt ra nhưng sẽ ở mức thứ yếu.
- Vùng đồng bằng Nam Bộ: Về bão, trước đây vùng này ít bị ảnh hưởng, nhưng nay do BĐKH cũng cần dự báo những cơn bão sẽ đổ bộ sang vùng này. Vì vậy, vấn đề chống bão cũng cần được đặt ra trong yêu cầu phòng, nhất là trong điều kiện thực tiễn là do phong tục tập quán, nhà cửa kiên cố vùng này đang chiếm tỉ trọng rất thấp trong tương quan chung cả nước. Vấn đề chống lũ ở đây, tuy ngày càng bớt nghiêm trọng do điều tiết thuỷ điện tại các phần sông đầu nguồn (các nước bạn). Nhưng, đây là vùng sẽ chịu ngập thường xuyên, nhiều nhất trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng, với dự báo đến khoảng 40% diện tích toàn vùng sẽ bị ngập khi nước biển dâng đến 100cm. do đó vùng này việc chống ngập là cơ bản. Việc chống sạt lở, sụt lún cũng đang đe dọa cư dân vùng này nhất là các vùng cận sông, kênh, rạch.
- Vùng miền Đông Nam Bộ: Đây là vùng khá an toàn trong cả 3 loại hình thiên tai. Vì vùng này nằm sâu trong đất liền, ít bị chịu bão. Tuy nhiên, gần đây, việc sụt lún, sạt lở cũng đã xảy ra, khả năng ngập, nhất là tại các đô thị trong thời gian ngắn ngày cũng đã có những diễn biến phức tạp hơn trước, cần có biện pháp phòng chống.
Các giải pháp chung có thể ứng dụng phù hợp theo điều kiện từng vùng miền
Tuỳ thuộc nguy cơ từng vùng miền, cho từng loại hình thiên tai đã nêu trên, cần lựa chọn những giải pháp thích hợp. Giải pháp nào cũng cần chú ý kết hợp giữa các giải pháp can thiệp bằng công trình (xây dựng) và phi công trình (quản lý khai thác tài nguyên, kỹ năng vận hành, sự huy động tổng lực cộng đồng) nhằm đảm bảo hiệu suất cụ thể, sự kịp thời, độ an toàn cao nhất, một số giải pháp hiệu quả cao có thể được khuyến cáo sau đây:
- Giải pháp Quy hoạch và di dời dân cư (căn cơ nhất): (i) Chú ý quy hoạch này không phải chỉ là quy hoạch xây dựng đô thị mà là quy hoạch các ngành có liên quan (ví dụ khi làm quy hoạch thuỷ điện và thuỷ lợi phải tích hợp yêu cầu tham gia cắt lũ trong tính toán dung tích hồ chứa và chu trình xả, hay quy hoạch lâm nghiệp phải đặt ra yêu cầu trồng rừng ngăn lũ…); (ii) Rà soát và di dời: Tính toán kịp thời di dời dân cư (vĩnh viễn và tạm thời) ra khỏi vùng nguy cơ cao; (iii) Quy hoạch nhà ở: Tránh xảy ra quy hoạch và xây dựng tại các vùng nguy cơ cao. Lựa chọn loại hình nhà ở thích ứng “sống chung” để thiết kế xây dựng tại các vùng ảnh hưởng thiên tai đáp ứng an toàn và bền vững trong mọi điều kiện; (iiii) Xây dựng bản đồ nguy cơ: Lập bản đồ chi tiết, có tích hợp đồng bộ các loại hình thiên tai xảy đến cho từng vùng để phổ biến toàn hệ thống đáp ứng tính cảnh báo và chủ động ứng phó.
- Giải pháp công trình và kỹ thuật mang tính bền vững: (i) Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn; (ii) Triển khai xây dựng kè chắn và tường chắn; (iii) Tổ chức hệ thống thoát nước bài bản và linh hoạt; (iiii) Canh tác bền vững; (iiiii) Sử dụng đập Sabo (loại đập giữ đất đá) giúp giảm tốc độ lũ, bùn, đá hiệu quả;
- Giải pháp phi công trình (ứng phó chủ động): (i) Cảnh báo sớm; (ii) Tập huấn kỹ năng cho người dân; (iii) Tuyên truyền diễn tập; (iiii) Thông tin liên lạc.
- Giải pháp ứng phó nhanh: (i) theo dõi thời tiết; (ii) Sơ tán khẩn cấp; (iii) Di chuyển an toàn; (iiii) Dự trữ nhu yếu phẩm; (iiiii) Khắc phục, bù đắp kịp thời thiệt hại.
Một số giải pháp cụ thể cho từng loại hình thiên tai và BĐKH
- Đối với chống bão:
- Về mặt quy hoạch: Chủ yếu là thiết kế đô thị bền vững bằng các vật liệu và công nghệ đáp ứng; Hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan phải có khả năng sống sót sau bão và không có khả năng gây nguy hiểm cho nhà cửa và con người.
- Về mặt thiết kế công trình: Đổ sập và tốc mái là hai vấn nạn lớn nhất do bão có thể gây ra. Vì vậy, giải quyết độ bền vững cho nhà từ khung cứng móng sâu, mái giảm thiểu khả năng bị tốc trước cả bão lớn là yêu cầu cần thực hiện, với các yêu cầu này thì nhà có mái bê tông cứng (bằng hoặc dốc), khung bê tông cốt thép cứng là giải pháp tốt nhất, cùng với kính cường lực an toàn, trang thiết bị đồng bộ. Giải pháp cũng có thể bao gồm nhà và công trình chú ý hình dạng khí động học; kiến trúc “biết thở” như gạch lỗ, tường thoáng.
- Đối với chống ngập lụt do hoàn lưu bão và mưa dài
- Về mặt quy hoạch: Chủ động phát triển đô thị ưu tiên vùng trên cao, ít khả năng ngập trong điều kiện bị thiên tai. Quy hoạch đô thị xốp. Lập hệ thống đê bao và công viên có khả năng ngập nước (thành hồ chứa). Quy hoạch đô thị từ nền tảng tích hợp là dạng “sống chung với nước”. Quy hoạch các vùng nông thôn cũng theo nguyên tắc tương tự.
- Về mặt thiết kế công trình: Nâng cao công trình sẵn để chờ lũ (xây dựng trên các cột trụ hoặc móng vững chắc cao hơn nước lũ dự kiến), làm dạng nhà nổi, nhà có sẵn tầng dự phòng trên cao để chống ngập.
- Đối với chống ngập do BĐKH
- Về mặt quy hoạch: Sống chung với nước là nguyên tắc quan trọng nhất để triển khai quy hoạch; bên cạnh đó có thể là cải tạo địa hình theo tinh thần tôn cao vùng ở, khoét sâu vùng trũng cùng với tạo cảnh quan ngập nước và hạ tầng thích ứng; đê bao đối với những khu vực cần thiết cũng là một giải pháp hữu hiệu.
- Về mặt thiết kế công trình: Nhà nổi và nhà cao cẳng ổn định bền vững đều là những giải pháp tốt, cần lựa chọn phù hợp theo chức năng và từng vị trí.
- Đối với chống sạt lở và sụt lún
- Về mặt quy hoạch: Tấm lá chắn xanh, biện pháp sinh học là giải pháp căn cơ đầu tiên phải kiên quyết triển khai tích hợp khi xác định quy hoạch; bức tường thành vững chãi, biện pháp công trình với các dạng kè cứng, kè mềm, tường chắn, địa hình bậc thang là những giải pháp không thể thiếu, cần bố trí chủ động ngay từ đầu khi quy hoạch; tổ chức hệ thống thoát nước thông minh, biện pháp thủ văn có can thiệp con người từ đầu là rất quan trọng; áo giáp bảo vệ, sử dụng vật liệu địa kỹ thuật để làm biến đổi chất đất cũng là một giải pháp cần đồng bộ.
- Về mặt thiết kế công trình: Tránh xa vùng có khả năng thiên tai là yêu cầu đầu tiên; bản thân công trình phải chú ý hệ móng vững chãi giảm thiểu khả năng trôi trượt và phần khung trên phải có khả năng chống chịu sụp đổ, biến dạng cao. Với công trình, dứt khoát phải tập trung phương án “phòng” là chính, tức là ngay từ khâu thiết kế đã phải tính toán khả năng chống chịu đáp ứng an toàn khi có sự cố xảy đến.
Chú ý: Các giải pháp tách bạch cho 4 loại hình trên ít có vùng nào của Việt Nam trong thực tế có thể áp dụng riêng rẽ. Khả thi hơn cho phòng chống riêng rẽ này có thể là chống ngập lụt tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long, chống sạt lở tại vùng núi phía Bắc. Còn về cơ bản khi triển khai kiến trúc từ khâu quy hoạch cho đến thiết kế, xây dựng công trình thì đều cần kết hợp nhiều giải pháp thích ứng cho từng loại thiên tai trong một tích hợp tính toán và đưa ra ra giải pháp hợp phần với gia giảm hợp lý để giảm kinh phí đầu tư mà vẫn đủ khả năng phòng chống.
4. Lời tạm kết
Trong thực tế, vấn đề chống bão giông, lũ ngập, sạt lở và sụt lún sẽ là một cuộc chiến lâu dài và cam go của loài người, đặc biệt là tại các nước có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn. Bất cứ ở đâu cũng cần một sự đầu tư lớn, tích hợp liên ngành và sự tham gia của toàn cộng đồng để đảm bảo phát triển lâu dài bền vững trước BĐKH ngày càng khốc liệt. Sự kế thừa truyền thống về phương cách phòng chống và tuân thủ theo triết lý nương dựa vào thiên nhiên, sẽ phải là những nền tảng đầu tiên và vững chắc. Những bài học về “nhường chỗ cho sông”(room for the river) của Hà lan, “Thành phố bọt biển” của Trung Quốc, “Hồ chứa và công viên nước” của Singapore, hay “sống chung với lũ” của đồng bào Nam Bộ… là những tư liệu quý để chúng ta tham vấn trong việc tạo nên sự thích ứng mới cho các vùng miền Việt Nam, trong công cuộc phòng và chống bão, lũ ngập và sạt lở, sụt lún. Nếu chúng ta biết tích lũy kinh nghiệm, kiến thức khoa học công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phối kết hợp lý, hiệu suất, gắn chặt với đặc điểm tự nhiên – xã hội – kinh tế – văn hoá – con người từng nơi chốn, nhất định việc phát triển bền vững trước BĐKH dù có khắc nghiệt, khó khăn đến đâu, vẫn là một bài toán có lời giải khả thi. Như vậy, sự đáp ứng phát triển bền vững vào tương lai của Việt Nam sẽ có một mảnh ghép hoàn hảo và đáng tin cậy.
TS KTS Phan Đăng Sơn
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2026)

























