Chặng đường đổi mới mô hình quản lý Quy hoạch Kiến trúc đô thị Hà Nội

Đô thị Việt Nam hình thành rất sớm, mô hình quản lý về Quy hoạch – Kiến trúc cũng có nhiều đặc thù. Mỗi thời kỳ đều để lại dấu ấn trên diện mạo đô thị Hà Nội.
Thời kỳ phong kiến, kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp gắn với văn hóa làng xóm đã tạo nên các đô thị hòa đồng với nông thôn. Sự bùng nổ của cách mạng kỹ thuật, công nghiệp thành cao trào về đô thị hóa ở châu Âu, châu Mỹ, trong khi đó, ở Việt Nam đô thị vẫn phát triển chậm chạp, cho đến thế kỷ XIX, mô hình quản lý Quy hoạch – Kiến trúc không có đột biến.
Giai đoạn thuộc địa, đô thị phát triển hơn nhưng còn mang nặng tính hành chính, tiêu dùng. Nhiều đô thị được xây dựng với mô hình mới hơn. Cơ quan quản lý Quy hoạch – Kiến trúc đã tiếp cận với mô hình của các nước phát triển, ví dụ: từ năm 1888 Hà Nội có Hội đồng Thị chính, tiếp sau đó tách riêng các ngành để quản lý có Sở Giao thông, Sở Địa chính, Sở Kiến trúc và Đô thị.
Sau cách mạng Tháng 8, đô thị đã có những cơ hội mới. Nhưng thuận lợi chưa được phát huy thì lại đương đầu với sức cản của chiến tranh, khó khăn về vốn đầu tư.
Hòa bình lập lại, đất nước thống nhất đã tạo cơ hội mới cho phát triển đô thị. Tuy nhiên, cơ chế bao cấp, nền “kinh tế đóng” vẫn chưa tạo được bước đột phá cả về lượng và chất cho đô thị Việt Nam.
Cầu Long Biên
Phải sau thời kỳ “đổi mới”, nhất là từ sau năm 1990 mới có bước chuyển mạnh về công tác quy hoạch kiến trúc, quản lý đô thị, đặc biệt là trước yêu cầu cấp bách về nhận thức, xóa bỏ bao cấp và kiện toàn, đổi mới lực lượng quản lý xây dựng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy trong đó có chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng về chấn chỉnh công tác quản lý đô thị (1991), Nghị định về Điều lệ quản lý quy hoạch đô thị (1994), Quy định về lập đồ án Quy hoạch Xây dựng (1993), Quy chế hành nghề KTS, hành nghề khảo sát xây dựng, thiết kế Quy hoạch Xây dựng, thiết kế công trình xây dựng (1993)… Bối cảnh như vậy đã tạo cơ sở cho việc đổi mới phát triển đô thị nói chung và Hà Nội nói riêng, đáng lưu ý là có bước thí điểm về cơ quan quản lý Quy hoạch Kiến trúc.
Sau khi thống nhất đất nước, Hà Nội đã chú trọng lập QHC, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 7/1976. Sau khi địa giới Hà Nội được mở rộng (tháng 12/1978), với yêu cầu mới về An ninh Quốc phòng, các chuyên gia Liên Xô và trong nước đã phối hợp nghiên cứu điều chỉnh QH… và đã được phê duyệt tại quyết định 100TTg ngày 24/4/1982.
Từ những định hướng của Bộ Chính trị năm 1989 tại Thông báo 170/Tb-TW, đề nghị của TP Hà Nội 12/1989 tại kỳ họp thứ 9 (8/1991), Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới Hà Nội chỉ còn quy mô diện tích 921 km2 với 4 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành với dân số gần 2,1 triệu người. Bối cảnh mới đòi hỏi phải nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch tổng mặt bằng Thủ đô Hà Nội, trong đó chú trọng gắn mô hình thí điểm quản lý quy hoạch – kiến trúc để tập trung đầu mối trong quản lý xây dựng cơ bản. Chủ tịch HĐBT (Thủ tướng Chính phủ) đã có quyết định 132/CT ngày 18/4/1992 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng mặt bằng Thủ đô Hà Nội. Cùng với phê duyệt QHC, Chủ tịch HĐBT đã có Quyết định 256/CT ngày 13/7/1992 về thực hiện chế độ KTS Trưởng tại Hà Nội. Bộ Xây dựng có Quyết định 298/BXD-TCLĐ về quy chế hoạt động của KTS Trưởng thành phố. UBND TP Hà Nội có Quyết định 2064/QĐ-UB ngày 19/9/1992 thực hiện chế độ KTS Trưởng tại TP Hà Nội từ 01/10/1992 với các chức năng:
– Lập kế hoạch nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu, thẩm tra, trình duyệt đồ án QHXD.
– Quản lý Nhà nước về Quy hoạch – Kiến trúc (giới thiệu nhân sự, xác nhận chỉ giới).
– Xem xét các đồ án về kiến trúc, cấp giấy phép xây dựng, tổ chức quản lý thanh tra xây dựng.
– Thẩm tra trình Thành phố cấp giấy phép sử dụng đất.
Với chức năng như vậy, mô hình KTS Trưởng được xác định là cơ quan tập trung đầu mối về quản lý xây dựng cơ bản. Vào thời điểm này, đây là mô hình đặc thù trong hệ thống cơ quan chuyên môn về quản lý đô thị. Đến năm 1993, mô hình KTS Trưởng mở rộng, áp dụng cho TP Hồ Chí Minh. Với kỳ vọng tạo bước chuyển mới cho Hà Nội, cơ quan này còn được phát triển có hệ thống, đại diện tại các quận, huyện và thí điểm ở một số tuyến phố đặc thù. Trong quá trình thực hiện, do lý do khách quan và chủ quan, đến năm 1995, UBND TP đã chuyển chức năng tham mưu về quản lý và sử dụng đất sang Sở Địa chính. Từ tháng 9/2000, Sở Xây dựng thực hiện cấp phép xây dựng và quản lý thanh tra xây dựng với mục đích để quản lý sâu về chuyên ngành.
Lúc này, diện mạo đô thị đã có bước phát triển mới, song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng vai trò của đô thị trong phát triển Kinh tế – Xã hội và bảo tồn quỹ di sản. Một lần nữa, yêu cầu mới được đặt ra cho cơ quan quản lý Quy hoạch – Kiến trúc Từ yêu cầu kiện toàn tổ chức và tinh giản biên chế: “Đổi mới công tác quản lý xây dựng, trật tự đô thị, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đô thị” của Trung ương và của Bộ Xây dựng, Thành phố Hà Nội đã trình Thủ tướng, đề nghị chuyển chức năng quản lý Nhà nước về QH-KT từ Văn phòng KTS Trưởng sang Sở Xây dựng, sang Sở Địa chính, hoặc Sở Kế hoạch Đầu tư, tổ chức Viện Quy hoạch Xây dựng trực thuộc Thành phố.
Phát triển đi đôi với bảo tồn di sản
Trong bối cảnh như vậy, từ cuối năm 2000, VP KTS Trưởng đứng trước thách thức và cần có bước chuyển mình, đổi mới hoạt động, nâng cao hiệu quả công tác để làm rõ hơn vai trò cơ quan quản lý Nhà nước về Quy hoạch Kiến trúc với đô thị nói chung và Hà Nội nói riêng.
Được Bộ Xây dựng, Ban Tổ chức Chính phủ, Văn phòng Chính phủ thống nhất, UBND Thành phố đã có Tờ trình số 12 TTr-UB ngày 18/2/2002 về việc tổ chức lại VP KTS Trưởng thành Sở Quy hoạch – Kiến trúc. Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 52/2002/QĐ-TTg ngày 18/4/2002 cho phép thành lập Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội. Thành phố đã có quyết định 77/QĐ-UB ngày 23/5/2002 xác định chức năng, nhiệm vụ Sở Quy hoạch – Kiến trúc.
Mười năm qua, Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã góp phần to lớn trong công việc phát triển đô thị và nâng cao chất lượng Quy hoạch – Kiến trúc của Thủ đô Hà Nội.
Trong quá trình nghiên cứu xây dựng Luật Quy hoạch Đô thị (2009) một lần nữa Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội lại được xem xét, kiện toàn cơ quan quản lý Quy hoạch – Kiến trúc từ đô thị đến cấp Quận, huyện.
Nhìn lại chặng đường 20 năm từ khi thực hiện quy chế KTST Thành phố và 10 năm từ khi Sở Quy hoạch – Kiến trúc ra đời cho thấy vai trò của công tác Quy hoạch – Kiến trúc ngày càng được Đảng, Nhà nước, Chính quyền, Bộ Xây dựng, các Tổ chức xã hội nghề nghiệp và cộng đồng quan tâm. Hy vọng rằng thời gian tới, tổ chức này sẽ tiếp tục phát huy, nâng cao chất lượng hoạt động để Quy hoạch – Kiến trúc đáp ứng được vai trò trong quá trình xây dựng phát triển đô thị bền vững.
TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm  
Nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội