Định hướng tiếp cận để phát triển “Kiến trúc xanh” ở Việt Nam

“Kiến trúc xanh” đã nhanh chóng trở thành một xu hướng mới mẻ, tiên tiến trong kiến trúc. Sau những trường phái về kiến trúc hiện đại hay hậu hiện đại, giờ đây những biểu hiện bề ngoài của thẩm mỹ kiến trúc không còn ngự trị như một tiêu chí đánh giá sự thành công của kiến trúc. Môi trường – năng lượng  và những tiêu chí khác về môi trường sống của “Kiến trúc xanh” đang tạo nên những vẻ đẹp có sức thuyết phục hơn bởi tính thực tế mà nó đang hướng tới. Kiến trúc xanh vì một vẻ đẹp chung của cả trái đất, đó là mầu xanh, môi trường tốt  và sử dụng khôn ngoan nhất năng lượng hiện có.

 

Thế giới đã có những bước tiến rõ rệt từ lý luận tới xây dựng thực nghiệm, ban hành các hệ thống đánh giá về Kiến trúc xanh như hệ thống đánh giá LEED -Mỹ (1995), Chứng chỉ Sao xanh của Hội đồng công trình xanh Australia… Đã có những công trình kiến trúc xanh khá nổi tiếng như công trình Big Dig House, biệt thự Glenn, toà nhà Cor.Miami ( Mỹ), Khu sinh thái Quarter Vauban ở Freiburg (Đức). Trong khi đó, Việt Nam chúng ta mới đang ở những bước đầu tiên tìm hiểu các khái niệm và vận dụng lý luận vào thực tiễn. Tuy nhiên, cũng phải cảnh báo để không nhìn nhận “Kiến trúc xanh” như một xu hướng thời thượng, hết sức tránh bệnh hình thức – giống như cái tên gọi “đô thị sinh thái, du lịch sinh thái..”. Tên gọi “sinh thái “ đang bị lạm dụng một cách phổ biến, đến mức người ta chỉ nghĩ “sinh thái” nghĩa là khu vực có nhiều cây xanh, mặt nước.
Tiếp cận “Kiến trúc xanh” như thế nào trong điều kiện kinh tế và công nghệ của Việt Nam còn rất hạn chế là vấn đề cần được cân nhắc. Rất cần phải có các bước đi phù hợp, theo các định hướng để đạt tới mục tiêu chung.

 

 

 

Kiến trúc xanh có thể được tiếp cận theo ba khía cạnh: Khía cạnh giải pháp kiến trúc, khía cạnh công nghệ và khía cạnh xã hội.
Khía cạnh công nghệ là khía cạnh đầu tiên mà các nước tiên tiến đang hướng tới: tiết kiệm năng lượng bằng các công nghệ sử dụng năng lượng tái tạo, điện mặt trời, hệ thống điều khiển thông minh tính toán tiết kiệm năng lượng nhất cho tòa nhà, hệ thống kính chịu nhiệt, vật liệu không nung và một hình ảnh thường thấy là những màu xanh trên mái, tường nhà cao tầng…
Những công nghệ mới này thường khá đắt  so với các giải pháp thông thường trong giai đoạn đầu tư, nó chỉ thuyết phục về lợi ích kinh tế do chi phí năng lượng thấp trong suốt quá trình vận hành. Và như vậy, nó thường thích hợp với các đầu tư có nguồn vốn lớn. Ngay cả với các nước phát triển, không phải tất cả các công trình đã được kiểm soát theo hướng như vậy.

 

Biệt thự Big Dig House

 Sẽ rất khó khăn trong điều kiện kinh tế của Việt Nam hiện nay khi yêu cầu áp dụng các công nghệ hiện đại để tiết kiệm năng lượng cho công trình kiến trúc, ngay cả với các tòa nhà cao tầng, thói quen đầu tư theo các lợi ích trước mắt, các suất đầu tư rẻ, thông dụng vẫn có tính cạnh tranh hơn.
Trong khi đó, hướng tiếp cận về giải pháp kiến trúc lại có khả năng tạo được hiệu quả ngay mà không cần phải đầu tư tốn kém. Thậm chí quay trở lại các giải pháp nhà ở truyền thống ta cũng có thể học hỏi  áp dụng được nhiều điều mà không cần có các công nghệ hiện đại.
 Với kiến trúc nhà ở, xây nhà ở cao tầng có các hướng để căn hộ tiếp cận ánh sáng, thông gió tốt, nhà có hướng gió mát, hạn chế nắng hướng Tây, tạo các khe thông gió, lõi xanh thông thoáng gió… thông qua các giải pháp kiến trúc, quy hoạch để đóng góp vào việc tiết kiệm năng lượng dùng cho quạt, máy điều hòa là điều hoàn toàn có thể làm được và cũng đã có những thành công nhất định ở một số công trình.

 

 

Các tấm pin mặt trời tại nhà máy chế biến rác thải tại Đức

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: Tại sao ở Việt Nam những giải pháp thành công này không trở thành các xu hướng rõ rệt hoặc đưa thành các tiêu chí để bắt buộc thực hiện? Tại sao việc trồng cây trên mái nhà ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ hàng chục năm nay nhưng trong thực tế không có ngôi nhà nào được xây dựng với vườn trên mái hay cây xanh leo tường (mới đang phổ biến ở trên bản vẽ đồ án tốt nghiệp của sinh viên kiến trúc)? Tại sao vẫn mọc lên các tòa nhà với vật liệu kính sử dụng một cách thiếu cân nhắc, gây tác động xấu đến môi trường?
Không phải vì các KTS không nhận thức được điều đó, bởi việc thiết kế phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường luôn là nguyên lý cơ bản nhất của thiết kế.
Rào cản ở chính mâu thuẫn lợi ích kinh tế trước mắt, với lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân,  lợi ích cộng đồng.
Có thể nêu một số ví dụ về lợi ích thương mại trước mắt loại bỏ lợi ích lâu dài của cộng đồng trong xây dựng khu đô thị mới.
+ Những khu đô thị quy hoạch theo kiểu “quây cót” tạo nên hội chứng “chung cư mặt phố”. Các ngôi nhà chung cư luôn quay ra mặt đường, cho dù là hướng Tây để đảm bảo lợi ích của chủ đầu tư (chủ đầu tư được sử dụng tầng trệt), người dân ở các căn hộ hướng Tây phải chấp nhận sự thiệt thòi về chi phí trả cao cho điều hòa, quạt, môi trường, tiếng ồn..và đương nhiên lợi ích chung của đô thị cũng chịu ảnh hưởng từ những lợi ích cá thể đó…
+ Những công trình nhà ở chung cư kiểu hành lang giữa, không có khe lấy sáng, luôn có một phòng sát hành lang thiếu sáng là khá phổ biến. Giải pháp kiến trúc này bất hợp lý về thông gió, ánh sáng nhưng có hệ số sử dụng cao nhất nên vẫn luôn được các chủ đầu tư khuyến khích áp dụng. Tranh thủ thị trường bất động sản không phát triển đúng quy luật, người mua chủ yếu để đầu cơ nên các chủ đầu tư càng dễ áp dụng các giải pháp này và thu được lợi nhuận cao.
Ngoài ra, hiện tượng vì lợi ích của chủ đầu tư nên công trình không chú ý đến môi trường xung quanh cũng khá phổ biến, các đánh giá tác động môi trường còn mang tính hình thức; hiện tượng ô nhiễm, ngộ độc ánh sáng do kính phản quang là một ví dụ, rõ ràng tác động xấu là rất lớn nhưng không hề được cảnh báo trong đánh giá tác động môi trường. Công trình cao tầng ở phố Hàng Vôi (Hà Nội) với sự phản chiếu gay gắt của các tấm kính màu vàng buổi chiều tác động lớn đến kiến trúc cảnh quan của khu vực Hồ Gươm là một ví dụ.
Tuy nhiên, nhìn một góc độ khác, đó cũng là quy luật của kinh tế thị trường, hiệu quả đầu tư cũng là những lợi ích chính đáng, việc sử dụng thêm nguồn vốn phải tính đến những hiệu quả rõ rệt.
     Ví dụ về việc trồng cây xanh trên mái ở Việt Nam.Trong khi thấm dột trên mái bằng là hiện tượng thường xuyên xảy ra, nếu lại thêm trồng cây xanh trên mái, mỗi khi có sự cố việc khắc phục càng khó khăn hơn. Chi phí bảo dưỡng, tưới cây, chi phí thu gom rác, lá rụng, chống tắc ống nước ai sẽ chịu… Hàng loạt vấn đề chi phí đặt ra trong khi lợi ích không rõ rệt, chỉ là mảng cỏ xanh có lợi ích cho môi trường chung. Ngay cả đất trồng cây xanh trong các khu chung cư vẫn còn đang bị bỏ hoang thì khó hy vọng cây xanh trên mái được triển khai thực hiện.
Sự ích kỷ của con người, phân hóa giàu nghèo cũng đang tạo nên các trào lưu sống đi ngược với truyền thống. Những công trình càng hiện đại, những căn hộ chung cư càng cao cấp thì con người sống xa cách với thiên nhiên, thu mình trong những chiếc hộp được đặt nhiệt độ điều hòa cực mát, mặc cho không gian xung quanh nóng như những lò lửa.
Như vậy, có thể thấy, trước hết cần tiếp cận Kiến trúc xanh theo hướng xã hội, tuyên truyền để đổi mới nhận thức, từ đó thể chế hóa các yếu tố kiến trúc và công nghệ mới là bước đi phù hợp của việc tiếp cận kiến trúc xanh ở Việt Nam.
Trong khía cạnh xã hội, cần quan niệm Kiến trúc xanh là một xu hướng sống chứ không phải chỉ là xu hướng kiến trúc hay công nghệ. Xu hướng sống tiết kiệm năng lượng, tận dụng năng lượng tự nhiên, vì một môi trường sống tốt chung cho cả cộng đồng sẽ tạo nên những khách hàng thông minh cho các KTS thiết kế công trình.

 


Trong khi chờ đợi một giai đoạn kinh tế phù hợp để áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng tiên tiến một cách phổ cập, việc khai thác cách ứng xử trong kiến trúc và xây dựng truyền thống của Việt Nam vẫn có thể tạo nên hàng triệu công trình Kiến trúc xanh từ những ngôi nhà của vùng nông thôn hay của chính những người dân đô thị.
Vai trò của Nhà nước với công tác tuyên truyền, định hướng, cơ chế khuyến khích, tôn vinh các hoạt động thành công theo hướng Kiến trúc xanh rất quan trọng trong bước đi đầu tiên để thúc đẩy xu hướng phát triển. Có thể lấy kinh nghiệm từ nước Đức, nhà nước mua lại điện của những cơ sở tự sản xuất và sử dụng năng lượng mặt trời hoặc gió với giá cao hơn giá thị trường để khuyến khích phát triển. Hay tại Băng kok, dự án “làm mát Bangkok” cũng được chính quyền ủng hộ với nhiều chính sách khuyến khích cụ thể.
Cần khuyến khích các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam như việc sử dụng các vật liệu tái chế, vật liệu địa phương tre, đất, vật liệu không nung…và quan trọng hơn – những công trình công cộng, công trình quan trọng của Nhà nước phải đi đầu trong việc áp dụng xu hướng Kiến trúc xanh, có như vậy mới làm gương và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân và cộng đồng làm theo.
Chỉ khi có sự quan tâm và đồng thuận của xã hội, trong định hướng chính sách của Nhà nước thì việc thể chế hóa, quy chuẩn hóa kiến trúc theo hướng “Kiến trúc xanh” mới có thể hiệu quả.
Như vậy, quá trình phát triển của Kiến trúc xanh phải là kết quả của quá trình: Nhận thức xã hội – Chính sách  vận động – Thiết kế và Xây dựng thực nghiệm – Thể chế hóa bằng Tiêu chuẩn quy chuẩn.
Trong các hướng phát triển, hướng vận động xã hội đóng vai trò quyết định, bên cạnh sự hỗ trợ của các giải pháp kiến trúc, kỹ thuật, công nghệ. Đó là lộ trình khả thi nhất trong phát triển Kiến trúc xanh ở Việt Nam.

PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường