“Kiến trúc” cho cầu ở cao nguyên miền Thượng

Dưới cầu nước chảy, thời gian trôi, đời người qua… cứ thế, cầu soi bóng thế gian. Nhưng không phải cây cầu nào cũng có khả năng giữ hồn giữ vía để mà soi bóng nhân gian – Bởi không phải cây cầu nào cũng ẩn chứa nghệ thuật kiến trúc…

Năm tháng buồn đau của thời thuộc địa Pháp đã lùi xa tít. Người bình thường nhất cũng có thể chỉ trích người Pháp thực dân với vô vàn khổ ải và bất công gây ra trên đất nước Việt Nam, song hình như, cũng có đôi cái ta phải thẳng thắn thừa nhận chứ không thể khước từ giá trị Pháp – Mà chữ Quốc ngữ và Nghệ thuật Kiến trúc là ví dụ.

Cầu 14, còn gọi là cầu Serépok, bắt qua sông Serépok, địa phận nối tỉnh Dak Nông và Dak Lak trên quốc lộ 14

Cầu 14, còn gọi là cầu Serépok, bắt qua sông Serépok, địa phận nối tỉnh Dak Nông và Dak Lak trên quốc lộ 14Tây Nguyên, một vùng đất mà người Pháp từng “mê hoặc”.

Từ mê hoặc họ đã tìm cách mở đường từ đồng bằng để chinh phục miền Thượng. Những con đường thăm thẳm xưa kia nay nền đường lẫn mặt đường đã đổi thay biết bao bận nữa, nhưng hơi thở thời quá vãng còn vương lại đây đó, giữa một Việt Nam, một Tây Nguyên chộn rộn ngày nay. Xuyên suốt nhất là ở chính những cây cầu phong rêu kia. Ngày ấy rất nhiều cầu đã xuất hiện, có cây đã đổ vì bom đạn chiến chinh,  lại có cây hiện tồn đứng đó làm kỷ niệm của xứ sở…

Chẳng hiểu sao, vào cái buổi đi lại khó khăn, vật liệu xây dựng khan hiếm, kỹ thuật còn trong giới hạn mà người ta làm cầu tỉ mẩn, chăm chút, cầu kỳ đến vậy. Đi khai thác thuộc địa thì đổ đại miếng bê tông bắc qua sông để chở tài nguyên về, hà cớ chi mà họ nắn nót từng cây cầu thế nhỉ! Chắc tính nghiêm túc, chuộng thẩm mỹ, đòi hỏi và cầu toàn, nên cây cầu nào xây cũng chu đáo, khiến cầu trở thành thi phẩm kiến trúc. Tất nhiên, tải trọng là cốt lõi hướng tính, mà chẳng riêng tải trọng, những cây cầu cũ còn lại sừng sững trên đường 27, 20, 14, 19 kia…, cây nào cũng được thiết kế  đầy đủ từ đế, trụ, thân, lòng, thành, mái, chỗ nghỉ chân, đường tản bộ, và đến cả chiếc bao lơn nhìn ra sông. Nào cầu Sông Pha, cầu Drann, cầu Nam Nhi, cầu Serépok, cầu Đại Lào… vắt qua những con sông hung dữ của miền Thượng. Sông  thượng nguồn bao giờ cũng cuồn cuộn, ngang tàng, lắm thác, lắm ghềnh, nhưng cầu thì chao ôi sao mà diễm lệ, mềm yếu, ngọt dịu như những dải lụa, hay cung nhạc thả ra trời cao nguyên  miệt mài mưa, bao la nắng. Đến bây giờ nó vẫn cứ đong đưa theo sương giá, mặc kệ lịch sử, thời cuộc, chính trị. Nó cứ sống cái đời là… “Tác phẩm cầu”. Bởi vì để đẻ ra nó, người ta tính tỉ lệ xích ở lòng đường với chiếc bao lơn của cầu. Người ta tính cả tỉ lệ xích của mái vòm lên trời với lòng cầu. Người ta tính hiệu quả thị giác. Người ta tính đến tỉ lệ xích cảm xúc ở từng nhịp cầu. Vì thế chiếc cầu nào cũng bay bổng, mang đậm dấu ấn kiến trúc, có giai điệu, ý tứ,… Đã thế, không có cây cầu nào giống cây cầu nào. Mỗi cây cầu là một tác phẩm nghệ thuật. Họ không chấp nhận “nhân bản vô tính” cầu. Cứ như các kỹ sư cầu đường kia cũng là những kiến trúc sư, hoặc họ phối hợp cùng nhau để tạo ra tác phẩm đó…

Cầu Nam Nhi, ở xã Hà Lâm, huyện Đạ Hoail, Lâm Đồng. Quốc lộ 20 từng qua cây cầu này, nhưng nay nắn đường nên nó lọt trong một vườn cây trái cận đấy.

Cầu Nam Nhi, ở xã Hà Lâm, huyện Đạ Hoail, Lâm Đồng. Quốc lộ 20 từng qua cây cầu này, nhưng nay nắn đường nên nó lọt trong một vườn cây trái cận đấy.

Nếu tôi là một đạo diễn phim tài liệu, tôi sẽ đi làm phim về những cây cầu đó. Nếu là đạo diễn phim ca nhạc, tôi sẽ đưa những cây cầu đó vào các video clip ở những bài hát viết về thời Tiền chiến, về miền Cao nguyên phương Nam này. Nếu là chuyên gia chụp ảnh cưới, tôi sẽ đưa các đôi uyên ương đến những cây cầu phong sương lãng mạn ấy làm phông ghi lại kỷ niệm. Nhưng, vì là Nhà báo, nên tôi chỉ có thể viết đôi dòng về những cây cầu này, trong một ký ức quá  lớn, quá mênh mông của vùng đất cao nguyên…

 

Nhưng, “tiếp xúc” với những cây cầu “Có hồn kiến trúc” đó, tôi lại tiếc cho những cây cầu trên đất nước mình ngày nay, khi được xây dựng ở buổi thanh bình mà nghèo nàn thẩm mỹ, thậm chí không cần “kiến trúc”. Tôi tiếc cho tư duy làm cầu theo kiểu “ nhân bản vô tính” vốn đang chế ngự,  thậm chí là nhận thức chủ đạo trong kiến thiết giao thông.  Bây giờ cầu xây dựng nhiều ghê, ngày nào cũng xây, rộn rã, nơi nơi. Từ xóa chiếc cầu khỉ con con cho đến những cây cầu dài vài cây số qua sông, qua đầm, qua vịnh. Triết học kinh tế gọi việc cất cầu, làm đường kia là xây “hạ tầng cơ sở”. Không có cái “hạ tầng cơ sở” ấy không thể nối bờ sông này với bờ sông kia trên những con đường đưa con người, hàng hóa di chuyển, non sông phát triển. 

Ai chẳng rõ, làm cầu, tiền không có thì vay của nước ngoài – ODA đấy! Dân chở nông sản qua cầu vui, vì mau đến nhà, hàng đỡ héo. Nhưng dù thờ ơ đến mấy cũng biết tiền làm cầu kia vay thì phải trả, chứ tiền thuế của dân nước khác cũng không thể cho không một nước nào. Không có “triết lý” cho cầu đường nên cầu giờ cứ “xoáy” gọn ở mục tiêu giao thông. Nhiều nơi cầu như những “mặt phẳng” bắt qua hai bờ sông. Cầu mới bề ngoài trông to, khỏe, cất nhanh, mau làm, mau đi, chịu tải trọng lớn, kỹ thuật cao, thậm chí hiện đại. Cầu nhiều, nhưng “Kiến trúc” ít, khiến hàm lượng mỹ thuật và văn hóa không đạt tâm. Nhiều nơi, chiếc cầu mới cất bên một chiếc cầu cũ, thấy ngay cầu mới khỏe khỏe như anh hộ pháp, rất võ biền, còn cây cầu cũ nó từ tốn, thanh lịch, tỉ mẫn, cầu kỳ. May thay, có đôi ba cây cầu do nước  bạn nào đó thiết kế; vừa lập dự án, vừa trợ tài chính, vừa thi công thì lại có “Kiến trúc”. Thế là vừa ra đời, đã tự hào ngay. Có hồn kiến trúc nhập vào, cầu thường đẹp, dễ mang hơi thở nghệ thuật và ngược lại. Vì vậy mà có những cây cầu “sâu sắc”, và những cây cầu hơ hớ, vô duyên. Có những cây cầu thiên hạ muốn làm thơ, và những cây cầu ngồi trên xe hành khách không  biết nó “là Cầu”, bởi chỉ là con đường nhựa nối dài qua sông. Có những cây cầu sống trong lòng người, tới lúc sắp xuống lỗ cuốn phim về quê xứ thoáng qua có cả hình ảnh cây cầu, nhưng cũng có thứ cầu chỉ “sống” được cuộc đời giao thông. Vậy thì trên thế gian mới có chuyện cầu ăn xổi và cầu… văn hóa.

Có lẽ, cần phải kết hợp nhiều mục đích, giá trị tích hợp khi làm cầu, thì cầu mới “sống” được lâu, mà “bá tánh” đi lại cũng có cảm xúc. Cơ hội làm cầu cũng là cơ hội tạo ra văn hóa. Phải khó tính hơn khi làm cầu. Phải sâu sắc hơn khi làm cầu. “Nhân bản vô tính” cầu cũng là lãng phí…

Và những cây cầu lên miền Thượng là một bức tranh sống động về triết lý làm cầu, thiết kế kiến trúc cho cầu. Nó đã “già”, đã về “hưu”, nhưng vẫn cứ sống. Nó đứng đó như những di sản của thời cuộc, đường đường có cuộc đời riêng, ngạo nghễ với gió sương, và thậm chí gợi ý rằng tạo ra hạnh phúc cho dân chúng đầy đủ là phải phấn đấu vượt trên cái bao tử.

“Qua cầu ngả nón trông cầu…”, khác với qua cầu nhanh cho tới phố, tới chợ, tới quán nhậu, tới nhà thương, tới tòa án…Việc làm cầu, nó cũng thử thách “tầm nhìn” của các nhà kiến tạo quốc gia là vì vậy.

Nguyễn Hàng Tình