Những ngôi nhà trong đời tôi

“…Sống quá nửa đời người mới hiểu rằng cuộc đời ta cần có một nơi chốn của riêng mình, không theo ý nghĩa sở hữu, để chúng ta ký thác mình vào nó, vào mỗi đồ vật, mỗi chỗ, mỗi góc riêng, vào cái cây, vào hòn đá, vào mặt nước, vào mùi hương vườn, vào bóng nắng xiên nơi hiên nhà… Ngôi nhà là mình, chỗ nào chúng ta cũng đọc thấy mình ở đó…” Nhạc sĩ Dương Thụ

 

“Nhà tôi!”
Đã bao lần trong đời mình thốt lên như thế. Khi còn nhỏ: “Dạ thưa, đây là nhà cháu ạ”.  Lớn lên: “ Đây là nhà của mình”. Còn bây giờ: “Đây là nhà tôi”. Tôi có ba cái nhà như thế: nhà của bố mẹ, nhà của tôi khi còn ở ngoài Bắc và  nhà của tôi hiện tại (ở quận 8 TP Hồ Chí Minh, ở sườn Núi Chè Bắc Ninh và cái căn hộ nho nhỏ, trên lầu 4, chung cư Lake Side, Chí Linh, Vũng Tàu).
Nhà của bố mẹ ở trong quê (Vân Đình) thực ra là nhà của ông bà để lại. Đây là ngôi nhà vẫn thường hiện ra trong những giấc mơ kỳ lạ – để khi tỉnh dậy còn vương vấn một nỗi buồn mơ hồ. Tôi hay nằm mơ, và từ khi vào TP HCM thì hay mơ thấy nó. Và, giống như một tác phẩm âm nhạc, nó có rất nhiều version khác nhau. Nguyên ngôi nhà này không phải là một căn kiểu như bây giờ mà là một khu, kín cổng cao tường vây quanh sân gạch lớn ở giữa. Có nhà lúc nào cũng cửa đóng then cài. Có nhà trên 5 gian, gian giữa làm nhà thờ xung quanh có nhiều nhà, còn lại để ở. Có nhà ngang, một nửa làm kho và làm chỗ xay lúa giã gạo, một nửa là nhà bếp và chỗ ăn ở của người làm, một cái sân sau làm sân phơi có bể nước và chỗ rửa. Có nhà dưới đối diện xây theo kiểu Tây làm phòng khách, đối diện với nhà ngang là một bể chứa nước mưa lớn gắn với một hệ thống máng xối, có thể chứa vài trăm gánh nước. Hậu nhà thông xuống ao bằng một con dốc xây bằng gạch có đến hơn mười bậc. Bờ ao nhà có cây sung già ngả bóng và một rặng tre gai um tùm.

 

Góc vườn Nhà tôi ở TP HCM

Tháng 8/1954, bố mẹ đưa tôi về quê, còn anh chị thì ở lại Hà Nội, vì ông cụ muốn được sống ít ngày trong vùng tự do vì muốn thoát khỏi mặc cảm bỏ kháng chiến để “dinh tê” (vào Tề – vùng địch chiếm đóng). Năm ấy nhà tôi đã không còn như xưa. Nhà khách xây kiểu Tây đã phá bỏ để tiêu thổ kháng chiến, thay thế là mảnh vườn nhỏ trồng cây bưởi đào, cây vòng (quất hồng bì), cây ổi và vài luống hoa cúc đại đóa màu tím mà bố tôi rất thích. Duy có bồn hoa xây áp tường vẫn còn, ông trồng lại giống hồng bạch ngày xưa, hoa to như cái bát con, trắng, và có mùi thơm thật dễ chịu. Ông cũng trồng trên các bồn áp tường nhà trên loại hồng leo, giống như tầm xuân Đà Lạt bây giờ, hoa màu hồng phấn, từng chùm nặng chĩu vấn vít bên cửa sổ (ông cụ tôi mất sau cải cách ruộng đất đợt 5 và ngôi nhà ấy vì những lý do khách quan, đã không còn nữa). Tôi được sống trong một  không gian như thế trong có vài năm, còn phần lớn cuộc đời tôi là nay đây mai đó. Tôi không thích thành phố, mặc dù lớn lên ở đó. Cái cảm nhận về không gian sống hình thành trong tôi chính là ở ngôi nhà của ông bà ở Vân Đình này.

Một vài góc "Nhà mình" ở sường Núi Chè – Bắc Ninh

Năm 1965, mặc dù đỗ đầu khoa sáng tác trường âm nhạc Việt Nam năm ấy, nhưng do đồng thời tốt nghiệp Đại học sư phạm, nên tôi đành lỡ hẹn với giấc mơ của mình – lên Tuyên Quang dạy học để trả nợ công đào tạo của Nhà nước. Ở Tuyên Quang, không chịu sống tập thể, tôi đã kiếm đất để tạo một chỗ ở riêng.  Ngôi nhà đầu tiên – mà tôi gọi là “nhà của mình” – ba gian lợp tranh, vách đất trộn rơm, nền đất trộn với tro bếp, rắc muối để lấy độ ẩm chống khô nứt, được đầm nhẵn bóng – dẫm bàn chân lên cứ mát lạnh. Nhà nối với một chái bếp cũng lợp tranh, bếp đắp thành một hệ thống bếp lò để nấu ăn và sao chè, cũng là nơi để trải chiếu ngồi ăn cơm. Nhà trên sườn đồi với độ dốc vừa phải nên việc kiến tạo cảnh quan rất dễ dàng. Đầu chái nhà là một cây cổ thụ (tôi không biết tên, rất giống cây thàn mát), dưới bóng của nó là một sân đất nhỏ để mấy tảng đá đi lượm về làm bộ bàn ghế – một chỗ uống trà tuyệt vời.  Sau bếp là chuồng lợn, chuồng gà bên cạnh những bụi chuối tây, chuối tiêu mặn phân cực kỳ tốt. Bên tay phải là vườn vải thiều 30 cây, tôi chiết cành từ vườn vải của cụ cả Tụ, giồng theo kỹ thuật của cụ cả, bên trái là vườn chanh 32 cây, trước mặt nhà là rặng ổi bo Thái Bình non 20 cây. Từ cổng ngõ  vào nhà phải đi qua vườn chanh, hai bên lề tôi trồng toàn đào bích. Phía dưới thấp hơn là một khoảnh rừng con con, tôi giữ lại, trong đó có một tảng đá rất lớn bên gốc một cây bứa già, tính sau này chết đi thì bảo người nhà chôn ở đó – Vì nó chính là nơi hoang dại tôi muốn “trở về”. Cạnh đó là một sào ao do cánh làm đường lâm nghiệp san ủi làm thành ao, tôi dùng để nuôi cá và lấy nước tưới vườn. Đằng sau nhà là ba sào chè và một khu đất để trồng sắn, mỗi mùa vài ngàn gốc. Đất của tôi rộng 10 ngàn mét vuông. Tôi đã rào bao quanh bằng tre gai. Cổng vào cũng bằng tre gai, ban ngày dựng lên, đêm hạ xuống, cũng thấy hay hay. Ngày ấy khi bạn bè tôi dưới Hà Nội lên chơi khi bước qua cổng này vào bên trong, có anh hét toáng lên “Tự do!”. Tiếng hét thật vang động, thỏa thuê. Còn tôi, nhìn bạn sung sướng: “Đây là nhà của mình”, câu thốt lên đầy tự hào (như muốn nói to lên tôi đã có cuộc sống riêng, có nơi chốn riêng) và đầy “tính sở hữu”.

 

Năm 1997, tôi rời bỏ Tuyên Quang vào sống tại TP Hồ Chí Minh, cái “nhà của mình” đành “sang tên” cho người khác. Năm 2008 về thăm lại chốn cũ thì chủ mới đã dỡ bỏ nhà cũ, xây nhà mới và chặt hết cây cối, biến nó thành vườn trồng chè. Thế là hết. Hèn nào khi vào Sài Gòn tôi hay mơ thấy nó như trước kia vẫn mơ về ngôi nhà của ông bà. Hóa ra những ngôi nhà khi mất đi, cái hồn của nó vẫn luôn trở về với ta.

Giờ thì lại tậu đất làm được nhà mới, do tôi thiết kế đàng hoàng. Ngày xưa tôi không hiểu kiến trúc là gì. Chỉ loay hoay sắp đặt cây cối hoa cỏ, nhà cửa sao cho tiện lợi thuận mắt. Tuy nhà tranh vách đất nhưng cũng phải nghĩ đến hướng nhà, trổ cửa sổ ở đâu để lấy nắng rọi và gió mát, tổ chức phòng ngủ, chỗ tiếp khách sao cho tiện lợi gọn ghẽ để mình cảm thấy dễ chịu khi sinh hoạt ở đó, hiên nhà rộng hẹp ra sao, nối với mái hiên nhà bếp cách nào… Thuở ấy, nhìn vách đất trộn rơm tôi thấy đẹp lắm nhưng chỉ nghĩ rằng do mình nghèo nên thấy vậy thôi – bây giờ thì mới hiểu đó là cái đẹp của ngôn ngữ vật liệu. Và chuyện loay hoay sắp đặt tổ chức không gian sống cho mình thuở ấy chính là cái công việc mà bây giờ người ta gọi là kiến trúc. Cảm nhận về không gian sống đã hình thành trong tôi từ ngôi nhà ông bà ở Vân Đình lại được củng cố thêm bằng  cái “nhà của mình” do chính tay tôi làm ra ở Tuyên Quang. Tất cả là nền tảng để tôi “vẽ” lên những ngôi nhà hôm nay của mình theo cái cách “kiến trúc” riêng, mang hoàn toàn tính cá nhân, nó hòa hợp giữa thiên nhiên, đồ vật với con người tôi.

Giờ đứng trước cổng ngôi nhà 2805/20/18 Phạm Thế Hiển, phường 7, quận 8, Tp HCM, hoặc trước cổng ngõ ngôi nhà trên sườn Núi Chè, Bắc Ninh, tôi sẽ nói với bạn thật nhẹ nhàng: “Đây là nhà tôi”. Tôi không khoe nó là sở hữu của tôi, tôi cũng không có ý hãnh diện vì tôi có thể tự cho nó là đẹp, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cái quan hệ tình cảm, cái gắn bó giữa Nó và Mình.

Sống quá nửa đời người mới hiểu rằng cuộc đời ta cần có một nơi chốn của riêng mình, không theo ý nghĩa sở hữu, để chúng ta ký thác Mình vào Nó, vào mỗi đồ vật, mỗi chỗ, mỗi góc riêng, vào cái cây, vào hòn đá, vào mặt nước, vào mùi hương vườn, vào bóng nắng xiên nơi hiên nhà… Ngôi nhà là mình, chỗ nào chúng ta cũng đọc thấy mình ở đó.

Nhà tôi.
Nhà là tôi, là chính tôi.
TP HCM ngày 23/12/2012