Sự chuyển đổi trong mặt bằng nhà ở cao tầng Thượng Hải theo hướng bền vững

Thiết kế nhà ở cao tầng tại Thượng Hải đã có sự chuyển đổi về mặt bằng nhà, đó là sự chuyển đổi về hình dạng nhà: từ dạng tháp sang dạng đơn nguyên; sự chuyển đổi về cơ cấu trong mặt bằng tầng nhà, số căn hộ trên một tầng; sự chuyển đổi diễn ra trong từng căn hộ về diện tích, công năng và cả thói quen sinh hoạt. Những nghiên cứu về sự chuyển đổi hình dạng trên đây được thực hiện thông qua phương pháp Hình thái học. Trên mặt bằng tầng điển hình, diện tích phụ trợ chiếm tỷ lệ tương đối lớn, mỗi căn hộ đều chia sẻ một phần diện tích phụ trợ này. 
 Một khu nhà ở cao tầng tại khu Pudong, Thượng Hải hiện nay
Việc phân tích và nghiên cứu về sự chuyển đổi hình dạng kiến trúc được thực hiện thông qua phương pháp Hình thái học (tiếng Anh: morphology) của Gianfranco Caniggia (1933-1987) [1]. Phương pháp này chú trọng phân tích quá trình hình thành và biến đổi của những công trình kiến trúc cũng như từng thành phần kiến trúc. Bằng việc vận dụng những tiêu chí đánh giá về hình thái, phương pháp này cho phép tổng hợp và phân tích một nhóm các đối tượng kiến trúc để làm rõ sự hình thành – phát triển, cũng như các đặc điểm về hình dạng của chúng trong những giai đoạn nhất định. Có 4 mức độ áp dụng: Đối với một thành phần kiến trúc, đối với một đơn vị ở hay khu ở, đối với một đô thị, và đối với một vùng lãnh thổ. Trong phạm vi nghiên cứu này của nhóm tác giả, phương pháp hình thái học được áp dụng ở mức độ nhỏ nhất để tìm hiểu cấu trúc hình học và không gian của mặt bằng nhà ở cao tầng, chú trọng vào sự chuyển đổi của mặt bằng nhà cao tầng qua các giai đoạn phát triển của Thượng Hải.
Tại Thượng Hải (Trung Quốc) từ những năm 1990 trở lại đây, nhà ở cao tầng (NƠCT) đã phát triển nhanh chóng nhờ áp dụng chính sách phát triển nhà ở đô thị gắn liền với nền kinh tế thị trường. NƠCT có ưu điểm nổi bật là tiết kiệm đất xây dựng, diện tích sàn xây dựng lớn, tăng đáng kể số lượng dân cư, hiệu quả đầu tư xã hội lớn, đồng thời thường ở vị trí tốt, giao thông thuận lợi. Đây cũng là những yếu tố hấp dẫn đối với người mua nhà. Tuy nhiên, NƠCT đòi hỏi vốn đầu tư cao hơn nhiều so với nhà nhiều tầng, do chi phí lớn về hệ thống thang máy, lối thoát hiểm, giao thông công cộng, các thiết bị kỹ thuật phức tạp khác và công tác quản lý bảo trì.  
Sự chuyển đổi trong thiết kế mặt bằng nhà ở cao tầng
Từ năm 1995 trở về trước, nhà ở cao tầng tại Thượng Hải có mặt bằng dạng tháp là chủ yếu. Sau đó, từ 1995 đến nay hình dạng mặt bằng nhà đã chuyển từ dạng tháp sang dạng đơn nguyên. Đây là sự chuyển đổi đầu tiên về mặt hình dạng. Nguyên nhân xuất phát từ việc mặt bằng nhà liên quan đến mức độ nhận bức xạ mặt trời, sự mất nhiệt và khả năng thông gió tự nhiên. Nhà dạng tấm (bản) có đặc điểm chiều sâu của mặt bằng nhỏ, do đó sẽ tận dụng được ánh sáng tự nhiên, tiết kiệm ánh sáng nhân tạo và đảm bảo thông thoáng, căn hộ liền kề giữ được sự riêng tư, không ảnh hưởng lẫn nhau. Khi đó, trên mặt bằng, các phòng chính của căn hộ như phòng ngủ, phòng khách, sẽ được bố trí về hướng chủ đạo (hướng Nam), còn các phòng phụ bố trí về hướng ngược lại.
Theo Sở quy hoạch và kiến trúc Thượng Hải, nhà ở cao tầng dạng đơn nguyên là loại nhà từ 9 tầng trở lên, gồm nhiều nhóm căn hộ tập hợp thành, mỗi đơn nguyên đều có cầu thang bộ và thang máy. Mặt bằng nhà dạng đơn nguyên có hai cạnh dài ngắn khác nhau, cạnh dài quay hướng Bắc –Nam để nhận nhiều ánh nắng mặt trời về mùa lạnh, còn cạnh ngắn hướng Đông –Tây. 
Ngay trong giai đoạn đầu tiên này của nhà đơn nguyên đã hình thành kiểu mặt bằng có 2 căn hộ. Gọi là mặt bằng có cấu trúc “1T2”, nghĩa là 1 nút giao thông có 2 căn hộ, sử dụng chung thang máy và thang thoát hiểm.
Từ tháng 6/ 2006, tại Trung Quốc bắt đầu áp dụng chính sách “7090” về nhà ở [*], nên trong vòng 5 năm qua Thượng Hải đã xây dựng hàng loạt khu nhà cao tầng mà phần lớn các căn hộ đều có diện tích 90 m2. Trong khi đó, nhu cầu thực tế của người dân lại cần những căn hộ có diện tích nhỏ hơn, chỉ khoảng 60-70m2, còn những đối tượng giàu có thì muốn căn hộ lớn hẳn lên 120-150m2.
Bởi vậy, sau khi Bộ Xây Dựng quốc gia tạm ngưng chính sách 7090 một cách không rõ lý do, thì Thượng Hải đã nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu căn hộ, thiết kế nhiều căn hộ có diện tích nhỏ hơn. Nguyên nhân của sự chuyển đổi về diện tích căn hộ theo chiều bé đi này là:  
1/ Lý do kinh tế, giá thành nhà ở của Thượng Hải ngày càng cao trong khi tình hình tài chính nói chung đang khó khăn. Người lao động trẻ tuổi chỉ có thể mua căn hộ nhỏ để phù hợp với điều kiện kinh tế và có khả năng thích ứng cao; 
2/ Số nhân khẩu trong mỗi gia đình giảm. Cuộc sống hiện đại thúc đẩy các gia đình chỉ có 1-2 thế hệ, phổ biến nhất là cặp vợ chồng trẻ với 1 con, hay hai ông bà sống với nhau. Ngày càng ít các gia đình có 3 thế hệ ông bà, bố mẹ và con cái ở chung. Điều này liên quan mật thiết tới số lượng các phòng chức năng trong căn hộ, số phòng ngủ giảm dẫn tới diện tích căn hộ giảm đáng kể;
3/ Tập quán sinh hoạt thay đổi. Người dân Thượng Hải không có thói quen mời bạn bè về thăm nhà như người phương Bắc, mà họ chủ yếu gặp gỡ nhau tại cơ quan, quán ăn uống, bar, câu lạc bộ,…tại những nơi công cộng đáp ứng nhu cầu giao lưu đa dạng và tiện lợi hơn ở gia đình riêng. Nhà riêng dần trở thành một nơi yên tĩnh, kín đáo và riêng biệt đúng nghĩa, phòng khách ít khi dùng đến. Mọi sinh hoạt trong căn nhà diễn ra chủ yếu ở phòng ngủ, phòng bếp+ăn và sinh hoạt chung. Do đó, diện tích của phòng khách dần được thu nhỏ lại để đảm bảo chức năng tối thiểu, diện tích của toàn căn hộ cũng dần thu nhỏ lại một cách hợp lý hơn trước.
Ngoài các nhà cao tầng có cấu trúc “1T2” như trên, tại Thượng Hải ngày càng phát triển thêm các cấu trúc mới “1T3”, “1T4”, “1T6”, gọi chung là cấu trúc dạng “1Tn”. Nguyên nhân là do nhu cầu người ở đa dạng, và các dự án nhà cũng chú ý hơn đến hiệu quả sử dụng, thay vì chỉ có cấu trúc “1T2” tiêu chuẩn khá cao thì nay có thêm nhiều căn hộ trên một tầng “1Tn” với các mức diện tích khác nhau.
Các đặc điểm nổi bật của cấu trúc “1Tn”:
– Về bố trí công năng kiến trúc: so với trước đây, diện tích phòng ngủ và phòng khách đang được thu gọn lại, chỉ cần đạt kích thước chuẩn, riêng phòng khách có diện tích thu hẹp lại vì những lý do đã phân tích ở phần trên. Ngoài ra, trong mỗi căn hộ đều chú ý bố trí thêm phòng kho chứa đồ thành những không gian riêng biệt. Diện tích phụ trợ giảm đáng kể so với cấu trúc “1T2”.
– Về thông gió tự nhiên: cấu trúc “1Tn” vẫn đảm bảo thông gió tốt do đặc điểm chung của dạng mặt bằng đơn nguyên, ngoài ra việc thông gió còn được hỗ trợ nhờ các khe thoáng được tạo ra giữa các căn liền kề nhau, các khe này đều bố trí ở hướng Nam của tòa nhà.
– Về chiếu sáng: cấu trúc “1T6” hoặc “1T8” có thể bị hạn chế về mặt chiếu sáng của những căn hộ quay về hướng Bắc, còn lại đa phần vẫn đảm bảo chiếu sáng tốt. Tuy nhiên, tất cả các căn hộ vẫn phải đảm bảo thời gian chiếu nắng tối thiểu 2 giờ/ ngày;
– Về số tầng nhà đạt hiệu quả kinh tế: trên 18 tầng và dưới 34 tầng (tương đương 100m chiều cao)
Những ví dụ thiết kế NƠCTĐN tại Thượng Hải
Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu mới về thiết kế NƠCTĐN của Viện nghiên cứu thiết kế kiến trúc Đồng Tế, Trường Đại học tổng hợp Đồng Tế, Thượng Hải. Việc nghiên cứu và thiết kế các dự án nhà ở cao tầng tại Thượng Hải và nhiều đô thị khác của Trung Quốc đã đem lại nhiều bài học cho nhóm nghiên cứu.
Đơn nguyên gồm 2 căn hộ: Đây là dạng căn hộ cao cấp, có diện tích khá lớn, tiêu chuẩn cao vì 2 căn hộ dùng 2 thang máy, có nghĩa là 1 căn hộ/ 1 thang máy. Mỗi căn hộ có diện tích lần lượt là 167m2 và 174m2.
Theo tiêu chuẩn – quy phạm hiện tại, diện tích kiến trúc của một đơn nguyên (mặt bằng tầng điển hình) được cấu thành bởi tổng của 3 thành phần diện tích: diện tích sử dụng, diện tích phụ trợ, và diện tích kết cấu.
Trong đó, đối với một căn hộ thì diện tích sử dụng là tổng diện tích các không gian được dùng trực tiếp cho sinh hoạt của căn hộ; Diện tích phụ trợ là tổng diện tích các không gian phụ trợ cho sinh hoạt bên ngoài căn hộ như cầu thang, hành lang, lối thoát hiểm; Diện tích kết cấu được tính bằng tổng diện tích của tường, cột trụ trong căn hộ. Điều đó có nghĩa là, mỗi căn hộ thực tế phải “gánh thêm” một diện tích công cộng nằm ngoài phạm vi căn hộ của mình, giá thành căn hộ được tính cả phần diện tích này. Trong đơn nguyên có 2 căn hộ thì mỗi hộ sẽ chia theo tỷ lệ độ lớn về diện tích công cộng. Trường hợp 2 căn hộ có diện tích như nhau thì chia theo tỷ lệ 50/50.
Tại Thượng Hải, thông thường mỗi căn hộ thường chịu thêm khoảng 12-18% diện tích phụ trợ bên ngoài, có trường hợp đặc biệt lên trên 20%. Căn hộ diện tích càng lớn thì càng phải gánh thêm nhiều diện tích phụ trợ, chịu càng nhiều chi phí cho không gian công cộng.
Đơn nguyên gồm 3 căn hộ: Nhà cao 22 tầng, mỗi đơn nguyên gồm 3 căn, các căn có diện tích lần lượt là 101, 148, 154 m2. Cơ cấu căn hộ gồm 2 phòng ngủ, 2 phòng chính, 1 hoặc 2 vệ sinh.
Đơn nguyên gồm 4 căn hộ: Nhà cao 34 tầng, diện tích tầng: 926m2, gồm 4 căn hộ, trong đó 2 căn có diện tích 138.5m2,  2 căn có diện tích 93m2.
– Căn 138.5m2 có diện tích sử dụng 114m2, diện tích phụ trợ 24.5m2, chiếm tỷ lệ 17.7%.
Cơ cấu căn hộ gồm 3 phòng ngủ, 2 phòng chính, 2 vệ sinh
– Căn 93m2 có diện tích sử dụng 76m2, diện tích phụ trợ 17m2, chiếm tỷ lệ 18.2%.
Cơ cấu căn hộ gồm 2 phòng ngủ, 2 phòng chính, 1 vệ sinh.
Tóm lại, điểm mới sáng tạo của các trường hợp nghiên cứu trên là sự chuyển đổi trong mặt bằng nhà ở nhằm thích ứng với điều kiện khí hậu, chuyển đổi hình dạng căn hộ, bố trí công năng kiến trúc, và cả kết cấu- vật liệu xây dựng để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tận dụng nhiều nhất năng lượng tự nhiên. Tất cả sự chuyển đổi đó đều nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu ở ngày càng đa dạng phong phú của người dân đô thị theo hướng phát triển bền vững.
Kết luận
Nguyên nhân chính của sự chuyển đổi trong việc thiết kế mặt bằng nhà cao tầng  là đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội theo hướng bền vững, nhằm phục vụ nhu cầu ở ngày càng đa dạng của người dân, chủ yếu là tầng lớp trẻ và dân lao động từ khắp nơi về Thượng Hải sinh sống, làm việc;
Những nghiên cứu trên đây về sự chuyển đổi trong thiết kế mặt bằng nhà ở cao tầng, cũng như sự khác biệt về tiêu chuẩn, quy phạm của Thượng Hải là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu và học tập kinh nghiệm để phát triển nhà ở cao tầng tại các đô thị phát triển của các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.
 
NCS.KTS Ngô Lê Minh – Đại học Kiến trúc Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc 
GS LI Zhenyu – Đại học Kiến trúc Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc