Tản mạn về Kiến trúc

Có lẽ bên cạnh những ngọn núi sừng sững giữa trời như những tượng đài thì những cái hang trong lòng nó là những gợi ý đầu tiên về kiến trúc mà thiên nhiên ban tặng cho loài người. Giống như tiếng động gợi ý âm nhạc, tiếng nói gợi ý cho thơ ca, cảnh trí gợi ý cho hội họa cùng con người, chuyển động của loài vật gợi ý cho múa… Cho đến nay, loài người tự hào vì đã có những tác phẩm kiến trúc bất tử giao hòa cùng thiên nhiên ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đó có đất nước Việt Nam mang dáng đường thái cực mỏng manh đồng dạng với chữ S của hệ latinh.

Khu vực quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1972 (Ngã năm Hàng Ngang - Hàng Đào)
Khu vực quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1972 (Ngã năm Hàng Ngang – Hàng Đào)

Khi Văn Cao xuất thần câu thơ: “Từ trời xanh rơi vài giọt tháp Chàm…” thì chắc chắn “giọt” ở câu thơ đa nghĩa này là “giọt ý tưởng” mà Thượng đế ban tặng cho các nhà kiến trúc Chăm khi dựng lên những tháp Chàm “chắc chắn, lẻ loi và bí mật” dọc hành lang miền Trung nhấp nhô những “đốt sống” Trường Sơn. Cũng như vậy, câu ca dao ngàn xưa cũng ẩn chứa trong đó một thông số mà nhà kiến trúc người Kinh chuyển giao cho người thợ xây: “Qua đình ngả nón trông đình/ đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Đấy, kiến trúc Việt Nam từ bao đời nay cứ nhỏ nhắn và dễ thương như vậy!

Lịch sử kiến trúc không thể tách rời với lịch sử tư tưởng và tôn giáo. Bạn tôi – Nhà thơ Mỹ Frederick Tunner (đã 20 lần được đề cử giải Nobel văn chương và là người đưa ra thuyết “Chủ nghĩa cổ điển tự nhiên”), khi đến Đền Đô đã có một nhận xét khá bất ngờ về tư tưởng và tôn giáo Việt Nam. Ông nói: “Đền chùa Việt Nam khác đền chùa ở Trung Quốc, mặc dù vợ tôi là người Trung Quốc. Đền chùa ở Trung Quốc là để dọa người còn đền chùa ở VN là để mời người vào. Ở đền chùa Trung Quốc, con rồng tượng trưng cho quyền lực luôn ở trên đỉnh chùa, ở dưới xòe ra bốn góc mái mới là con phượng tượng trưng cho văn hóa. Ở đền chùa Việt Nam mà cụ thể là Đền Đô: Con Phượng trên đỉnh, còn con rồng ở bốn góc mái xòe ra. Tức là văn hóa ở trên quyền lực.” Nghe bạn nói mà mình vừa cảm động, vừa hởi lòng hởi dạ.
Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, đi đâu cũng thấy những tòa nhà cao. Nhưng không hiểu vì sao, tôi chỉ thấy yên ổn khi nghĩ về những cái hang ẩm tối, những căn nhà binh trạm dọc đường mòn Trường Sơn ấm cúng và hồn hậu. Làm sao có thể so sánh tầm vóc của người tạo ra nhà sàn của Bác ở chiến khu Việt Bắc với người tạo ra dáng vẻ của dinh Độc Lập (nay là dinh Thống Nhất)? Nếu nhìn lại hành trình của những căn nhà tre nứa của những binh đoàn chiến sĩ dọc năm tháng chiến tranh để đi tới điểm chót cùng là cắm cờ lên dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, thì mới thấy hết sự kỳ diệu của chiến tranh nhân dân mà biểu hiện kiến trúc của nó là những căn nhà tre nứa dã chiến. Cũng vì lẽ đó mà một cựu binh bạn tôi đã nảy sinh ra một ý tưởng khá độc đáo khi thiết kế và xây dựng “nơi ẩn náu cuối cùng” của mình bên sông Luộc. Ông cho xây nhà một tầng với nội thất hết sức hiện đại, sau đó đổ đất lên căn nhà này, biến nó thành một cái hang trong lòng một quả đồi, trên đỉnh đồi là nhà thờ tổ tiên và cha mẹ, người thân. Cái hang là một gợi nhớ về quá khứ dấu thân.

Bây giờ vào Sài Gòn tôi hay đến nhậu ở Sảnh 81 Trần Quốc Thảo – Trụ sở của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật TP.HCM. Những buổi chiều lộng gió ngồi bên cạnh tòa nhà cao mới xây, chúng tôi thường hồi tưởng lại quá khứ. Cũng vẫn không gian này, xưa kia là một căn-tin phục vụ bia hơi Sài Gòn, lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười nói. Không biết có bao nhiêu ý tưởng sáng tạo trong đó có cả kiến trúc đã được hình thành trong sự chia sẻ rất lãng mạn và nghệ sĩ như thế. Lúc ấy nghèo khó nhưng hình như mỗi người lại có rất nhiều lạc quan và hi vọng. Hôm nay, đã có miếng ăn miếng uống hơn thì lại thấy quá nhiều băn khoăn. Nhìn lại sự phát triển văn học nghệ thuật nước nhà sau 40 năm thống nhất, sao thấy vẫn còn phải kiên nhẫn chờ đợi những tác phẩm cả về bề sâu lẫn chiều cao. Kiến trúc cũng không nằm ngoài nỗi trăn trở này. Điều thực sự thay đổi mà 20 năm qua, giới âm nhạc TP.HCM đã làm được là xây dựng được nhà hát giao hưởng – hợp xướng – nhạc vũ kịch với những hoạt động ngày càng thu hút công chúng của thành phố mà người ta cứ tưởng chỉ có nhạc pop, rock, nhạc thịnh hành. Đến lúc phải xây dựng một phòng hòa nhạc đúng tiêu chuẩn quốc tế thì nghe đâu lại phải mời KTS ở Đức về. Hình như các KTS Việt Nam mới chỉ đạt đến thành tựu là kiến trúc các hội trường. Điều thiếu hụt này cần được bù đắp trong tương lai mà ngay tại Đại hội lần này, giới KTS chắc cũng nên bàn tới.

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha
TCKT số 03-2015