Thả bộ trên phố

Ai cũng có nhu cầu dạo phố, thong dong thả bước trên những phố phường, dù thành phố ấy "lạ hay quen". Con phố đẹp, duyên dáng, có hồn, có tình, tử tế, hay có ký ức… sẽ được dừng lại lâu hơn, ngắm kỹ hơn, trở lại nhiều hơn. Có con phố làm ta "cười", có con phố làm ta "khóc"…

     QUANG PHỔ
       Hai mươi lăm năm sau đổi mới, tiền bạc bắt đầu rủng rẻng, ít nhất nó hiện ra ở các đô thị với các hiện tượng “ngập nước”, "lô cốt" và "kẹt xe" với những dòng người lố nhố giữa "biển" xe máy đều đặn hàng ngày thì rõ là nét riêng có. Ngày càng nhiều những “con đường bia bọt”,… ra đời ở các đô thị lớn bé. Bỗng một ngày món "lẩu" của người Nam Bộ trở thành "hoàng đế ẩm thực", tung hoành dọc ngang vỉa hè, được toàn quốc hoá. Tất tần tật mọi thứ tinh hoa nông sản, hải sản được xướng danh yêu dấu vào mỗi chiều tà.
      Nền kinh tế thị trường, sống động quét qua, đường phố bỗng trở thành "những con đường khẩu hiệu". Tất tần tật mọi thứ nhảy múa, đều muốn phô trương, từ cá nhân đến tập thể, băng rôn, panô tràn ra: từ băng rôn sản phẩm đến lễ lạt, kỷ niệm kéo nhau… "xuống đường". Cả phố phường xôn xao quang phổ: nâu, đỏ, sắc vàng, lục, lam, chàm, tím. "Yếu sinh lý", "Trĩ lươn mạch","Gia sư tại gia" hay " Hút hầm cầu"… bám vào cả những bức tường nhỏ bé, cột điện, thân cây mỏng manh chốn công viên, dường như đại diện cho "bản sắc" đô thị Việt thời hiện đại. Những lệnh ngôn “Hãy…”, “Quyết tâm xây dựng khu phố văn hoá" xuất hiện không chừa, ngõ phố nào, dù bên trong các phố lắm khi là nhịp đời của quán karaoke ôm, hay tiệm cắt tóc kích dục… Xứ Kansai (Kobe) của Nhật Bản chắc cũng bất ngờ khi biết karaoke mà nơi đây sinh ra, sang đến Việt Nam thì nó được "bản địa hoá", sống một đời sống khác, nó có thể thành "karaoke… Ôm". Không hiếm cảnh người phương Tây ngơ nhác nhìn phố phường ta như nhìn những nhịp sống lạ, sinh động nhưng kỳ ảo, như nhìn một "tác phẩm" lạ.
       Có vẻ như đời sống văn hoá đang chạy theo không kịp đời sống vật chất. Tự mỗi người hình như bỏ quên những yếu tố tinh thần, mọi thứ cứ để "chọn lọc tự nhiên" theo thời gian, cái gì hay – đẹp – đúng – mạnh sẽ đọng lại – người ta đã đưa triết lý/qui luật sinh học của Charles Darwin vào đô thị  như thế đó?

  "CÁT CỨ"
     Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Vỉa hè" là phần nằm giữa lòng đường với nhà ở đô thị, là một bộ phận của phố phường,  nơi dành cho người đi bộ. Nhưng những cuộc thả bộ đứt đoạn vì hàng điện tử, may mặc, bãi giữ xe, "phố nhậu"… lấn chiếm vỉa hè – khiến vỉa hè cần được định nghĩa theo từng con đường, tuỳ vào từng hoàn cảnh. Vỉa hè ở đô thị Việt Nam cũng có số phận.
        Nhưng cái vỉa hè cũng không bằng hình ảnh kiến trúc, nhà cửa đây đó ở các đô thị. Chưa bao giờ nhà cửa ở Việt Nam được người ta dựng rào, cất tường  nhiều thế, đồ sộ thế, cao thế. Ngày xưa ở xứ mình hàng rào ít mảnh chai, các đầu sắt ít nhọn, ít hiểm hơn bây giờ. Giờ đây, ta đã quen mắt với những căn nhà mặt tiền là những khối sắt thép nuốt chửng hết kiến trúc. Có những dãy phố mấy chục căn, hàng trăm căn nhà là hàng trăm “cứ địa”, chúng được gông trong những "lồng sắt" không hơn. Không còn sự liên kết không gian hài hoà nào nữa của những tác phẩm kiến trúc, của dãy phố. Càng "cát cứ" thì lòng người có khi cũng ngăn lại, cái sự buồn vui cũng bị ngăn lại giữa những người hàng phố. Cái tổng thể không gian đô thị, bộ mặt đô thị, thứ công cộng, trở thành "cõi" riêng, cố riêng đến tuyệt đối. Có vấn đề về an ninh, nên người ta ai cũng tự lo lắng cho cái gì mình đang sở hữu, nắm được, nắm cho chắc. Yếu tố an ninh đã đẩy lùi văn hoá, chối bỏ thẩm mỹ.
       Có KTS đau đầu với ý nghĩ : “Bao giờ người Việt chấp nhận sống chung trong phố, sống thật sự, hết mình ở không gian phố như thiên hạ Âu, Mỹ, Nhật, Hàn?”. Sống ở phố, hộ khẩu ở phường, nhà có số, đường có tên, nhưng người sống không phải là “thị dân”.
      Còn những cái lồng sắt trên cửa sổ, ban công được người ta cơi nới để tăng thêm không gian sử dụng thì dĩ nhiên phần "kiến trúc" teo lại. Những người bạn của KTS của tôi gọi đó là chỗ chui ra chui vào, chứ không phải là nghệ thuật về không gian sống. Mỗi chủ nhà là một "KTS", nên phố xá loạn hình hài, kiểu dáng, linh hồn, cảm xúc. Có phải đô thị vào thời hội nhập thì nhà cửa không cần khoảng lùi, chẳng cần khiêm tốn, chuẩn mực?
       Tư tưởng ăn chắc mặc bền, tận dụng tối đa, tranh thủ triệt để… làm nhăn nhó, teo tóp vẻ văn minh, hào hoa của Người Đô Thị, dù từ thời xuất hiện đô thị đầu tiên của nhân loại – Thành phố(vườn treo) Babylon – “thị dân” đã được đề cao, tôn trọng như thể công dân "chiếu trên".
       
 “THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ”
       Ta cũng không khó để bắt gặp những đám rau, mảnh vườn cải, vườn cà trong không gian chật hẹp ở phố ngày nay. Có những mảnh vườn nhằm trang trí, cho đỡ nhớ quê của lớp người mới "lên đời" thị dân; nhưng cũng có mảnh vườn nhằm cải thiện tối đa hoa lợi thì hơi lạc nhịp, xót xa. Bởi đô thị là đô thị mà đồng quê là đồng quê, nó khó mà dây dưa, khi giá trị riêng đã phân định. Đô thị có nghĩa vụ cao cả để kéo đồng quê dưới kia đồng hành phát triển, và đồng quê có sự thiêng liêng khi cung ứng nông sản thực phẩm cho đô thị – sự phân công tuyệt vời bao đời nay vậy. Cũng như những chuồng gà không thể "chơi vơi" trên căn nhà lầu, và tiếng lợn kêu không phải là âm thanh làm cho phố… "phố" hơn.  Con người dịch chuyển về đô thị là qui luật bình thường, tất yếu và cần thiết, bởi ở đó qui tụ những cơ hội để phát triển, tiệm cận và thụ hưởng đời sống văn minh, học hành, chữa bệnh, giải trí… Trong mảnh đất trống con con ấy, nếu là cây xanh, khóm hoa thì là tín hiệu văn minh, vì cân bằng sinh thái với bê tông. Nhưng đôi khi, nhìn thấy cảnh "đồng quê" xuất hiện nhiều ở phố, thành phổ biến, quá đáng, thì lại là nỗi lo…"nông nghiệp hoá", "nông thôn hoá" phường, phố.


        Bệnh “thương nhớ đồng quê” mỗi ngày càng trầm trọng, mà thuốc chữa thì mù xa.
        Việt Nam đã hình thành được 700 đô thị lớn nhỏ, với hơn 37 triệu dân đang sinh sống ở đô thị, nhưng đã được mấy phần trong số họ là "Thị dân" với đầy đủ ý nghĩa của nó, dù theo quản lý hành chính thì dĩ nhiên tất cả đều là công dân đô thị? Ta có thể thông cảm cho ta, vì đất nước nghèo nên lên phố cũng nghèo, thị dân chưa cởi bỏ hết được nỗi nhớ đồng quê – Ta là cư dân của một đất nước truyền thống nông nghiệp mà. Cần biết gốc gác, nhưng đừng hành xử và kiêu ngạo trên cái nền “Văn minh lúa nước” khi sống ở thị thành. Gia đình có một người “lên phố”, lần lượt kéo theo anh em, cháu chắt, họ hàng, chòm xóm. Chủ nghĩa "đồng hương" quá mạnh, thắng thế, nhiều khi biến phố thành "làng", sống theo hội, nhóm, giọng nói. Cho dù là Hà Nội, Sài Gòn, hay "Tiểu Paris Đà Lạt"… cũng trở thành nơi để thiên hạ gần xa đi… "kinh tế mới". Phố phường xáo trộn mãi cư dân, chưa thể định hình nên phong thái, bản sắc. Thậm chí nơi đã định hình phong thái, đặc trưng cư dân như Hà Nội, Huế, Đà Lạt, Sài Gòn… cũng dần phai nhạt đi. Thiên hạ đúc rút chỉ ra rằng phải mất ba đời mới thành "thị dân". Đây đó cũng có người “chịu học làm.. thị dân” thì rút ngắn ở đời thứ hai; lại cũng có người bắt nhịp ngay đời thứ nhất. Và cũng khối người học mãi vẫn không thành thị dân. Đô thị Việt Nam thật tội nghiệp, trên thân thể nó gồng gánh quá nhiều thứ: cái nghèo, cái lam  lũ, cái thiếu khoa học, thiếu nghiêm túc, thiếu khát khao, tính dễ dãi, xuề xoà… của một quán tính từ cái xã hội nông nghiệp cũ xưa lên phố, mới chạm chân vào hiện đại, hội nhập.


       Nhiều khi nhìn đô thị hình thành từ tận thế kỷ XVII  Hội An, 36 phố phường  xưa ở Hà Nội, phố cổ Bao Vinh ở Huế, đường Đồng Khởi ngày nào, khu Phú Mỹ Hưng nay ở Sài Gòn, hay Trần Hưng Đạo ở phố núi Đà Lạt, nhà cửa trên con đường Biệt Thự ở phố biển Nha Trang, hoặc những tháp Chàm thách thức thời gian trên các ngọn núi phong sương ở duyên hải miền Trung… để thấy thế nào là  dựng xây công trình, kiến tạo đô thị, khát khao gây dựng giá trị cho hiện tại và mai sau. Đô thị cũng cần … thành tựu, phố phường cũng cần bay lên, cất cao tiếng nói.


        Hình thành nhanh những đô thị ăn xổi, lấp đầy vội những con phố tạm thời là để lại những đô thị tật nguyền cho nay mai. Có vị KTS nhận định đó là những thành phố "đãng trí", mới sinh ra, chưa già mà đã lẩn thẩn; vì khi dễ dàng phá đi, làm lại, không tiếc, là đánh mất ký ức – mà không có ký ức là mất đi điểm tựa nhân văn – điều thiêng liêng của bất kỳ nơi chốn nào. Người bạn lớn của tôi, KTS Hoàng Đạo Kính cho rằng: “những đô thị sống vội kiểu ấy sẽ là những cô bé Lọ lem mà không bao giờ trở thành Công chúa". Theo Ômg, hiện chúng ta chỉ có xây dựng là chính; phố xá đông người lên, nhà cửa nhiều thêm, nhưng… “kiến trúc” thì ít; và sự thật là chưa có một nền kiến trúc với đầy đủ ý nghĩa của nó. Diện mạo đô thị hiện nay là một bước chuyển bất ngờ, đột ngột, và lộ rõ chưa có sự chuẩn bị.
       Và thả bộ trên phố cũng có khi là để nhận chân, nhìn lại hình hài phố phường xứ sở. Để có đô thị văn minh, hiện đại thì phải luôn chuẩn, khoa học và nghiêm khắc, không chấp nhận sự cẩu thả, buông thả, và tầm  nhìn ngắn hạn. Đời sống vật chất đang rôm rả ngày nay là cơ hội phát triển Đô thị, Kiến trúc – bởi giá trị đô thị và của nghệ thuật kiến trúc là  phát triển trong điều kiện "có tiền" và không gian thời bình. Kiến trúc tử tế, hướng đến giá trị, ắt sẽ kéo theo nếp làm nếp nghĩ, lời ăn tiếng nói là vì vậy – theo quan niệm của người Pháp, một dân tộc tiêu biểu về phát triển kiến trúc và văn minh đô thị từ xưa tới nay.
                                  
Nguyễn Hàng Tình