30 năm nhìn lại và trông xa

Nhìn lại thời điểm hơn 30 năm về trước, khi Sài Gòn xuất hiện vào đỉnh cao của đợt “bùng nổ đô thị”, giai đoạn 1960-70, với bộ mặt mang nhiều yếu tố của một nền kiến trúc đô thị hiện đại, so ra không thua kém ai trên khắp châu Á. Ba mươi năm sau, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đang tiếp nối các bước phát triển của Sài Gòn cũ, luôn được xem là đầu tàu kinh tế của cả nước, là hình ảnh đô thị thời mở cửa, hội nhập. Thành phố phát triển hôm nay không quên dấu ấn năm xưa, nhưng cũng đang phải đối mặt với những vấn nạn của một đô thị cực lớn, đông dân mà chưa phát triển đồng bộ.  
30 năm nhìn lại 
Nhân dịp Sài Gòn-TP.HCM kỷ niệm 300 năm (1998), nhà nghiên cứu người Pháp KTS François Tainturier đã đánh giá về Sài Gòn cũ: “Trong khi ở miền Bắc, Hà Nội tự chọn cho mình một nền kiến trúc chính thức thường đơn điệu, thì tại Sài Gòn tồn tại đồng thời nhiều trào lưu kiến trúc, do các KTS được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước lẫn nước ngoài. Có sự đoạn tuyệt rõ rệt với ngôn ngữ kiến trúc thuộc địa Pháp. Các công trình khá phong phú, phản ánh trào lưu kiến trúc “hiện đại- nhiệt đới hóa”. Đã có biết bao công trình chứng minh khả năng của kiến trúc giải quyết được các vấn đề do thời tiết khí hậu đặt ra”.
Ngày giải phóng Sài Gòn năm 1975, nhà nghiên cứu kiến trúc-quy hoạch đô thị Trương Quang Thao từng du học ở Liên Xô (cũ) cũng đã thành thật thốt lên: “Các nhà kiến trúc miền Nam tiếp xúc trực tiếp với kiến trúc hiện đại thế giới và sáng tạo trong sự  ưu đãi của tư bản và thế lực Sài Gòn, nhanh chóng làm chủ kỹ thuật bê tông, đá rửa tạo nên những công trình làm ngơ ngác đồng nghiệp Hà Nội sau 30/4/75 !”. 
Trong giai đoạn chiến tranh Việt – Pháp (1945-54), Sài Gòn không xây dựng được gì thêm, trong khi dân các tỉnh ùa về thành phố. Từ nửa triệu người vào năm 1945, dân số đã lên đến 1,6 triệu người vào năm 1954. Giai đoạn 20 năm tiếp theo đó, thành phố chứng kiến nhiều biến cố trọng đại, Sài Gòn nhanh chóng biến thành một trung tâm kinh tế, một thương cảng bận rộn, một căn cứ quân sự khổng lồ.
Từ rất sớm, Sài Gòn đã được trang bị hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện đại, nhà cao tầng, công trình công thương nghiệp, cảng lớn. Và điều đáng chú ý là hầu hết các công trình kiến trúc đó đều do chính đội ngũ người Việt thiết kế và thi công, đạt tiêu chuẩn hiện đại quốc tế. Vào thời kỳ chiến tranh Mỹ – Ngụy, Sài Gòn trở thành căn cứ hậu cần lớn nhất miền Nam, việc xây cất tuy có hỗn độn nhưng dồn dập. Nhiều mâu thuẫn của bộ mặt kiến trúc bắt đầu xuất hiện. Bên cạnh nhà cao tầng, khách sạn, biệt thự, nhà hàng, vũ trường là các khu ổ chuột, khu lụp xụp, nhà tôn ván lấn chiếm khu sình lầy, kênh rạch. Tuy nhiên, chính vào giai đoạn này đã xuất hiện nhiều công trình xây dựng hiện đại, to lớn hơn thời Pháp. 
Vào thời điểm 1960 – 70, các công trình kiến trúc khá bề thế và rất  hiện đại nhưng vẫn mang bản sắc Việt đã được đưa vào sử dụng: Khu Nhà tù trung tâm thời Pháp bị phá bỏ và dựng lên Thư viện Quốc gia. Dinh Độc Lập xây mới thay thế dinh Norodom cũ, cùng với Trụ sở Bộ Ngoại giao, Nhà Thanh niên, nhiều cơ sở đại học cải tạo hoặc xây mới: Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ, Đại học Y khoa Sài Gòn, từng bước hình thành khu Đại học lớn ở Thủ Đức… Các công trình tôn giáo như Chùa Vĩnh Nghiêm, Nhà thờ Thị Nghè đã tận dụng kỹ thuật bê tông cốt thép thay thế kết cấu gỗ truyền thống, tạo ra nhiều không gian sinh hoạt mới mà vẫn mang dáng dấp cổ truyền. 
Nét mới của Sài Gòn là chung cư xây dựng ồ ạt sau Tết Mậu Thân (1968) khi nhiều khu xóm lao động bị chiến cuộc tàn phá. Đặc biệt chung cư Thanh Đa xây dựng hoàn chỉnh nhà ở kiểu căn hộ, với chợ, trường học, trạm xá y tế, rạp chiếu bóng, sân chơi, đường nội bộ. Hàng loạt bệnh viện lớn ra đời như Vì Dân, Chợ Rẫy… Nhiều nhất là bệnh viện do các bang hội người Hoa xây dựng ở Chợ Lớn.
Sân vận động Cộng Hòa qui mô lớn thay thế sân Renault.  Rất nhiều nhà máy xuất hiện, từ Vinatexco, Vimytex, Vissan, Xi măng Hà Tiên và cả toàn bộ khu Công nghiệp Biên Hòa (nguồn vốn và điều hành của người Sài Gòn), khu chế xuất Tân Thuận… 
Sài Gòn được trang bị hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại: đường cao tốc (xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa ở phía Bắc, vành đai Đại Hàn ở phía Tây), cầu đường, sân bay (Tân Sơn Nhất rộn rịp nhất châu Á thời đó), bến cảng tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống điện nước, cống rãnh mới. Thành phố vươn lên cao và lan ra các vùng ngoại ô… 
Bùng nổ đô thị đợt 2
Sự phát triển của thành phố hầu như ngưng đọng lại suốt 15 sau năm 1975. Nhưng sau khi mở cửa, kể từ năm 1990, lại kinh qua một sự “bùng nổ đô thị” lần thứ hai (sau bùng nổ lần thứ nhất vào các  thập kỷ 1960-70) – đã có tác động tích cực đưa thành phố vào hàng các đô thị đông dân và năng động ở Đông Nam Á.
Về mặt kiến trúc, TP.HCM tiếp nối hướng phát triển hiện đại đã từng có cơ sở vững chắc từ trước năm 1975. Nguồn đầu tư ồ ạt từ nước ngoài (chiếm đến phân nửa đầu tư địa ốc nước ngoài vào cho cả nước) trong những năm 1990 đã nhanh chóng tạo một bộ mặt mới cho thành phố. Mười năm gần đây, nhiều công trình đô thị qui mô lớn như Nam Sài Gòn, các cao ốc khu trung tâm, công cuộc giải tỏa rạch Thị Nghè, đại lộ Đông Tây, khu công nghiệp Tân Tạo, các dự án Thủ Thiêm, Đền Hùng, Ga hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, các cây cầu vượt sông Thủ Thiêm, Phú Mỹ… sắp tới là hệ thống xe điện ngầm và cáp treo, nhà cao tầng và chung cư mới… rõ ràng đã và đang làm thay đổi bộ mặt thành phố thời hội nhập. 
Thật vậy, dáng dấp thành phố nay thay đổi về chiều cao với hàng trăm cao ốc lớn nhỏ. Ngôi nhà cao nhất Việt Nam, như cao ốc Saigon Trade Center, Bitexco là những nhà cao tầng nằm ở khu trung tâm. Bộ mặt đô thị thay đổi đáng kể, mang dáng dấp hiện đại nhưng gây tranh cãi khi mang phong cách quốc tế – nặng về công năng, kiểu hình hộp, không nhập với cảnh quan kiến trúc mang nét Pháp chung quanh. Đây là kiểu kiến trúc thực dụng phương Tây, thời kinh tế thị trường lan đến châu Á từ mấy mươi năm nay, và từng có mặt tại Sài Gòn thời cũ. 
Nam Sài Gòn là giải pháp đô thị do nước ngoài đầu tư xây dựng, nhằm tạo ra một khu đô thị mới bên cạnh các quận trung tâm. Dự án do công ty thiết kế lớn của Mỹ SOM (Skidmore, Owings & Merrill) thực hiện quy hoạch tổng thể đã đoạt giải danh dự của AIA (Hội KTS Mỹ) năm 1997 và được đánh giá như một đồ án quy hoạch hoàn chỉnh nhất đưa thành phố tiến ra biển và nối kết với Đồng bằng sông Cửu Long. 
Đại lộ Đông Tây dài 22 km đang hình thành, chạy xuyên qua 8 quận huyện, nối quốc lộ 1A, xa lộ Hà Nội (xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa cũ) và đường Xuyên Á (từ Tây Ninh về), chạy dọc theo Kinh Đôi, có đường hầm xuyên sông Sài Gòn qua bán đảo Thủ Thiêm. Đây là công trình giao thông lớn nhất và cũng gây tranh cãi nhiều nhất – do con đường đã chạy xuyên qua các khu dân cư đông đúc cũng như các khu vực mang tính di sản của thành phố. Công trình Ga Quốc tế Tân Sơn Nhất rất hiện đại và kinh phí lên đến trên 200 triệu USD do Nhật Bản thiết kế và cho vay vốn cũng gây tranh luận – do công trình tuy hiện đại nhưng không mang nét tiêu biểu Việt Nam và xa lạ với khí hậu nhiệt đới. Sân bay này sẽ đón được đến 5 triệu hành khách/năm.  
Tuy vậy, phải nói công trình qui mô mang tên “công trình thế kỷ”là công cuộc giải tỏa và xây mới kênh Thị Nghè – Nhiêu Lộc, vì nó liên quan đến một triệu người sinh sống trên địa bàn 7 quận nội thành (vốn là những người dân cư ngụ trên kênh rạch ô nhiễm có thu nhập thấp nhất). Tuy vậy, muốn khai thông dòng chảy, đang phải xây dựng hệ thống cống ngầm dưới lòng kênh khá tốn kém. 

Khu Hồ Bán Nguyệt, Phú Mỹ Hưng
Sôi động nhất là nhà phố mọc lên khắp nơi trên các khu đất chia lô. Cùng với kinh tế mở cửa, nhà ống chia lô (nhà phố liền vách) xây dựng hỗn loạn và chiếm vị trí độc tôn. Mô hình này thật sự nghèo nàn, tụt hậu có lẽ cần được xem xét lại nếu muốn tạo được các không gian đô thị đồng nhất và hài hòa. 
Chung cư luôn là thế mạnh của thành phố, nay đa dạng và đa năng hơn. Nếu các chung cư mới xây cất dọc theo kênh Thị Nghè chưa đẹp và chất lượng xấu thì các khu chung cư mới thay thế các khu phố lụp xụp trên các đường Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trãi đáng được ca ngợi. Nhà ở cao tầng tại Nam Sài Gòn, khu trung tâm Sài Gòn, Chợ Lớn phải nói là mẫu mực về chung cư hiện đại quốc tế. 
Các năm qua, thành phố chọn các phương án của nhiều công ty tư vấn quy hoạch đô thị quốc tế như Sasaki, Nikken Sekkei, Deso…   nhằm xây dựng trung tâm TP.HCM mở rộng, đặc biệt là trên khu đất 770 ha của bán đảo Thủ Thiêm thành công trình mang “dấu ấn thế kỷ”. Thủ Thiêm là một công trình kiến trúc-đô thị qui mô lớn, nhiều tham vọng khác của thành phố, tập trung các khu kinh doanh, nhà ở, quảng trường, vui chơi giải trí, du lịch nghỉ dưỡng mang tính đô thị châu thổ, được nối liền với trung tâm Sài Gòn cũ và vành đai bằng 5 cây cầu, một đường hầm.    
Công trình công thương nghiệp tuy ít được nhắc đến khi nói về bộ mặt kiến trúc, nhưng chúng làm nên sức mạnh của thành phố. Hiện nay thành phố có hàng chục khu công nghiệp và chế xuất mới (Tân Thuận, Linh Trung, Tân Tạo).Cảng thành phố dự kiến di dời xuống Nhà Bè, sử dụng cùng cảng Thị Vải ở Vũng Tàu, sẽ giải tỏa bớt việc vận chuyển xuyên qua thành phố từng gây ách tắc giao thông ở khu Khánh Hội. Thị trường chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam cũng xuất hiện ở đây cùng các trung tâm tài chính – dịch vụ khác ở đại lộ Hàm Nghi, Bến Chương Dương, Nguyễn Huệ. Các siêu thị qui mô lớn buôn bán tấp nập là một bộ mặt mới của Thành phố hôm nay.  

Các công trình mới xuất hiện trên bờ sông Sài Gòn 
Trông xa  
Tuy vậy, phải chăng TP.HCM rồi cũng giống một số thành phố của các nước đang phát triển với các đặc trưng cơ bản:  
– Hình thành quá nhanh quần cư đô thị lớn;
– Thành phố hạt nhân quá tải trong một vùng đô thị tập trung với mặt bằng dân trí còn thấp;  
– Sự phồn vinh của thành phố lớn thu hút dân nhập cư nông thôn, tạo ra những khu định cư tự phát, nghèo nàn. Có sự đối lập rõ nét giữa những cao ốc, khu ở sang trọng và các xóm ổ chuột;
– Tạo sự gián đoạn đột ngột giữa không gian đô thị nhà cao tầng, nhà máy với vùng nông thôn về mặt cảnh quan đô thị;
– Xuất hiện sự hụt hẫng tâm lý rõ rệt giữa nông thôn – thành thị, hố ngăn cách giàu nghèo quá lớn, môi trường xã hội xấu đi;
– Ô nhiễm, ách tắc giao thông ngày càng trầm trọng, di sản kiến trúc, cảnh quan tự nhiên mất dần…
Trước mắt, TP.HCM đang có nguy cơ biến thành một thành phố cực lớn với nhiều mặt tiêu cực. Với cái đà phát triển tự phát, hỗn đỗn như hiện nay, chẳng mấy chốc sẽ kết hợp cùng các thành phố khác biến thành một vùng đô thị hóa bao la qui tụ một số dân khổng lồ. Vùng TP.HCM có thể trở thành một siêu đô thị trên 10 triệu người, trong khi cơ sở hạ tầng chưa chuẩn bị được gì nhiều cho sự tăng trưởng mất cân đối đáng ngại đó.
Ta có thể nhìn thấy các tệ nạn của dạng siêu đô thị mất cân đối kiểu đó, như Dacca, Calcutta, Bombay, Manila, Jakarta, Bangkok… Xây cất hỗn độn, tràn lan các khu ổ chuột, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm nhiều mặt, phân cách giàu nghèo quá lớn… đã là những căn bệnh trầm kha, chưa có biện pháp giải quyết. 
Điều còn rất yếu kém của TP.HCM là ở khâu quản lý đô thị. Luật lệ, qui định chưa rõ ràng, lại không được thi hành nghiêm chỉnh đã tạo ra không ít sự bất cẩn hỗn loạn trong phát triển, xây dựng. Các văn bản pháp lý, quản lý đô thị cả trong phát triển kinh tế lẫn quy hoạch – kiến trúc cần sớm được soạn thảo, ban hành và phổ biến trong cư dân thì mới mong tái lập lại trật tự trong đời sống và xây dựng của Thành phố. 
Hội nhập và phát triển bền vững là hai vế không thể tách rời cho TP.HCM hướng về tương lai.Có lẽ, đó cũng là điểm mấu chốt nhất khi đánh giá, nhìn nhận sự phát triển của kiến trúc qui hoạch đô thị TP Hồ Chí Minh trong 30 năm qua. Một cách lạc quan, xin được mượn lời của KTS Pháp Tainturier để làm lời kết cho bài viết này: "Tất cả (những biến chuyển đó) đã để lại dấu ấn trên một thành phố mà tính năng động của nó luôn là một bản “quy hoạch tổng thể” hiệu quả nhất".  
 
KTS Nguyễn Hữu Thái