Kiến trúc sư Hà Nội và những giải pháp làm đẹp Thủ đô

Hai mươi năm đồng hành với những giai đoạn phát triển của Thủ đô, nhiều thế hệ KTS của Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội đã đóng góp nhiều ý tưởng, tâm huyết cới từng đồ án quy hoạch, từng công trình kiến trúc của Thành phố. Gặp gỡ các KTS tại Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội hôm nay, các anh đã chia sẻ những ý kiến, nhiều góc nhìn, và những giải pháp để Hà Nội trong tương lai thực sự trở thành đô thị "Xanh – Văn hiến – Văn minh – Hiện đại". Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
KTS Lê Thúy Nga
Phòng Quy hoạch kiến trúc 2 – Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội 
“Phát triển khu vực nội đô cần chú trọng gìn giữ các giá trị truyền thống của Hà Nội…”
Thực tiễn giá trị phố cổ đang bị mai một, đất đai nhà cửa ngày một phát triển theo nhu cầu của xã hội. Với Khu phố cũ, các công trình trong danh mục nhà biệt thự thì ứng xử như thế nào trong khi quy chế quản lý quỹ biệt thự còn chưa được ban hành? Đối với các công trình hạ tầng xã hội, quỹ đất hạn hẹp, không thu gom; chính quyền địa phương chưa quan tâm đến quỹ đất và quỹ nhà để đầu tư phát triển mở rộng đối với các công trình hạ tầng an sinh xã hội. Về quản lý, nếu tuân thủ Quy chuẩn, quy phạm thì sẽ không tạo điều  kiện với người dân, nếu đáp ứng tạo điều kiện thì không đảm bảo lâu dài về chất lượng.
Trong khu phố cũ, nhà cao tầng bị hạn chế, bị cản trở bởi những khu vực tiếp giáp phố cổ, tại các tuyến đường xuyên tâm, một số điểm có thể xem xét để tạo điểm nhấn cảnh quan kiến trúc đô thị thì lại chất tải lên hạ tầng kỹ thuật. Đây cũng là vấn đề thách thức trong việc chưa đồng bộ về quy hoạch kiến trúc và hạ tầng. 
Cảnh quan sông hồ chưa đạt chất lượng, tổng thể thoát nước vẫn chưa được giải quyết đồng bộ. Giải pháp về quy hoạch hạ tầng là hết sức nan giải. 
Các công trình di tích có giá trị về kiến trúc, văn hóa, lịch sử cũng bị lấn chiếm nhiều, việc phục hồi bảo tồn tôn tạo cần kinh phí lớn.
Như vậy, đối với những khó khăn và thách thức trên, giải pháp được đề xuất là:
– Cần phải bảo tồn và phát huy hệ thống các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan.  
– Khoanh vùng di tích, di sản đô thị, tạo lập các không gian đệm bảo vệ, hình thành hệ thống giao thông cảnh quan để đảm bảo tiếp cận được với thuận lợi và hấp dẫn về cảnh quan.
– Xây dựng cơ chế, chính sách tạo nguồn lực đầu tư cho các không gian, công trình cần bảo tồn và phát huy giá trị.
– Cần có cơ chế, chính sách nhằm giảm tải, khắc phục sự mất cân đối giữa dân số và hạ tầng, quyết tâm giảm quy mô dân số xuống còn 80 vạn dân tại khu vực nội đô lịch sử.
– Di dời các cơ sở công nghiệp, trụ sở cơ quan, trường đại học, cơ sở y tế gây ô nhiễm ra khỏi khu vực nội đô và thay thế bằng các chức năng khác trên cơ sở ưu tiên phục vụ công cộng như: vườn hoa, cây xanh, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội như nhà trẻ, trường học, trạm y tế, bãi đỗ xe…
– Cải tạo xây dựng lại các khu tập thể, chung cư cũ, đảm bảo tuân thủ theo quy định góp phần cải tạo không gian kiến trúc cảnh quan và theo hướng giảm dân số và mật độ xây dựng, tăng cường các tiện ích xã hội và hạ tầng kỹ thuật. 
KTS TRẦN QUANG TUYÊN 
Trưởng phòng Quy hoạch kiến trúc 5  
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội.
“Tiêu chí bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa phải đặt lên hàng đầu trong công tác quy hoạch Hà Nội”
Công tác bảo tồn di sản của Hà Nội, ngoài nhiệm vụ đặc biệt đối với khu nội đô lịch sử, cần phải quan tâm triển khai công tác bảo tồn và phát huy các di sản kiến trúc ngoại thành Hà Nội – nơi lưu giữ hệ thống di sản văn hóa vật thể đồ sộ cần bảo tồn, đó là những làng cổ ven đô, làng nghề truyền thống, thành cổ, những công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng, các kiến trúc tiêu biểu …và cả hệ sinh thái cảnh quan đặc trưng với nhiều sông hồ, cây xanh gắn với vùng sinh thái nông nghiệp.
Một vùng nông thôn bình yên của làng cổ Đường Lâm
Bên cạnh đó là những giá trị văn hóa phi vật thể: lối sống, phong tục tập quán, nghề truyền thống… được người Hà Nội đúc kết, lưu truyền từ ngàn năm. Công tác bảo tồn di sản khu vực ngoại thành Hà Nội cần tập trung làm tốt những nội dung sau:
– Nghiêm cấm các hoạt động xâm hại, phá hủy và lấn chiếm hành lang bảo vệ của các di tích có giá trị lịch sử, văn hóa. Các hoạt động trùng tu tôn tạo di tích  phải cẩn trọng, tuân thủ Luật Di sản, Luật Xây dựng. Áp dụng các nguyên tắc của Hiến chương quốc tế một cách linh hoạt trong công tác bảo tồn, quản lý di sản, di tích. Nâng cấp cảnh quan khuôn viên xung quanh các điểm di tích, tạo thành các khoảng mở xanh.
– Khi thực hiện việc quy hoạch bảo tồn cụm di tích hoặc các di tích đơn lẻ của cụm di tích, bắt buộc phải có các phân tích trong mối tương quan tổng thể về quy hoạch, về đặc trưng phong cánh kiến trúc của địa phương. Yếu tố cảnh quan, hạ tầng chung phải được đặt lên hàng đầu trong các đề xuất quy hoạch bảo tồn không gian tổng thể.
– Bảo tồn cảnh quan tự nhiên, các vùng cảnh quan sinh thái đặc biệt quan trọng như: Vườn Quốc gia Ba Vì, Hồ Đồng Mô, Hồ Suối Hai, Hương Sơn, Khu thiên nhiên bán sơn địa vùng Sơn Tây, Vùng sinh thái tự nhiên ven sông Hồng, sông Đáy… Thiết lập đồ án quy hoạch xây dựng cho các quỹ đất ven sông (cải tạo và phát triển đô thị ven sông, xây dựng công viên vui chơi giải trí, quy hoạch đường ven sông…). Xây dựng quy chế quản lý xây dựng và khai thác du lịch cho từng vùng sinh thái lớn. Kiên quyết dừng ngay các hoạt động khai thác vật liệu xây dựng xâm hại đến cảnh quan môi trường tự nhiên. Đối với những di tích nằm ven các dòng sông, cần có giải pháp quy hoạch tổng thể tạo chuỗi các di tích được kết nối bằng các khoảng mở cây xanh. Khai thác giao thông thuỷ hình thành tuyến du lịch bằng đường sông.
– Làng và làng nghề truyền thống: Bảo tồn cấu trúc làng, các giá trị văn hóa, đặc biệt đối với các làng có nhiều giá trị về văn hóa như làng cổ Đường Lâm, Bát Tràng, Vạn Phúc…. nghiêm cấm xây dựng nhà ở lô phố, cao tầng trong khu vực bảo tồn; khuyến khích xây dựng các loại nhà nông thôn truyền thống; hỗ trợ các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong làng nghề, tạo mối liên kết về cảnh quan, kết nối hệ thống di tích của làng với vùng cảnh quan lân cận.
– Tiếp tục khảo sát các di tích đơn lẻ khác và xây dựng danh mục công trình, cụm công trình di tích để đánh giá, xếp hạng và có kế hoạch bảo tồn. Các cụm công trình có giá trị về văn hóa lịch sử như: Chùa Thầy, chùa Tây Phương, Đình Thụy Phiêu, Tây Đằng, Chu Quyến… Tiếp tục nâng cấp bảo tồn di tích, khoanh vùng bảo vệ và kiểm soát các hoạt động xây dựng khu vực xung quanh di tích, loại bỏ các kiến trúc ảnh hưởng đến cảnh quan di tích. Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền rà soát, bổ sung hồ sơ khoanh vùng bảo vệ (Khu vực 1 và khu vực 2) đối với các di tích lịch sử phục vụ tốt công tác quản lý di tích.
KTS CHU TUẤN LONG 
Trưởng phòng Quy hoạch Kiến trúc 4
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
“Phát triển nông thôn mới phải bảo tồn được các làng nghề truyền thống của Hà Nội”
Sự phát triển làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay còn tồn tại nhiều điểm bất cập: Hầu hết các làng nghề phát triển theo hướng tự phát, quy mô sản xuất nhỏ lẻ dưới dạng hộ gia đình, chưa được đầu tư nhiều về công nghệ, dẫn đến năng suất, chất lượng  sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh thấp… Việc bảo tồn văn hoá truyền thống của sản phẩm làng nghề chưa được chú trọng. Do phát triển phân tán, làng nghề gặp nhiều khó khăn, bị động trong nguồn cung nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, thiếu trung tâm trưng bày và giới thiệu sản phẩm, thiếu đầu tư cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất chật hẹp xen lẫn với không gian sinh hoạt… dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường cao, chất lượng an toàn lao động không đảm bảo. 
QHC Thủ đô Hà Nội đã xác lập những định hướng để giải quyết những vấn đề trên, đó không chỉ là quá trình đô thị hoá, tạo dựng quĩ di sản đô thị phong phú, mà còn xác lập mối quan hệ hữu cơ giữa phần nông thôn và đô thị. Trong đó, đặc biệt quan trọng là vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống. 
Làng nghề truyền thống Hà Nội không đơn thuần gắn với nông nghiệp sinh thái mà còn gắn với đô thị, với vai trò, vị trí phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của Thủ đô, tạo thành khái niệm “làng nghề truyền thống phát triển trong môi trường nông thôn mới văn hóa – sinh thái”.
Để làm rõ vấn đề này, cần xét đến những yếu tố chung trong quy hoạch, tác động đến định hướng bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống như sau: 
1- Nông nghiệp và làng nghề truyền thống phải hướng tới bảo tồn giá trị văn hoá: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư­, đơn vị kinh tế xã hội, là môi trường văn hoá, đơn vị xã hội cơ sở. Làng là một đơn vị cơ bản bao gồm nhiều thành tố: đan xen, hoà quyện gắn bó chặt chẽ tạo thành một không gian thực thể chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống như­: Hệ thống các công trình công cộng mang tính truyền thống, lịch sử, văn hoá, tôn giáo, tín ng­ưỡng – những giá trị văn hoá vật thể; Nhà ở kết hợp với xưởng sản xuất trong làng nghề; đường làng, ngõ xóm, ao làng, cây đa, bến nước… Đây là những yếu tố nội lực sẵn có trong phần lớn làng nghề truyền thống cần nghiên cứu phát triển.
2- Phát triển nông thôn mới phải hướng tới bảo tồn Làng nghề truyền thống: Đô thị hoá ở Hà Nội là quá trình giao tiếp giữa các yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh của văn hoá làng. Vì vậy, không gian kiến trúc làng nghề truyền thống trong quá trình biến đổi chứa đựng cả ba nhân tố: truyền thống, sự đan xen, sự đổi mới. Như­ vậy, trong quá trình hiện đại hoá các làng xóm ngoại thành cần có “môi tr­ường đô thị hoá”. Đây là môi trường tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi của con ng­ười, lao động, nghề nghiệp, văn hoá và lối sống đô thị tác động vào cấu trúc không gian làng. Xét về mặt kinh tế – kỹ thuật, đây là môi trường thư­ơng mại, chuyển giao giữa công nghệ hiện đại với kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cổ truyền. Xét về văn hoá, đây là môi trư­ờng giao lư­u giữa văn hoá truyền thống và hiện đại. Môi trường mang tính chất là không gian chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn này cần được gìn giữ đặc biêt.
3- Bảo tồn Làng nghề truyền thống phải hướng tới phát triển bền vững: Quá trình đô thị hoá có sự tác động làm biến đổi cấu trúc hệ thống làng. Làng truyền thống vốn là cấu trúc cân bằng động vừa hướng nội, vừa hướng ngoại. Khi một trong các thành phần không gian trong cấu trúc này đáp ứng thiên lệch cho một nhu cầu mới nào đó sẽ làm ảnh hư­ởng lấn át các thành phần không gian khác. Như vậy, mối quan hệ cân bằng sẽ bị phá vỡ, tạo ra mâu thuẫn. Giải quyết được mâu thuẫn này chính là làm cho cấu trúc không gian làng phát triển (hiện đại hoá) đồng thời giữ gìn được các giá trị truyền thống vốn có trong môi trường văn hoá làng. Để cho các làng truyền thống ngoại thành trong quá trình đô thị hoá ở Hà Nội đến năm 2030 sẽ trở thành một cộng đồng dân cư­ truyền thống đổi mới hiện đại  rất cần phải nghiên cứu về chúng như­ một thực thể có ảnh hư­ởng quan trọng tới chất lượng quy hoạch Thủ đô. 
Hà Nội mới chỉ được đặt tên từ năm 1831 nhưng quỹ di sản làng nghề trên mảnh đất truyền thống này không phải địa phương nào cũng có. Bởi vậy, khi định hướng quy hoạch chung Hà Nội được hiện thực hóa, Thủ đô Hà Nội phải tạo được sự hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, đặc biệt với các làng nghề truyền thống đã và đang tạo nên  bản sắc của Thủ đô ngàn năm tuổi.
KTS NGUYỄN TOÀN THẮNG
Phòng Kế hoạch tổng hợp
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
“Công tác lập Quy hoạch, quản lý quy hoạch phải được coi là tiền đề cho quản lý Xây dựng cơ bản…” 
Để công tác lập quy hoạch theo kế hoạch được triển khai được hiệu quả hơn đối với Hà Nội, chúng ta phải xác định công tác lập Quy hoạch, quản lý quy hoạch là tiền đề cho quản lý Xây dựng cơ bản, các giải  pháp đề ra được tập trung vào việc đẩy mạnh tiến độ, chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch như:
– Xác định các khu vực đô thị, nông thôn cần ưu tiên lập quy hoạch, lên kế hoạch thời gian triển khai cụ thể của từng đồ án theo từng giai đoạn.
– Tiếp tục có kế hoạch cụ thể phân công trách nhiệm các ngành, các cấp trong việc tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch. Phối hợp giữa các Sở, ban, ngành – quận, huyện, thị xã trong khâu hướng dẫn và thẩm định. Các Sở, ngành thường xuyên chủ động kiểm tra tiến độ, chất lượng của đồ án quy hoạch thuộc lĩnh vực Sở, ngành mình quản lý. 
– Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp và nâng cao chất lượng quản lý cấp Quận, huyện, thị xã: Thực hiện chủ trương tăng cường phân cấp mạnh trong công tác quản lý quy hoạch kiến trúc. Tiếp tục thực hiện chương trình giao ban tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương giữa các Sở ngành và UBND các quận, huyện, thị xã. 
– Tăng cường vai trò ”ba nhà” – quản lý nhà nước, tư vấn, địa phương – trong lập, thực hiện quy hoạch, kịp thời tháo gỡ vướng mắc. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, ưu tiên cho các dự án quy hoạch xây dựng đô thị mang tính chất cấp thiết xã hội, thông qua vai trò chủ trì của Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội, phối hợp với UBND các quận, huyện, các tư vấn để triển khai đồng bộ ngay từ giai đoạn lập quy hoạch, giảm thiểu thời gian nghiên cứu, thẩm định trình duyệt.
– Tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm của hội đồng thẩm định quy hoạch (QH phân khu, Quy hoạch chung) để góp ý cho các đồ án quy hoạch ngay từ khâu đầu lập quy hoạch. Lựa chọn tư vấn có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để thực hiện các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu…
– Đẩy nhanh việc huy động trí tuệ của các Hiệp Hội, các chuyên gia đầu ngành trong việc đóng góp ý kiến và tham gia thẩm định các đồ án quy hoạch, đặc biệt là ý kiến của Hội đồng Kiến trúc quy hoạch Thủ đô góp ý và đưa ra các giải pháp cho các khu vực đặc thù, các công  trình kiến trúc cụ thể tại các địa điểm quan trọng;
– Áp dụng công nghệ thông tin phục vụ cho các công tác quản lý quy hoạch đô thị và hạ tầng kỹ thuật với ứng dụng các công nghệ xử lý bản đồ và GIS gắn với chức năng quản lý các cấp; 
– Trong khi chưa phủ kín quy hoạch, khẩn trương lập các Quy chế, Thiết kế Đô thị cho các khu vực đặc thù, các tuyến phố, trục giao thông quan trọng, làm cơ sở cho việc quản lý quy hoạch kiến trúc.
– Đối với khu vực nông thôn mới, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động để nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư, tổ chức doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong việc huy động các nguồn lực xã hội tập trung đẩy mạnh công tác quy hoạch;
– Điều chỉnh và bổ sung cơ chế, chính sách về xây dựng nông thôn mới: đẩy nhanh việc rà soát, điều chỉnh các tiêu chí của đề án xây dựng Nông thôn mới; hướng dẫn cụ thể về kinh phí thực hiện công tác xây dựng nông thôn mới.
– Đẩy nhanh việc tổ chức công bố công khai các đồ án quy hoạch được phê duyệt dưới các hình thức: thông tin, tuyên truyền, hội nghị công bố quy hoạch, triển lãm, trưng bày…. bàn giao hồ sơ quy hoạch cho địa phương, kèm theo việc phổ biến công khai các thông tin quy hoạch được phê duyệt tới người dân, đi đôi với hướng dẫn thủ tục.
– Tăng cường tập huấn bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công chức các cấp ở địa phương làm công tác xây dựng, quản lý theo quy hoạch; Triển khai chương trình phối hợp đào tạo nhằm nâng cao trình độ, chất lượng cán bộ quản lý địa bàn các cấp bằng việc tiếp nhận cán bộ của Quận Huyện, Thị xã đề cử, biệt phái để được hướng dẫn trực tiếp nghiệp vụ quản lý….
KTS NGUYỄN NGỌC TÚ  
Trung tâm Nghiên cứu kiến trúc – Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
“Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội và định hướng kiến trúc xanh…”
Trong quá trình thẩm định các phương án kiến trúc, Sở khuyến khích các chủ đầu tư thiết kế theo hướng kiến trúc phù hợp khí hậu, tiết kiệm năng lượng, bền vững, thân thiện môi trường. Tuy nhiên,  ứng dụng công nghệ xanh mang lại nhiều lợi ích về mặt môi trường nhưng chi phí đầu tư ban đầu khá lớn. Điều này khiến các chủ đầu tư băn khoăn, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế khó khăn.. Việc thiết kế ứng dụng các giải pháp thụ động (passive strategies) được ưa chuộng hơn, do chi phí đầu tư về công nghệ không nhiều, mà tập trung vào giải pháp thiết kế. 
Để tạo điều kiện cho việc tạo nên những không gian sống xanh với chi phí thấp, nên chú trọng hơn nghiên cứu các giải pháp về thiết kế thụ động, ví dụ như tạo các bẫy gió tăng cường vai trò của thông gió tự nhiên, chú trọng thiết kế định vị không gian tổng thể và mặt bằng phù hợp khí hậu, các chi tiết liên quan đến khí hậu như tường, cửa sổ, ban công, lô-gia che nắng, các chi tiết chắn nắng…để giảm thiểu bức xạ nhiệt trực tiếp từ mặt trời, nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả sử dụng ánh sáng tự nhiên. Chủ đầu tư công trình cũng nên thay đổi thói quen của mình, sử dụng gạch chưng áp thay vì gạch nung truyền thống, chú ý thói quen sử dụng tiết kiệm điện…
Trong công tác thẩm định và kể cả định hướng ban đầu, Sở Quy hoạch – Kiến trúc luôn luôn hướng tới các quan điểm thiết kế theo định hướng kiến trúc xanh, với những công trình có tính đến giải pháp tiết kiệm năng lượng, đồng thời chất lượng kiến trúc tốt. Ngoài ra, Sở luôn sẵn sàng hướng dẫn các chủ đầu tư khi có yêu cầu về tổ chức không gian theo hướng xanh. Cần nhớ rằng, hầu hết các chủ đầu tư đều muốn đạt được tối đa các hiệu quả kinh tế, vì vậy việc tìm kiếm để các giải pháp yêu cầu kiến trúc xanh luôn đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực tìm tòi của người thiết kế….
KTS NGUYỄN PHÚ ĐỨC: 
Phòng Kế hoạch tổng hợp
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
Gìn giữ và phát huy các giá trị – bản sắc Hà Nội trong sự phát triển bền vững
Trên cơ sở các giá trị đặc thù của Hà Nội, trong Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2030 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011) đã xác định mục tiêu xây dựng Thủ đô thành đô thị “Xanh – Văn hiến – Văn minh và Hiện đại”. Tiêu chí này một phần đã khẳng định các giá trị đặc thù của Hà Nội cần bảo tồn (Xanh – Văn hiến) và phát huy ở tầm cao mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế (Văn minh – Hiện đại). Cụ thể các định hướng chính xây dựng Thủ đô Hà Nội:
Cấu trúc đô thị phát triển bền vững, đáp ứng các yêu cầu của một Thủ đô được mở rộng, phù hợp chiến lược phát triển Quốc gia; Thủ đô giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho cả nước; 
Tổng thể không gian phát triển năng động, hoà nhập, khai thác các giá trị tiềm năng của vùng địa lý cảnh quan tự nhiên, tiềm năng về tri thức – công nghệ và lịch sử văn hoá truyền thống; 
Đô thị đạt hiệu quả trong sử dụng đất đai và có hệ thống hạ tầng kĩ thuật đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững.
Các giải pháp để gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống của Hà Nội: 
Tiến hành đồng thời việc bảo tồn và phát triển: Để cụ thể hóa các  yêu cầu của Đồ án Quy hoạch chung, Hà Nội đã xây dựng Quy định quản lý với các quy định khung nhằm quản lý, kiểm soát phát triển, định hướng và kết nối không gian, xây dựng đồng bộ giữa việc cải tạo chỉnh trang khu đô thị cũ, làng xóm hiện hữu cũ và đầu tư xây dựng phát triển khu đô thị mới;
Nhanh chóng thiết lập Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc các khu vực có giá trị đặc thù của Hà Nội về kiến trúc, cảnh quan như: các Khu phố Cổ, phố Cũ, các khu vực mặt nước như hồ Tây, hồ Gươm.. với các quy định cụ thể và chế tài chặt chẽ nhằm gìn giữ, bảo tồn các giá trị khu vực; giảm tải dân số và kiểm soát xây dựng công trình mới, tiến hành di dời các cơ sở gây ô nhiễm, tập trung đông như nhà máy, bệnh viện, trường học… ra khỏi khu vực này nhằm giảm dân số và giảm chất tải lên cơ sở hạ tầng vốn đã yếu kém, xuống cấp; 
Tạo dựng các yếu tố mới theo hướng văn minh, bền vững:  xác lập và kiểm soát các vành đai xanh dọc các tuyến sông chính như sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy, sông Nhuệ… vừa góp phần tạo dựng cảnh quan, vừa cải tạo môi sinh, nâng cao chất lượng sống cho cư dân đô thị; Xây dựng các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái với đầy đủ chức năng và tiêu chuẩn quốc tế nhằm giãn bớt dân cư vào khu vực nội đô và xây dựng đặc thù riêng cho từng khu vực; Xây dựng các công trình kiến trúc hiện đại, tiêu biểu… 
KTS NGUYỄN TRỌNG KỲ ANH
Phó phòng Sở Quy hoạch Kiến trúc 4
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
“Quản lý kiến trúc quy hoạch Hà Nội cần được đặc biệt chú trọng” 
Quản lý kiến trúc đô thị Hà Nội không nằm ngoài những định hướng về xây dựng và phát triển một nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc: Xây dựng các công trình mới là để thoả mãn nhu cầu sử dụng – song phải đảm bảo phát triển trong môi trường bền vững, tôn trọng các di sản và cảnh quan thiên nhiên.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý kiến trúc đô thị, Hà Nội đã có nhiều cố gắng chặn đứng nguy cơ huỷ hoại di sản trước làn sóng đầu tư ào ạt vào khu vực trung tâm nội đô lịch sử Hà Nội với các giải pháp như: hạn chế xây dựng công trình cao tầng, gìn giữ các công trình biệt thự, công trình kiến trúc có giá trị, bảo vệ và phát huy giá trị các không gian cây xanh, mặt nước… Trước nhu cầu bức bách phải ưu tiên đầu tư để phát triển kinh tế, bên cạnh một số nhượng bộ cần thiết, chúng ta đã cố gắng quản lý được sự phát triển kiến trúc trong Thành phố ở tầm vĩ mô. Hà Nội vẫn giữ được cái “hồn” cơ bản của một Thủ đô ngàn năm văn hiến. Tuy nhiên, từng nơi, từng lúc chúng ta cũng chưa quản lý được chặt chẽ sự phát triển của kiến trúc đô thị nên cũng có những trường hợp đáng tiếc xảy ra.
Sự phát triển đô thị phải được quản lý, trong đó quản lý kiến trúc – quy hoạch có nội dung đặc biệt bởi vì nó xuyên suốt quá trình hình thành bộ mặt đô thị, đóng vai trò chính yếu ở khâu mở đầu – quy hoạch – và khâu cuối là tác động của con người vào cuộc sống, môi trường. Việc quản lý kiến trúc rất đa dạng nhưng cần quan tâm mấy vấn đề sau:
– Cần phải có cơ quan quản lý Nhà nước chuyên trách về lĩnh vực kiến trúc – quy hoạch, cơ quan này phải được tổ chức thành một hệ thống từ cấp Thành phố, cấp Quận, Huyện, Phường, Xã để có đủ năng lực chỉ đạo từ việc lập quy hoạch đến việc quản lý thực hiện xây dựng theo quy hoạch.
– Xây dựng và ban hành các Luật lệ cần thiết để làm cho việc xây dựng phải theo đúng quy hoạch, đúng Pháp luật. Quy chế quản lý quy hoạch – kiến trúc và thiết kế đô thị phải được xây dựng cùng với các cấp độ quy hoạch và phải được đảm bảo thực hiện trong từng đồ án, từng dự án đầu tư xây dựng. 
– Xây dựng chính quyền mạnh nhất là cấp Quận, Phường và phải có lực lượng giữ gìn giám sát việc xây dựng để có khả năng ngăn chặn những người cố tình vi phạm xây dựng không phép, trái phép.
– Phải có sự phối hợp giữa các ngành các cấp một cách chặt chẽ có trách nhiệm rõ ràng, không đổ lỗi cho nhau.
– Khái niệm đổi mới quản lý không chỉ là quản lý sản phẩm thiết kế mà còn đổi mới trong quản lý từ qui trình quy hoạch, qui trình thiết kế, phải quản lý đồng bộ từ xây dựng, giám sát, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm đến quản lý, khai thác sử dụng. Trong qui trình quản lý như trên, nếu để khập khiễng một khâu nào là đã tạo một lỗ hổng làm ảnh hưởng tới toàn bộ định hướng kiến trúc – quy hoạch.
THS.KTS. LÃ HỒNG SƠN 
Phó phòng Quản lý quy hoạch chung – Quy hoạch chuyên ngành
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
“Một số nhiệm vụ và giải pháp chính trong công tác lập và thẩm định Quy hoạch phân khu đô thị”
Hiện thực hóa Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được duyệt, Kế hoạch triển khai trong giai đoạn 2011÷2013, Hà Nội cần đẩy nhanh công tác lập, thẩm định, phê duyệt 38 đồ án Quy hoạch phân khu đô thị tại khu vực Đô thị trung tâm (gồm 06 khu vực lớn: Khu vực nội đô lịch sử; Khu vực nội đô mở rộng; Chuỗi đô thị phía Bắc sông Hồng; Chuỗi đô thị phía Đông đường vành đai 4; Hành lang dọc sông Hồng; Vành đai xanh sông Nhuệ và các nêm xanh), với dân số tính toán khoảng 4,6÷5,4 triệu người và diện tích đất xây dựng đô thị khoảng 55.200 ha. Các đồ án quy hoạch chung (đô thị vệ tinh, thị xã, thị trấn) đã được triển khai song song, làm cơ sở triển khai hoàn thành các đồ án quy hoạch phân khu tại đô thị vệ tinh (còn lại) trong giai đoạn 2013÷2015.
Để thực hiện thành công mục tiêu trên, Một số nhiệm vụ và giải pháp chính trong công tác lập và thẩm định QHPK đô thị, đó là: 
 Rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: 
–  Trong quá trình lập và thẩm định QHPK đô thị, đơn vị đầu mối thuộc Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã có nhiều đề xuất và kiến nghị với các cấp có thẩm quyền liên quan nhiều nội dung, đặc biệt là các vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ đối với Bộ Xây dựng.
– Thường xuyên tham gia nghiên cứu, góp ý đối với các Sở, ngành liên quan các loại hình quy hoạch trên địa bàn Thành phố: Rà soát, lồng ghép các loại hình quy hoạch trên cơ sở các tiêu chí và quy định của pháp luật về hệ thống quy hoạch; loại bỏ, tách nhập, chuẩn hệ thống quy hoạch đối với các loại hình dự án quy hoạch; xác định rõ các căn cứ lập quy hoạch trên cơ sở các nội dung quy hoạch đang tổ chức thực hiện triển khai và nguồn lực triển khai.
– Chủ động nghiên cứu, tham mưu đề xuất với UBND Thành phố các khu vực cần ưu tiên triển khai sớm các loại hình quy hoạch, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và phát triển đô thị theo từng giai đoạn.
Tăng cường phối hợp giữa các bên tham gia:
– Trong công tác lập và thẩm định QHPK đô thị, Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã tập trung vào công tác xây dựng, ban hành các quy chế phối hợp, các quy trình và nội dung thẩm định để áp dụng thống nhất tại nội bộ Sở Quy hoạch – Kiến trúc, đồng thời phổ biến đến các đơn vị liên quan nhằm góp phần nâng cao chất lượng các đồ án quy hoạch, đảm bảo tính khớp nối đồng bộ. Chủ động hướng dẫn đơn vị tư vấn trong suốt quá trình lập, thẩm định QHPK đô thị.
– Chủ động lập và thực hiện kế hoạch giao ban thường xuyên giữa các bên tham gia chủ chốt (Sở, ngành – Quận/huyện/thị – Đơn vị tư vấn) nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc đối với các đồ án quy hoạch/dự án đầu tư, đảm bảo tính đồng bộ trong công tác quản lý quy hoạch – kiến trúc, phù hợp với định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được duyệt. Giải quyết các bất cập, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên địa bàn Quận/Huyện/Thị phù hợp với các QHPK đô thị đang nghiên cứu và tình hình thực tiễn tại địa phương.
– Hội đồng thẩm định quy hoạch phân khu đô thị Thành phố Hà Nội đã hoạt động thường xuyên, tổ chức góp ý thẩm định có chất lượng và hiệu quả đối với các đồ án QHPK đô thị. 
– Đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình lập, thẩm định: 
– Xây dựng quy chế nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp công tác giữa Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai cụ thể hóa Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội.
 Nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ lập và thẩm định:
– Căn cứ Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được duyệt, các đồ án QHPK đô thị và các dự án đầu tư trước hết phải xác định nguyên tắc đảm bảo phù hợp với các nội dung và yêu cầu của QHC xây dựng Thủ đô quy định. Các điểm còn tồn tại của QHPK đô thị (so với với QHC) cần phải được rà soát, tổng hợp về chuyên môn nghiệp vụ, báo cáo UBND Thành phố và Bộ Xây dựng xem xét, chỉ đạo theo đúng thẩm quyền và quy trình, quy định.
– Từng bước nâng cao chất lượng các đồ án QHPK đô thị, với các giải pháp cụ thể là:
+ Quan tâm thích đáng đối với các khu vực làng xóm, dân cư hiện hữu. Hỗ trợ, bổ sung các chức năng hạ tầng đô thị (giao thông, trường học, văn hóa, cây xanh..); Bảo tồn và phát huy các giá trị không gian làng xóm truyền thống và các di tích, quan tâm dành quỹ đất tạo “Không gian đệm” nhằm xử lý tốt các vấn đề phát sinh giữa các khu vực cải tạo chỉnh trang với các khu vực phát triển mới trong quá trình phát triển đô thị.
+ Tổng hợp, rà soát, đánh giá, phân loại các đồ án quy hoạch và dự án đầu tư trong phạm vi nghiên cứu; Đề xuất quy định quản lý, quy chế khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất; Đề xuất giải pháp kết nối về không gian kiến trúc cảnh quan của QHPK đô thị với các QHPK đô thị xung quanh.
+ Khai thác và xử lý tốt các điều kiện địa hình địa lý tự nhiên (làng xóm dân cư hiện có, sông hồ, cây xanh, cao độ tự nhiên,…) nhằm tạo nét riêng biệt cần thiết của từng đồ án QHPK đô thị tại mỗi khu vực. 
+ Xác định cụ thể các trung tâm công cộng chính, kể cả các trụ sở quận/huyện/thị xã và thị trấn/xã/phường (hiện có và dự kiến mới) trong các QHPK đô thị, tạo điểm nhấn kết hợp không gian mở, tăng cường bằng thiết kế đô thị và các quy định quản lý chặt chẽ.
+ Các vấn đề về hạ tầng kỹ thuật phải được khớp nối giữa trong và ngoài khu vực nghiên cứu QHPK đô thị. 
+ Đồ án QHPK đô thị cần quan tâm tổ chức các cơ sở tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao động tại địa phương, tính toán cân đối với dân số được bố trí mới trong các phân khu đô thị. Cập nhật các dự án đã được Chính quyền địa phương cho phép triển khai, đặc biệt là các dự án dân sinh bức xúc, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật.
+ Tại một số đồ án QHPK đô thị (ít có điều kiện thuận lợi) có thể áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng ở mức cao hoặc tốt hơn hẳn quy định hiện hành để tạo nên những khu vực đô thị có sức cạnh tranh, có điều kiện sống tốt, tạo nên sức hấp dẫn riêng.
– Khớp nối QHPK đô thị với các quy hoạch xây dựng nông thôn mới (trong khu vực đô thị), cụ thể là:
+ Việc triển khai các quy hoạch xây dựng xã (theo tiêu chí nông thôn mới) cần nghiên cứu, đề xuất phân kỳ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sản xuất và chức năng quy hoạch khác phù hợp với quy luật và quá trình phát triển đô thị, phù hợp với QHPK đô thị.
+ Khu vực xã tiếp giáp đô thị – nông thôn cần đề xuất các giải pháp phân đợt xây dựng khả thi theo giai đoạn và theo các dự án ưu tiên tạo nguồn lực. Tránh hiện tượng đô thị xây dựng manh mún và chắp vá gây khó khăn cho công tác quản lý quy hoạch – kiến trúc.
– Quản lý về quy hoạch – kiến trúc tại các QHPK đô thị được duyệt: 
Đối với các QHPK đô thị được duyệt trên địa bàn thành phố Hà Nội, tiếp tục nghiên cứu và đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý quy hoạch – kiến trúc: Trên nguyên tắc đảm bảo quản lý có tính hệ thống đồng bộ, đáp ứng mục tiêu quản lý đối với từng khu vực và phù hợp với trình độ năng lực của địa phương theo từng giai đoạn.