Kiến trúc thời kỳ 2010 – 2015 Dưới con mắt nhà Phê bình

2010-2015 là một chặng đường, thời điểm hết sức đặc biệt. Đây có thể coi là thời kỳ bùng nổ bậc nhất trong lịch sử đô thị hóa với sự phát triển đột phá và rồi nhanh chóng suy tàn đến chóng mặt của thị trường Bất động sản.

Cầu Rồng - Đà Nẵng
Cầu Rồng – Đà Nẵng

Những cuộc đổi thay chóng mặt ấy được manh nha từ những năm 2005, 2006 nhưng mạnh mẽ nhất là từ thời điểm mở rộng địa giới hành chính Hà Nội. Thành phố mới với hơn 3.000km2 bỗng trở nên sôi động, nhộn nhịp nhờ hơn 700 dự án phát triển bất động sản thương mại được gọi là “ thị mới”- chưa bao giờ nhiều, rộng khắp và mạnh mẽ đến thế, cơn sốt Bất động sản được khởi động từ các Thành phố lớn Hà Nội và TP HCM, Đà Nẵng rồi sau đó là hàng loạt các đô thị khác, thậm chí cả chuỗi các vùng thâm cùng xa xôi, biên giới, vùng còn khó khăn… Những lo ngại mơ hồ của 10 năm trước đã trở thành tai họa hiện hữu. Đến lúc này, những cái được, mất hiển hiện và phát huy, bộc lộ ra với xã hội, những thấm thía, tác động rõ ràng tới từng gia đình, từng giới, đặc biệt là giới kiến trúc. Đó không còn chỉ là cảm nhận về kiến trúc và đô thị.

Trong công cuộc “phát triển hừng hực” đó, rõ ràng giới kiến trúc đã đóng góp rất nhiều cả ở hai phía “nhân” và “quả”. Bởi muốn hay không thì họ là những người đặt bút vẽ cho các dự án, hình thành ý tưởng từ đầu tư. Ý tưởng cho tới kiến tạo nó trở thành những thực thể, rồi các hoạt động đầu tư phía sau đã có những tác động tích cực và tiêu cực đối với xã hội. Tuy nhiên, trong một cuộc chơi lớn, một cơ hội lớn, giới kiến trúc có thể nhìn lại và tự hào về điều gì, hay chỉ có cảm giác băn khoăn?
Ấn tượng đầu tiên, cái có thể thấy rõ nhất, là về số lượng. Số lượng lớn đồ án ra đời trong thời kỳ này khá lớn với các công trình lớn có, nhỏ có đa dạng về loại hình, sinh động về công năng… Tác phẩm nhiều, tác giả cũng nhiều theo… chỉ trong một thời gian rất ngắn, với một khối lượng lớn với quy mô rộng khắp trải dài trên cả nước, tác động rõ nét lên nền kinh tế.

Ấn tượng thứ hai, có vẻ giới KTS đang có một cơ hội đổi đời, với những bước ngoặt lớn. Nhiều người thông qua sự đổi thay nhanh chóng của giai đoạn này đã thay đổi được vị trí, tên tuổi và thu nhập. Tất nhiên, quá trình đó cũng khiến họ thay đổi nhận thức để có thể vượt qua những thách thức đi kèm.
Nhưng, trong sự thay đổi đột ngột đó đã có bao nhiêu phần trăm lượng biến được thành chất. Tâm trạng chung là chưa có gì để tự hào về những đóng góp trong thời kỳ này. Có thể do thời gian quá ngắn, có thể do sự chuẩn bị còn gấp gáp, có thể do sự dễ dãi của xã hội. Hoặc cả ba. Cho nên, không hiếm tác giả đã phải cảm thấy hối tiếc khi vừa cho ra đời các tác phẩm kiến trúc. Phải nói là rất ít người dám tự hào về những gì làm được trong thời kỳ này.

Tất nhiên cũng có một vài giải thưởng quốc tế lẫn quốc nội đã được trao. Giới chuyên môn có thể đưa ra những đánh giá hàng năm hoặc 2 năm một lần. Những công trình đã xây dựng, những công trình lý luận đã được in, những “được” và “chưa được” đã được phân tích… Nhưng tất cả có giúp cho nền kiến trúc nước nhà “tiến hóa”? Câu trả lời cũng đang còn bỏ ngỏ.

Bảo tàng Chến thắng Điện Biên Phủ (đang thi công) - KTS Nguyễn Tiến Thuận
Bảo tàng Chến thắng Điện Biên Phủ (đang thi công) – KTS Nguyễn Tiến Thuận

Nhiều công trình ra đời phản ánh sự phát triển kinh tế. Khi cuộc sống xa hoa hơn thì kiến trúc hào nhoáng hơn, tác phẩm có nhiều cơ hội để thể hiện theo cách vượt lên thực tại hơn, đẹp hơn như những khu resort, nghỉ dưỡng, những khu biệt thự ở vị trí không gian được xây dựng cầu kỳ với giá thành cao… KTS có cơ hội thể hiện mình, trải nghiệm sự sáng tạo, từ những công trình lớn nhỏ với tiểu cảnh, cảnh quan kiến trúc, sân vườn, nội thất với những tìm tòi, tô điểm cho cuộc sống.

Thứ dễ nhìn thấy nhất là sự thay đổi của những khuôn mặt đô thị. Sự thay đổi về kích thước, tính phô trương khi chau chuốt từng viên đá hay tấm kính, bó tre chồng lớp… Dường như có một bộ phận đang loay hoay với những sáng tạo nếu chưa đạt tới độ không tưởng thì cũng nỗ lực vượt ra khỏi những mô hình bình thường, dễ nhận ở một vài cuộc đùa chơi hình khối có kích thước lớn, trong các công trình bẻ cong các cột ngay ở mặt đứng tòa nhà, đưa các hình khối lớn hơn vượt ra khỏi trọng tâm, hoặc đơn giản hơn là xắp xếp các khối bọc kính méo mó đứng bên cạnh nhau. Xu hướng này cố tạo sự cầu kỳ nhưng thiếu lý lẽ thuyết phục. Dù có cố gắng đến mấy cũng là cách bắt chước của những người bắt chước, chưa kể nó mang sự đối lập, trượt ra khỏi triết lí của người Việt Nam bằng những phương tiện vật chất tối thiểu để thể hiện tối đa những ý tưởng đẹp đẽ giàu ý nghĩa, với nét giản dị, an lạc, yêu sự đơn giản, thư thái, có sự chan hòa giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Nếu đối chiếu, lối kiến trúc dường như hướng đến sự khác lạ một cách chật vật, gân guốc nhưng kết quả không như mong đợi .

Một giả định là nếu có tìm đến những sáng tạo bứt phá – siêu thực thì các tác giả cũng rất cần phải chuẩn bị một cách tốt hơn về nền tảng văn hóa, nhất là khi đứng trên mảnh đất Việt Nam đầy sóng gió, đầy thách thức của thiên nhiên, của bối cảnh chính trị, xã hội, luôn luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Tất cả tạo nên lối sống của người Việt: luôn lạc quan và an lạc. Triết lý duy lý phải bám vào đó, được thể hiện trong các công trình kiến trúc cổ điển, những ngôi nhà nhỏ xinh nép vào những cái vốn có, tựa vào thiên nhiên để hình thành, để điểm xuyết chứ không thay đổi thiên nhiên. Tiếc là dường như triết lý đó đã bị xem nhẹ. Cùng lúc đó, dường như, cái bệnh “hiếu đại” đang được cổ vũ nơi nơi, nay thêm cái bệnh “hiếu lạ” đang được quảng bá và nhiều sản phẩm thay vì được ra đời bởi sự tìm kiếm, ngỡ đang tìm cái mới, thì bắt đầu đến một sự lầm lạc hơn là một sự tò mò. Cái mà người Việt đã làm rất là tốt, đã thành công và đã thành một niềm tự hào, trở thành một triết lý sống dường như bị xem nhẹ. Đã đến lúc giới kiến trúc cần nhìn nhận lại: Để lựa chọn các ý tưởng, giải pháp hiệu quả hơn thay vì theo đuổi những ý tưởng kỳ quoái hay tham vọng về những công trình quy mô quá lớn. thậm chí sa vào các công trình “duy mỹ” được ghép tên khác là “công trình xanh” hay ngộ nhận là “sinh thái”.

Song bên cạnh đó, rất cần nhắc đến những tác phẩm tượng đài của các KTS lớn tuổi vẫn rất thành công trong các công trình tưởng niệm tại Bắc Ninh, Nghĩa trang Điện Biên… Những tác phẩm đã đem lại những ấn tượng thị giác mạnh mẽ và thức tỉnh những giá trị Chân – Thiện – Mỹ
Bên cạnh những xu hướng siêu thực – khác lạ và duy mỹ, hướng phát triển chủ đạo của giai đoạn 5 năm vừa qua là kiến trúc thương mại hóa. Thương mại hóa trong kiến trúc không xấu. Một tác phẩm kiến trúc cần có cả phần lợi nhuận và mối quan tâm thương mại. Nhưng nếu quá đeo đuổi phần thương mại mà xem nhẹ các yếu tố khác, thì mới chỉ giải quyết được vấn đề của một phía. Từ vai trò chuyên môn, có tiếng nói nghề nghiệp, không ít KTS bị chủ đầu tư lấn lướt, người làm nghề kiến trúc một cách nghiệp dư trong các dự án kiến trúc thương mại. Có thể thấy điều này trong rất nhiều khu đô thị, khu nghỉ dưỡng, từ công trình nhỏ tới lớn. Khi KTS không thể nói lên quan điểm của mình, thì những tác phẩm sẽ bị tầm thường hóa. Những cái chợ hào nhoáng không có người vào bán mua, những khu đô thị thiếu người ở – đôi khi hoang phế, những khu công nghiệp chưa từng hoạt động hay khai thác cầm chừng – từng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kinh tế địa phương, cuối cùng lại trở thành gánh nặng cho chính những địa phương là ví dụ điển hình. Từ những hi vọng, nhiều địa phương nóng vội phát triển khu công nghiệp lâm vào nợ nần vốn đầu tư, khu công nghiệp trống trơn đầy bất lợi về giao thông, năng lượng, lao động, thị trường… Vì thế những hệ quả tiêu cực của xu hướng thương mại cần được phân tích và tổng hợp, qua đó sẽ có cơ hội tránh được những sai lầm tương tự trong tương lai.

Giai đoạn 2010 – 2015 đánh dấu sự xuất hiện của rất nhiều công trình do tư vấn nước ngoài thực hiện, với kiến trúc nhập khẩu, những nhà cao tầng, những khách sạn… Những sản phẩm nhập khẩu này có giúp chúng ta hạnh phúc trong khung cảnh đô thị hơn hay không, cần phải có thời gian trả lời.
Thứ mà nền kiến trúc đang cần nhất, một xu hướng văn minh và tiến bộ nhất, lại thiếu vắng trong giai đoạn này. Đó là những kiến trúc có trách nhiệm với xã hội. Nó trùng khớp với xu hướng phát triển toàn cầu đang được nói đến gần đây, đó là phát triển bền vững, với những cân nhắc phát triển khu đô thị cân bằng năng lượng, nguồn nước, sinh thái học, tạo nên nơi chốn mang lại cơ hội công bằng cho tất cả mọi người. Đó là xu hướng tiến bộ nhất, thông minh nhất, đòi hỏi những nhà chuyên môn phải có những kiến thức tương ứng. Trong khi đó, chuyên môn sâu là thứ không phải nhiều người có được, trong khi các xu hướng, trào lưu thường được theo đuổi theo kiểu phong trào, chủ trương, nhằm gây dựng tên tuổi. Do đó, tình trạng chung là kiến trúc phát triển bền vững chưa đi được vào cuộc sống.

Trở lại với những năm 60-70 của thế kỷ trước, khi đất nước còn khó khăn, bản thân KTS cũng có cuộc sống rất khó khăn. Nhưng các KTS thời đó đã có thể tự hào vì đã kiến tạo nên nhiều tác phẩm có trách nhiệm với xã hội, một cách có ý thức và tự nhiên. Đó có thể là một bệnh viện cho người mù, với những hành lang được nghiên cứu kỹ càng, những lan can và những bậc thang mà người mù có thể đi lại không cần ai dắt. Đó có thể là những ngôi nhà dựng tạm cho công nhân trong điều kiện kinh phí hạn hẹp, không đòi hỏi phải tiện nghi, nhưng đảm bảo vệ sinh. Đó có thể là trường học với những khu vui chơi an toàn cho trẻ em. Người ta cũng có thể dựng lên những nhà văn hóa giản dị, nơi mà nhiều người mong đợi… Đó chính là những công trình có trách nhiệm với xã hội, nhờ những tính toán chi ly nhưng giàu lòng trắc ẩn
Quá khứ khó khăn đã có những xu hướng đáng trân trọng. Trong khi đó, thời kỳ 2010-2015, với biến động vật chất xã hội, đầu tư xây dựng dàn trải, lại thiếu vắng những kiến trúc có trách nhiệm xã hội… Giới chuyên môn, doanh nghiệp lại lạc lối bằng cách khích lệ những điều cổ quái, những sự việc tầm thường, những xu hướng thương mại. Ai điều chỉnh những thoái biến này. Đó chính là vai trò của nhận thức. Đang thiếu những bài viết có thể khiến giới kiến trúc được thức tỉnh, từ đó thay đổi nhận thức trong quá trình làm nghề, đưa ra những chuẩn mực để có thể trau dồi nhận thức đóng góp cho xã hội, và khiến bản thân trưởng thành hơn.

Những năm sau giải phóng, giới kiến trúc đã tham gia canh tân đô thị, bỏ đằng sau những đổ nát của chiến tranh để hướng tới tương lai. Đó là những năm tháng mà KTS thể hiện được niềm kiêu hãnh trong một hoàn cảnh rất ngặt nghèo, với những tác phẩm thực sự mang tính cột mốc và giá trị. Vấn đề hiện tại với giới kiến trúc, được học hành bài bản và có kinh nghiệm đối mặt với những thách thức, làm thế nào để có thể để lại dấu ấn cho nghề, cho xã hội? Có một chút gọi là hy vọng, tín hiệu vui. Là sau những biến động, gần đây, giới làm nghề đã thức tỉnh hơn và đã biết tập hợp để trở thành một lực lượng để có thể đẩy mình lên tầm cao hơn, với phương pháp chuyên nghiệp, khẳng định vị thế với thị trường bằng kiến thức, bằng sự tìm tòi mang tính chất chuyên môn.

Trong thời điểm này, cần có những sự can đảm đủ để chia sẻ những điều mà ai cũng biết kể trên để góp thành làn sóng, thay vì im lặng để những xu hướng tầm thường lấn át. Và khi mà làm truyền thông, quảng cáo hơi quá lên, thì trách nhiệm là ở những người làm nghề.

KTS. Trần Huy Ánh