Nhận dạng hiện trạng đô thị hoá ở Việt Nam:
Trong khoảng 10 năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước đã lên tiếng cảnh báo về sự bùng nổ dân số đô thị và hiện tượng đô thị hóa ở Việt Nam -đặc biệt, khi vấn đề này lan rộng ở quy mô toàn quốc, kể cả vùng sâu vùng xa, có thể trở thành vấn nạn ở tầm quốc gia nếu không quan tâm đúng mức. Trào lưu đô thị hoá kiểu này không dễ gì kiểm soát. Có thể phân tích nhận dạng hiện trạng đô thị hoá hôm nay và gợi mở một số ý kiến cho lối ra.
Đô thị hoá là hệ quả tự nhiên của công nghiệp hoá ở phương Tây.
W.Curtis, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về kiến trúc hiện đại thế kỷ XX đã khẳng định Quy luật của sự chuyển hoá thời kỳ hiện đại cho thấy đô thị là sản phẩm tất yếu của quá trình công nghiệp hoá. Nước Anh trước khi phát triển những thành phố hiện đại có 80 năm công nghiệp hoá, nước Mỹ có 50 năm và các “con rồng châu Á” là 30 năm.

Như vậy, gần 150 năm trước, trào lưu đô thị hoá bắt đầu ở phương Tây, lan sang Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX; ở châu Á là những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX. Đó đều là hệ quả tự nhiên của quá trình hiện đại hoá đất nước thông qua cuộc Cách mạng Công nghiệp. Trước đó nữa, sự chuyển biến các chức năng đô thị thời kỳ giao lưu hàng hoá, tiền tệ đã xuất hiện; hàng loạt nhà ga mới, hệ thống hạ tầng giao thông, điện nước; các phương thức xây dựng mới; vật liệu bê tông, sắt, thép với các chủ đầu tư mới đã làm thay đổi bộ mặt của đô thị và kiến trúc thế giới. Chỉ trong thế kỷ XX, các nước phát triển đã chuyển gần như 80, 90% dân số cư trú từ nông thôn sang đô thị, đưa số người sống trong đô thị hiện nay lên 50% dân số của trái đất (khoảng hơn 3 tỷ người chỉ trong một thế kỷ). Trong trào lưu đô thị hoá, không có điểm khởi đầu rõ ràng nhưng chính cuộc Cách mạng Công nghiệp đã chuyển hoá cả thành thị và nông thôn một cách sâu sắc và toàn diện. Các nước phát triển có cả hàng trăm năm để xây dựng nếp sống, văn minh đô thị. Họ có đô thị với những cư dân đã quen đi lại bằng các phương tiện công cộng, làm theo thời gian biểu của nhà máy, công xưởng. Họ dần quen với các chức năng chung và coi trọng các giá trị công ích của đô thị – vốn rất nhiều thành phần dành cho công cộng. Họ có văn hoá đô thị hình thành trong nhiều thế hệ.
Sự đảo ngược : Việt Nam, đô thị hoá xảy ra nhiều năm trước công nghiệp hoá.
Ít ai nhận ra rằng: ở Việt Nam, quá trình đô thị hoá xảy ra nhiều năm trước quá trình công nghiệp hoá, khiến cho các mô hình và tư duy đô thị gặp sự khủng hoảng lớn. Chưa kịp phân tích nguyên nhân do đâu dẫn tới hiện tượng này (có thể do sức ép nhà ở, làm giàu sau chiến tranh và giá quá hời do đầu cơ nhà đất chăng?) nhưng ai cũng nhận thấy: các đô thị Việt Nam càng phát triển càng bộc lộ các yếu kém, gây tác hại lâu dài. Công tác hoạch định đô thị chưa bao giờ là đối tượng quan tâm hàng đầu của quốc gia.

Chúng ta sẽ xem xét sự lệch pha không giống ai này tạo hậu quả gì cho đô thị Việt Nam về cảnh quan tự nhiên và cảnh quan văn hoá. Và, phải chăng đây là đặc điểm nhận dạng tương đối rõ nét để hiệu chỉnh các lý luận và chính sách đô thị ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn. Quy hoạch vốn là gốc của phát triển lại ngày càng xa rời nền tảng kinh tế – xã hội – dân cư để chạy theo tư duy của các nhà chính trị (Việc cấp tới gần 800 dự án chiếm đất từ vành đai 3-4 đã để lại bài toán không thể giải trong qui hoạch chung Thủ đô Hà Nội – là barie không thể vượt qua của qui hoạch này), khiến cho căn bệnh đô thị ngày càng trở nên nan giải. Các khu đô thị mới phát triển mạnh ở ngoại vi vốn là các dự án nhỏ lẻ, không đồng bộ. Không có việc làm tại chỗ, không trường học, bệnh viện, chợ búa và các trung tâm giao tiếp nên cư dân vẫn đổ vào các trung tâm cũ theo giao thông hướng tâm để đi làm, đi học và đi tới các khu dân cư khác. Điều này càng trở nên nan giải khi dòng người nhập cư không chính thức từ nông thôn ra thành phố ngày càng tăng trong diễn biến đô thị hoá toàn diện ở Việt Nam hiện nay.
Theo các số liệu của Hiệp hội đô thị Việt Nam tháng 9 năm 2006, các tổ chức quốc tế dự báo tỷ lệ đô thị hoá ở Việt Nam đến 2020 đạt 60% chứ không phải là 45% như trong chiến lược phát triển đô thị dự kiến. Theo kết quả điều tra dân số năm 2004-2008, mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu người nhập cư vào các thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh dân số là 7.109.251 người thì dân nhập cư chiếm 28,9 %, chưa kể số người nhập cư không chính thức. Còn theo TS. W. Frenner – Trưởng đại diện Viện Konrad – Adenouer tại Việt Nam “Đến năm 2020, dân số Việt Nam sẽ tăng khoảng hơn 100 triệu, trong đó 70% (tức là 70,84 triệu người) sẽ sống trong các đô thị. Họ sẽ cư trú và làm việc tại đâu, phân bố trong mạng lưới đô thị trung bình toàn quốc hay tập trung vào các thành phố lớn để hình thành các đô thị 20, 30 triệu dân như Sao Paolo và Mexico city ?”. Đây thật sự là thách thức lớn của thời đại.
Bộ mặt kiến trúc – đô thị.
Từ thời kinh tế thị trường năm 1985 đến nay, kiến trúc Việt Nam đã đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá rộng khắp, các dự án mọc lên như nấm. Các loại hình kiến trúc của thời kỳ này là: Kiến trúc công quyền, nhà chia lô, khách sạn, văn phòng, trung tâm thương mại, khu công nghiệp tập trung và các khu đô thị mới với chung cư cao tầng… phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí cả công năng các công trình thời kỳ này lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước (Hội thảo về “Phong cách Kiến trúc”-2008 của Hội KTSVN tổ chức, cho thấy sự lạc hậu của loại kiến trúc nhại cổ hãnh tiến này). Ở các khu đô thị lớn, do hệ quả của loại dự án cấp theo “quan hệ”, thành phố bị xé lẻ, băm nát thành những mảnh riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng cho vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “thành phố của dự án” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị thời nay. Thêm vào đó là sự thiếu vắng các trung tâm văn hóa, phục vụ công cộng – càng làm bức tranh kiến trúc thêm ảm đạm.

Sau năm 1985, giới KTS Việt Nam tỏ ra lúng túng trước quá nhiều ngả đường, thể hiện qua tính chất lai tạp Á – Âu, kim – cổ. Sau 25 năm đổi mới, kiến trúc sa vào chủ nghĩa hình thức lạc hậu và lãng phí. Nhiều hội chứng “kiến trúc Pháp”, “kiến trúc Thái”, “củ hành, củ tỏi”, mái úp, mái xoè, trang trí loè loạt… như các nước đang phát triển mắc phải : “Các kiến trúc tạp nham xa lạ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam một phần nào do những tầng lớp mới phất muốn tách bản thân họ ra khỏi những giá trị quê hương họ để chạy theo văn hoá tiêu dùng phương Tây. Họ ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, hợm hĩnh, dùng hàng nhái, hàng rởm để khẳng định vị trí riêng của họ. Tình trạng này giống như một số nước châu Mỹ Latin thập niên 50, 60 của thế kỷ XX”(J.Ghenry).
Đơn cử như ở Hà Nội – thành phố có quá nhiều công trường quy mô lớn (từ khu Hoàng Thành tới Nhà Quốc hội mới, 280 dự án cao tầng trong khu phố Pháp, hàng trăm khu đô thị mới lớn nhỏ bám vào vành đai 2, 3, 4….). Có quá nhiều vấn đề trong cơ thể đô thị vốn dành cho hai vạn rưỡi người từ thời Pháp thuộc, nay quá tải trở nên ọp ẹp, còn nói chi đến việc xây dựng lối sống, văn hoá và chất lượng kiến trúc. Các khu vực trung tâm của bốn quận nội thành cũ, trong đó có khu phố cổ, khu phố Pháp bị sức ép nặng nề do chất tải của hàng triệu lượt người hàng ngày. Các quận Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên và quận Hoàn Kiếm ven đê là những khu vực sẽ xuống cấp nhanh nhất. Song song với nó là sự xây cất quá nhiều ở khu phố Pháp – nguy cơ Hà Nội sẽ phá hỏng khu phố này như kiểu nhà 27 Hàng Bài, trụ sở Bộ Tài Chính ở phố Trần Hưng Đạo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở phố Lý Thường Kiệt ( Hình 1,2,3). Sự phá vỡ cấu trúc các trung tâm kiến trúc lịch sử vô giá của Hà Nội là không thể ngăn được.

Bước ra ven đô, chỉ cần nhìn lướt hai bên đường khi ra khỏi thành phố cũng đủ cảm nhận một sự “đứt gãy lớn”, “phá vỡ” cảnh quan của các vùng nông thôn vốn có cấu trúc rất đẹp giữa cánh đồng và làng. Tình trạng bê tông hoá, mạnh ai nấy xây ven lộ, ven đê, ven đường cao tốc và trong các đường làng nhỏ… bộc lộ sự tụt hậu của những hoạch định trong quy hoạch nông thôn hiện nay.
Hệ quả của “sự bơ vơ” về sáng tác kiến trúc hiện nay thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận đô thị, kiến trúc. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được xã hội. Kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại, vùi lấp các khoảng sáng, để lại nhiều khoảng trống và miền tối trong sáng tác. Cũng có thể bứt phá để sáng tạo ngôn ngữ kiến trúc mới phù hợp thời đại trong hoàn cảnh này; Cũng có thể dễ dãi ăn theo thị trường bất động sản, cần dùng món nào thì ta xào món đó để cho “Kiến trúc thương mại” ghi dấu ấn đặc thù ở Hà Nội hôm nay, và tệ hơn là phá hỏng Hà Nội cổ kính xưa.
Năm 1998, KTS Hoàng Phúc Thắng đã nghiên cứu về năng lực quy hoạch của Việt Nam. Ông cho biết: nếu với quy trình và công cụ lạc hậu như Việt Nam, việc thực hiện quy hoạch chi tiết các đô thị (vùng chức năng, khu dân cư) phải mất 500 năm nữa mới hoàn thành. Khi đó, ai cũng cho là câu nói hoang đường. Nhưng đến nay có thể là sự thực. Bởi tính đến 2005 mới có khoảng 20 triệu người sống ở đô thị. Nếu năm 2020, sau 14 năm nữa là 70 triệu thì ta phải lo cho 50 triệu dân cư đô thị có nhà ở, việc làm và các dịch vụ đời sống khác. Hay tính theo quỹ đất cứ 100m2/đầu người thì chúng ta cần tới 700.000 ha đất dành cho đô thị. Và khi Hà Nội mở rộng gấp bốn lần, phải mất bao lâu mới xong qui hoạch chi tiết? Chỉ tính riêng về dịch vụ tối thiểu cho ba hạng mục cấp nước, thoát nước và thu gom xử lý chất thải rắn đã cần khoản đầu tư khổng lồ: năm 2010 cần 8,9 tỷ USD, đến năm 2020 cần 13 tỷ USD (theo Hiệp hội đô thị Việt Nam). Con số cần tính cho bao nhiêu nhà ở, trường học, bệnh viện… chưa có số liệu chính thức nào từ phía các cơ quan quản lý nhà nước công bố. Sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những quyết sách đúng đắn về đô thị hoá ở Việt Nam.
Thử tìm lối ra bằng cách cùng suy nghĩ:
Các lý thuyết cơ bản đều đề cập đến kiến trúc như sản phẩm của xã hội và lịch sử. Những thay đổi phong cách kiến trúc đều có nguồn gốc từ mối quan hệ sản xuất – xã hội, từ đó kéo theo cấu trúc văn hoá- nghệ thuật. Khi xã hội dịch chuyển, xuất hiện những nhân tố mới, những trào lưu nghệ thuật có điều kiện phôi thai, được phát lộ và chịu tác động trực tiếp của cấu trúc xã hội quy định nó. Mối quan hệ này thường không trực tiếp mà theo những con đường phức tạp của quy luật thẩm mỹ – sự cảm nhận và tính đại diện mà người ta hay gọi chung là tính thời đại.
Mặt khác, kiến trúc là một nghệ thuật duy nhất mang tính nhị nguyên: Vừa là sản phẩm của xã hội, của hoạt động con người; đồng thời, lại là chủ thể kiến tạo môi trường không gian bao chứa tất cả các hoạt động đó. Điều này tạo nên sự liên quan mật thiết và sâu xa của kiến trúc với con người.
Trong “Luận cương về kiến trúc” nổi tiếng của mình, KTS Le Corbusier đã viết: “Kiến trúc hay là Cách mạng” – ông đã đưa ra ý tưởng thiết kế thành phố vườn với các đường phố rộng và thẳng, với các toà nhà dài 200m hình chữ thập, chìm trong cây xanh với thiết kế bên trong thật rõ ràng, hợp lý, đưa sinh hoạt đường phố vào những toà nhà đó. “Ông vẽ một thành phố thuần nhất cào bằng quá khứ” – KTS Portzamparc – giải thưởng Pritzker 1994 nhận xét. Thật là lý thú biết bao khi nhìn điều đó từ thời điểm năm 1922. Nhưng cũng thật khủng khiếp nếu nhìn từ ngày nay, sau khi chúng ta đã thử đưa tất cả điều đó vào thực tế. Những tổ hợp nhà ở khổng lồ, cùng khuôn mẫu với những ngôi nhà dài 200m đó, có mặt ở mọi nơi trên thế giới. Và, ở khắp nơi, con người đều gặp phải khó khăn với nó – trong việc định hướng và sinh sống bởi chúng không thuận tiện. Thực tế đã chỉ ra rằng không một thành phố nào được thực hiện hoàn toàn theo thiết kế của KTS, lại tạo ra một môi trường sống có thể so sánh với môi trường của các thành phố lịch sử, được hình thành qua nhiều thế kỷ. Những thành phố cũ dường như nói tiếng nói riêng của cư dân bản địa, tiện lợi theo cách sống của họ và mang vẻ đẹp riêng biệt duy nhất.
Chính những thành tựu kỹ thuật được sử dụng trong kiến trúc hiện đại với các khả năng chưa được chế ngự đã để lại những hậu quả xấu, làm tồi tệ đi môi trường sống, dù chúng làm gia tăng nhanh chóng diện tích đô thị. Điều hòa trung tâm trong các cao ốc văn phòng cách biệt với bên ngoài, làm các “chứng bệnh văn phòng” phát sinh cùng với “ hiệu ứng nhà kính” của trái đất. Ý định dùng kỹ thuật để tạo ra môi trường sống nhân tạo lý tưởng được tiêu chuẩn hóa về nhiệt độ (22 + 1¬¬¬¬°C), chiếu sáng nhân tạo (500 lux), không khí sạch tối thiểu (8,33l/s/người) đang dần bộc lộ những yếu điểm không thể bỏ qua¬¬¬. Chính sự ỷ lại vào kỹ thuật và tăng tốc xây dựng đã để lại môi trường kiến trúc đơn điệu, giống hệt nhau từ Đông sang Tây. Những vấn đề kiến trúc (như các khối hộp chữ nhật nằm ngang hay thẳng đứng trần trụi trong đô thị hiện đại) mà chúng ta nhắc lại hàng triệu lần để không biến thành thảm họa của thẩm mỹ là cái gì? Các công trình đã là niềm tự hào bởi chiều cao, khối tích lớn chưa từng có trong quá khứ bắt đầu làm chúng ta lo lắng, coi đó là biểu hiện xa lạ với con người, bởi sự tổ chức môi trường sống thật bất tiện, thậm chí bài trừ cái đẹp.
Nhưng có thể lùi về quá khứ? Có thể tước đoạt các khả năng kỳ diệu của kỹ thuật, của giao thông cao tốc, của điện thoại, truyền thông vô tuyến, xe hơi, điều hòa trung tâm, những căn hộ trên không trung, của kính tấm lớn … để hoàn toàn ngược trở về với truyền thống? Tỷ như có thể đánh đổi sự thỏa mãn dễ chịu khi cho những khu vườn nhiệt đới lớn xâm nhập vào những phòng khách rộng lớn, bằng cách nhìn ra vườn từ một cửa sổ hẹp và “cũ kỹ”? Và liệu có thể lấy đi sự đan quyện hiện đại của các không gian đa năng chỉ cần một vài cột đỡ, để giữ lại không gian kiểu cũ với các gian phòng tối tăm, bó hẹp trên từng tầng nhà?

Tuy vậy, từ nền tảng văn hóa, địa lý, khí hậu, cũng xin thử nêu ba câu hỏi cho giới chuyên môn chúng ta cùng suy nghĩ, tìm đến các giải pháp thích hợp cho đô thị- kiến trúc Việt Nam:
1. Phải chăng đã đến lúc cần phải nghiên cứu và thiết kế theo sự đa dạng của kiến trúc Việt Nam? Vốn sinh ra từ nền tảng địa lý – nhân văn rất khác biệt theo vĩ tuyến trải theo Bắc – Trung – Nam dài 3000km; chiều ngang theo kinh tuyến ở mỗi miền đều qua núi cao, trung du, đồng bằng, duyên hải, có khí hậu, môi sinh riêng do các vùng sinh thái không đồng nhất (mà trời cho chúng ta thật hào phóng). Tính đa dạng làm chỗ dựa cho nền kiến trúc phong phú, nhiều sắc thái, có chung động lực của công nghệ – kỹ thuật hiện đại sẽ tạo nên ngôn ngữ thống nhất của kiến trúc Việt Nam Hiện đại – Bản địa.
2. Trong đô thị liệu có nên thay thế dạng đô thị thuộc về phương thức sinh sống nhỏ (bám vào các trục lộ, mặt nhà, hè phố, lòng đường để buôn bán) bằng kiểu dự án đô thị – phòng ngủ như hiện nay (đô thị chỉ nhà liền kề và chung cư), kiểu chia lô bán nền được cấp theo “quan hệ” có chất lượng kiểu mì ăn liền ?
3. Thực ra chúng ta đang ở vận hội mới của Kiến trúc thế giới khi nền văn minh tri thức đã lộ diện. Biết bao nhiêu sáng tạo của con người đã thay đổi tận cội rễ đời sống. Không gian và thời gian sống dường như mở rộng, trải nghiệm dài hơn với mỗi người qua màn hình tivi, internet và tốc độ đi lại… Không gian kiến trúc đã được giải phóng khỏi các bức tường và khẩu độ của dầm bê tông bằng công nghệ mới, vật liệu nhẹ, thông minh và đa năng…, mục đích là mang lại cho con người các giải pháp tiết kiệm tối đa năng lượng, nước sạch, tài nguyên và thật nhiều không khí, cây xanh, sức khoẻ. Sao chúng ta không đi vào xu hướng này? Hay đây là ý tưởng xa xỉ với kiến trúc Việt đang chạy theo thị hiếu thị trường?
Lời kết về Nguồn lực kiến trúc:
Kiến trúc Việt đang đứng trước vận hội mới cũng giống như thời kỳ những năm 20-36 của thế kỷ XX. Dù du nhập kiến trúc phương Tây nhưng thế hệ KTS thứ nhất đã để lại dấu ấn của Phong cách kiến trúc Đông dương; Thế hệ thứ 2, 3 là Phong cách hiện đại nhiệt đới miền Nam Việt Nam và Phong cách công năng xã hội chủ nghĩa miền Bắc Việt Nam (Những luận điểm này được Hội nghị KTS thế giới ghi nhận ở Bacelona 2006, thông qua một nghiên cứu dài hơi về Kiến trúc trường đại học ở Việt Nam của tác giả bài viết này với Trường Đại học tổng hợp Deakin-Úc). Nó cho chúng ta thấy sự nghiêm túc của các thế hệ Việt Nam, luôn khát khao hội nhập với quốc tế, đồng thời khẳng định cái riêng – rất riêng của dân tộc mình. Sự trăn trở ngày càng lớn hơn khi bước vào thời kỳ hiện đại hoá, chúng ta có nhiều cơ hội hơn, nhiều tiền hơn nhưng lại cam go hơn khi muốn có tác phẩm để đời như cha anh đã từng. Do chúng ta bị ép vào guồng quay thị trường, do những chủ đầu tư ăn xổi bắt tay với tư duy nhiệm kỳ của quan chức chi phối; do chính chúng ta quá dễ dãi trong việc tiêu thụ các sản phẩm xây dựng đại trà chất lượng thấp, các bản vẽ hời hợt được đưa vào Việt Nam; Hay do chúng ta ít ý tưởng hơn và nhiều tính thợ hơn khi phụ thuộc quá nhiều vào máy tính và thủ tục xét duyệt bản vẽ?
Tôi lại cho là do chúng ta chưa từng phân tích với nhau về Nguồn lực Kiến trúc. Nguồn lực kiến trúc của Việt Nam hiện nay là vô cùng lớn, nếu không nói là điểm vàng cho hành nghề kiến trúc. Bởi chúng ta đang bắt đầu đô thị hoá, bắt đầu chuyển cả trăm triệu người đến sống ở đô thị. Bắt đầu tìm kiếm mô hình cư trú mới cho nền văn minh Công nghiệp – Dịch vụ – Tri thức. KTS ngoại biết rất rõ nguồn lực đó và họ đã biết tận dụng kinh nghiệm và kỹ năng quản lý chuyên nghiệp để giành được các hợp đồng lớn. KTS Việt Nam đang ở vai tư vấn phụ ngay trên sân nhà.
Nguồn lực Kiến trúc không khác các lý thuyết kinh tế đã gọi tên, nó gồm:
1. Nguồn lực từ nhu cầu kinh tế – xã hội – văn hoá trong thời kỳ đô thị hoá: là nguồn lực dồi dào nhất trong lịch sử kiến trúc dân tộc như đã phân tích ở trên.
2. Nguồn lực từ con người: KTS, và các nhân lực xây dựng khác và Nhà quản lý dự án: Có thể nói đây là nguồn lực chỉ đạt chuẩn dưới 50%.
3. Nguồn lực từ chính sách và thể chế: Là nguồn lực thiếu hụt nhất và cũng là… quan trọng nhất (xót xa thay). Bởi nếu hai nguồn lực trên có dồi dào đến mấy cũng chỉ là nguồn lực dạng tài nguyên, đợi các chính sách khai thông để khai thác và đợi hành lang pháp lý để thực hiện.
Như vậy chúng ta đang rất cần một Thể chế hành nghề chuyên nghiệp đạt chuẩn quốc tế và phù hợp với quyền lợi của số đông KTS, có sự đóng góp trí tụê của giới KTS Việt nam, để họ có thể phát huy hết nguồn lực của Tổ quốc, để họ có được đô thị với kiến trúc để đời như cha anh họ đã từng. /.
PGS.TS.KTS Nguyễn Hồng Thục
Khoa Kiến trúc Công trình, Trường đại học Phương Đông



















