Vào thập niên 1970, Đoàn Kiến trúc sư (KTS) Việt Nam rất muốn phát hành tờ tập san Kiến trúc, song ngày ấy Đoàn nằm trong Bộ Xây dựng, mà Bộ đã có tập san Xây dựng rồi, nên chỉ được ấn hành nội bộ Kiến trúc, in roneo, mỗi kỳ mấy chục bản, phát nội bộ cho các Đoàn cơ sở. Tuy mỗi năm vài ba cuốn, song đã thu hút giới KTS già trẻ viết bài sôi nổi, tồn tại trong nhiều năm.
Đầu năm 1982, ngày ấy tôi còn là biên tập viên ở tập san Xây dựng, phụ trách mảng bài về kiến trúc – quy hoạch, có lần anh Vũ Hồng Vũ, Chủ bút (Tổng biên tập) tập san Xây dựng gọi tôi sang phòng ông cùng tiếp KTS Trần Hữu Tiềm, Quyền Tổng Thư ký Đoàn KTS Việt Nam. Tôi được biết, Đoàn KTS Việt Nam đang chuẩn bị tiến hành Đại hội KTS Toàn quốc, nên cần những ấn phẩm đặc biệt về kiến trúc – quy hoạch đăng trong tập san Xây dựng. Cũng từ đấy, tập san Xây dựng có mấy số đặc biệt chuyên đề về kiến trúc, nội dung do Đoàn KTS Việt Nam chuẩn bị.

Thư Bác Hồ gửi Đại hội Đoàn KTS Việt Nam lần thứ nhất trên TCKT số đầu tiên
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển của giới KTS sau khi nước nhà thống nhất, Đoàn KTS Việt Nam đã có công văn (số 46 B/KT ngày 14-4-1982) gửi Ban Tuyên huấn Trung ương xin phát hành Tạp chí Kiến trúc.
Đoàn KTS Việt Nam chuyển từ Ban cán sự Bộ Xây dựng sang Ban Văn hóa – Văn nghệ Trung ương, nằm trong khối Văn học – Nghệ thuật
Đầu năm 1983, Ban Tuyên huấn đã ra Quyết định (số 34/TH ngày 26-01-1983) cho phép Đoàn KTS Việt Nam xuất bản Tạp chí Kiến trúc mỗi năm 4 kỳ, số lượng 1000 bản/kỳ, khuôn khổ 19×27 cm, dày 56 trang. Tổng biên tập KTS Ngô Huy Quỳnh, Ủy viên Ủy ban Xây dựng Nhà nước, Ủy viên Thường vụ Đoàn KTS Việt Nam; KTS Cao Xuân Hưởng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội KTS Việt Nam Phó Tổng biên tập.
Tạp chí Kiến trúc là cơ quan ngôn luận của Đoàn KTS Việt Nam. Đối tượng phục vụ là KTS, sinh viên kiến trúc, kỹ sư xây dựng, các nhà quản lý đô thị – kiến trúc – xây dựng và các nhà nghiên cứu văn hóa – nghệ thuật.
Sau khi có quyết định ra Tạp chí Kiến trúc, trên cơ sở đó mới tổ chức nhân sự, xin phép được cấp sử dụng giấy Việt Trì in ruột và giấy dày hơn, trắng hơn để in bìa, tiếp đến tự lo nhà in và phát hành.
Ngoài lãnh đạo Tạp chí, tòa soạn có KTS Phạm Thanh Tùng theo dõi nội dung bài từng số và chị Nguyễn Thị Đông theo dõi về in ấn, phát hành. Ngoài ra, còn có cộng tác viên thường xuyên làm một số mảng như: KTS Đoàn Đức Thành ở tập san Xây dựng (Bộ Xây dựng), biên tập nội dung bản thảo và chụp ảnh kiến trúc; KTS Lưu Tương Giang, công tác ở Văn phòng Hội, tham gia trình bày các trang ruột; KTS Nguyễn Thúc Hoàng ở Viện thiết kế Công trình công cộng (Bộ Xây dựng), trình bày bìa; chị Hiền ở Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật chuyên đánh máy bản thảo,…
Số Tạp chí Kiến trúc đầu tiên phát hành vào quý III năm 1983. Đăng trang trọng trên trang đầu Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị thành lập Đoàn KTS Việt Nam, năm 1948. Các chuyên mục mang tính thời sự như: Tích cực hưởng ứng Đại hội KTS Việt Nam lần thứ III, xây dựng huyện, Nhà nước và nhân dân cùng làm, Thủ đô Hà Nội xây dựng theo Nghị quyết của Bộ Chính trị,…
Số quý IV năm 1983, giới thiệu kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh, bắt đầu có chuyên mục “Lý luận phê bình”, trao đổi sáng tác ba công trình lớn ở Hà Nội là Nhà khách Chính phủ ở phố Lê Thạch, Bưu điện Bờ Hồ, Nhà ga Hà Nội.
Số 1-1984, phản ánh đầy đủ Đại hội KTS Việt Nam lần thứ III. Số 2-1984, chuyên đề “Kiến trúc truyền thống”, có thêm chuyên mục “Kiến trúc sư và tác phẩm”, “Thông tin”. Số 3-1984, chuyên đề 30 năm giải phóng Thủ đô, xây dựng xưa và nay. Đã duy trì các chuyên mục: Kiến trúc truyền thống, Lý luận phê bình, Kiến trúc sư và tác phẩm, Thông tin. Ngoài ra, thêm các chuyên mục: “Quản lý xây dựng”; “Kiến trúc và các ngành khoa học”. Số 4-1984, chuyên đề quản lý xây dựng, đã duy trì các chuyên mục: Quản lý xây dựng, Kiến trúc sư và các ngành khoa học, Kiến trúc truyền thống, Lý luận phê bình, Kiến trúc sư và tác phẩm, Thông tin. Cả 4 số Tạp chí Kiến trúc năm 1985 cùng có chung hình bìa 1 ảnh Lăng Bác chụp nghiêng, logo in màu ở phía dưới thể hiện nội dung bên trong từng số. Các chuyên mục được giữ trong nhiều năm, trở thành quen thuộc với bạn đọc.

Chuyên mục “Kiến trúc sư và tác phẩm”- TCKT số 1 năm 1985
Số 1-1985, kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Từ số này có thêm mục “Kiến trúc sư và tác phẩm” mở đầu KTS Đoàn Đức Thành viết bài giới thiệu gương mặt KTS Nguyễn Cao Luyện, lần lượt các số sau đó giới thiệu các KTS Huỳnh Tấn Phát, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Ngọc Chân, Nguyễn Văn Ninh, Đoàn Văn Minh, Huỳnh Sum; KTS Thanh Tùng viết về KTS Vũ Ngọc Danh, người bám sát các công trình cấp huyện ở Hải Hậu (Nam Định); KTS Nguyễn Văn Việt giới thiệu KTS Nguyễn Quang Nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh,…
Từ số 4-1985, KTS Nguyễn Trực Luyện làm Tổng biên tập thay KTS Ngô Huy Quỳnh.
Số đầu tiên của năm 1986, chuyên mục “Kiến trúc truyền thống” có bài đăng nhiều kỳ của KTS Nguyễn Cao Luyện: “Một công trình kiến trúc cổ độc đáo: Chùa Tây Phương” đã thu hút bạn đọc không những trong giới nghề mà còn cả giới văn học – nghệ thuật. Mục “Lý luận phê bình” cũng hấp dẫn và gây nhiều tranh cãi của KTS Tôn Đại như: Các xu hướng kiến trúc Hậu – Hiện đại, Chuyển hóa luận, Phi kiến trúc hay là Triết học về sự dang dở và đảo ngược,… KTS Nguyễn Luận cũng có loạt bài đáng nhớ như: Quan niệm âm – dương về quy hoạch kiến trúc nông thôn, Design cơ sở và sáng tạo kiến trúc, Chủ nghĩa cổ điển Hậu – Hiện đại, Cân bằng sinh thái và kiến trúc đô thị,…
Sau mấy năm làm cộng tác viên “ruột” của Tạp chí Kiến trúc, từ 1/8/1987 KTS Đoàn Đức Thành chính thức chuyển từ tập san Xây dựng về Văn phòng Hội KTS Việt Nam làm biên tập viên Tạp chí Kiến trúc.
Chuyên mục “Sáng tạo kiến trúc” xuất hiện lần đầu vào số 2-1988, công trình đầu tiên giới thiệu là nhà Bưu điện Quảng Ninh (tác giả KTS Nguyễn Văn Triệu), Bảo tàng Biên phòng (KTS Nguyễn Quốc Cường). Chuyên mục này đã tồn tại nhiều năm, giới thiệu gần 1000 công trình khắp các vùng miền trong cả nước. Qua đó có thể nhận biết được những chặng đường sáng tác của KTS nước ta từ thời bao cấp đến thời kỳ đổi mới. Tạp chí Kiến trúc đã góp phần phát hiện nhiều sáng tác tốt, được dư luận đánh giá cao, các tác giả tự tin tham gia Giải thưởng Kiến trúc, một số tác phẩm đã đoạt giải.
Tòa soạn Tạp chí Kiến trúc vốn đã ít người, lại càng khó khăn khi KTS Phạm Thanh Tùng và chị Vũ Thị Đông đi xuất khẩu tại Nga. Có thời gian (cuối năm 1988 đầu năm 1989), KTS Đoàn Đức Thành kiêm luôn khâu biên tập và trị sự. Khâu in ấn Tạp chí Kiến trúc cũng nan giải, phải qua nhiều nhà in khác nhau. Đầu tiên in ở Nhà in báo Nhân Dân, sau in ở nhà in báo Hà Nội mới. Sắp chữ kẽm, hình kẽm, khâu biên tập phải bám khâu sắp chữ từng trang in để bổ sung hoặc cắt bớt kịp thời, biên tập lại cho vừa “bát chữ”. Khi in vi tính ra đời, chúng tôi thuê nhà in Thông tấn xã. Ngày ấy, chữ cứ đánh theo từng bài theo 2 hay 3, 4 cột dài, rồi in trên giấy can mỏng, sau đó nhận bài về mới dùng băng dính dán lên trang. Chúng tôi thường đến nhà chị Đông ở 20 Lê Thánh Tông để dán “mi”. Nhiều khi vào mùa hè, nóng như thiêu, nhưng không được mở quạt máy, sợ gió làm bản thảo bay hết, chúng tôi làm việc mà mồ hôi chảy ròng ròng, mỗi số tạp chí phải dán 3-4 ngày mới xong. Thời gian sau chuyển sang thuê sắp chữ điện tử ở Trung tâm chế bản, số 10 Đường Thành và in ở Nhà máy in Tiến Bộ. Sau đó Nhà máy in Tiến Bộ có bộ phận vi tính và dàn bài theo từng trang tạp chí, chỉ mất công dán ảnh, hình vẽ và chú thích bên dưới. Chúng tôi thuê từ khâu vi tính bản thảo, phim ảnh, đến làm mi và in ấn ở Nhà máy in Tiến Bộ.

Bài viết "Kiến trúc hiện đại đã chết" KTS Tôn Đại – Tạp chí Kiến trúc số 1/1986
Năm 1989, Tạp chí Kiến trúc được bổ sung KTS Ngô Doãn Đức chuyên trình bày và chụp ảnh. Công việc được san ra nên có phần đỡ căng thẳng hơn trước.
Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ, số đầu tiên của năm đã có một loạt bài giá trị về chuyên môn và lịch sử: Quá trình thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (trích hồi ký của KTS Nguyễn Ngọc Chân); Những phương án chính về Lăng Bác, Nhà Bảo tàng Hồ Chí Minh trên Quảng trường Ba Đình (KTS Nguyễn Trực Luyện), Các phương án Bảo tàng Hồ Chí Minh của các KTS Việt Nam. Từ số 3-1990, KTS Đặng Thái Hoàng mở đầu một loạt bài giới thiệu những gương mặt KTS lỗi lạc ở nước ngoài như Kenzo Tange, Kurokaoa, các viện sĩ Viện Hàn lâm Kiến trúc quốc tế,…
Chuyên mục “Kiến trúc muôn mặt” bắt đầu từ số 3-1991. Đan Khánh (Nguyễn Quân) viết loạt bài: Bạn ở như thế nào? Đăng liên tục trong 2 năm.
Bước sang năm 1992, Tạp chí ngay từ số 1 đã có thêm chuyên mục “Kiến trúc – xã hội”. Những bài viết trong chuyên mục này đã nêu được thực trạng tình hình quy hoạch – kiến trúc của đất nước. Bối cảnh làm nghề của KTS với không ít những vấn đề bức xúc từ chiến lược phát triển và quản lý kiến trúc, đến luật làm nghề của KTS cho đến đào tạo và bồi dưỡng nghề cho KTS. Nhiều vấn đề chuyên môn nổi cộm trong thực tiễn xây dựng đã được đề cập tới, giúp các cấp quản lý nhận biết và kịp thời xử lý như các công trình Khách sạn Hà Nội Vàng, tòa nhà Hàm cá mập, hội chứng gọi là “Kiến trúc Pháp” cũng như xu hướng nhại cổ,…
Từ sau Nghị quyết Trung ương 5 về văn hóa – văn nghệ, chuyên mục “Kiến trúc – xã hội” đã có sự trao đổi sôi nổi – tìm hiểu bản sắc trong kiến trúc, nội dung và định hướng hành động cho KTS trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền kiến trúc Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc.
Từ đầu năm 1992, KTS Lê Phục Quốc được bổ sung cho Tạp chí Kiến trúc chuyên lo về mảng bài dịch, anh phụ trách chuyên mục “Kiến trúc 4 phương”, bắt đầu từ số 1-1992. Mở đầu là bài “Nhà trên Suối Gấu Penxinvania Hoa Kỳ” của A. Gozak…
Lần đầu tiên, Tạp chí Kiến trúc in ảnh 4 màu trên giấy couché, đây là bước đột phá để nâng cao nội dung và hình thức. Các KTS Đà Nẵng đã hỗ trợ kinh phí để in 8 trang màu trên giấy couché trong số 2-1992.
Trước yêu cầu của bạn đọc đối với tạp chí Kiến trúc ngày một tăng, từ năm 1993 xuất bản 2 tháng một kỳ, số trang cũng tăng, số lượng in ngày một nhiều. Riêng số đặc biệt phục vụ Đại hội KTS lần thứ V dày 144 trang, in 7000 cuốn.

Nhằm đáp ứng với yêu cầu trình bày và thể hiện các bản vẽ kiến trúc – quy hoạch được tốt, từ năm 1995, Tạp chí Kiến trúc in khổ vuông 25,5×25,5cm, mỗi số dày trên dưới 100 trang, trong đó có nhiều trang in 4 màu trên giấy tốt, các chuyên mục ít thay đổi trở thành quen thuộc đối với bạn đoc, giá bán ổn định 18.000 đồng một cuốn.
Từ số 4-1995, KTS Đoàn Đức Thành được đề bạt làm Phó tổng biên tập.
Năm 2000, Tạp chí Kiến trúc bổ sung thêm một số chuyên mục cho phù hợp với tình hình mới, đáp ứng với yêu cầu xã hội, như “Bàn tròn kiến trúc” , “Kiến trúc sư trẻ” (số 6-2000).
Từ số 1-2002, KTS Cao Xuân Hưởng, sau 19 năm ở cương vị Phó Tổng biên tập Tạp chí Kiến trúc nghỉ hưu. Với cương vị Phó Tổng thư ký Hội KTS Việt Nam, ông là một trong những người sáng lập và là Phó Tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Kiến trúc.
Từ số 5-2002, Tạp chí Kiến trúc có thêm KTS Nguyễn Luận làm Thư ký tòa soạn. Số 6-2002 tạp chí Kiến trúc bổ sung thêm chuyên mục: “Văn hóa kiến trúc”, “Khoa học công nghệ” và “Phóng sự ảnh”.
Năm 2004, Tạp chí Kiến trúc phát hành hàng tháng, 12 số 1 năm.
Năm 2006 KTS Nguyễn Trực Luyện do tuổi cao, sức khỏe kém nên đã chủ động xin nghỉ công tác Chủ tịch Hội cũng như Tổng Biên tập Tạp Chí. Tiếp đó, Ban Tuyên Giáo TW đã có công văn cử GS.TS.KTS Nguyễn Việt Châu về giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Kiến trúc từ tháng 5/2006 cho đến nay.
Nhìn lại 30 năm qua, Tạp chí Kiến trúc đã và đang chuyển giao từ thế hệ già sang thế hệ trẻ. Cơ sở vật chất từ khi không có gì ngoài cây bút mực và thếp giấy Việt Trì, máy điện thoại, mấy chiếc bàn ghế gỗ, đến nay đã tự trang bị nhiều máy vi tính, máy in, máy photocopy, máy ảnh, máy Fax, bàn ghế hiện đại. Các chuyên mục cũng đã đổi mới cho thích hợp với nhu cầu bạn đọc. Nội dung bài viết được cải tiến không ngừng. Hình thức từ chỗ in kẽm một màu đen trắng trên giấy Việt Trì, ngày nay đã in toàn bộ trên giấy couche với nhiều hình vẽ và ảnh màu.
Trong suốt ba mươi năm xây dựng và phát triển, Tạp chí Kiến trúc luôn là người bạn đồng hành đắc lực và đáng tin cậy của Hội Kiến trúc sư Việt Nam, góp phần thiết thực trong công cuộc xây dựng nền kiến trúc Việt hiện đại, phát triển bền vững.
KTS Đoàn Đức Thành



















