Những thách thức về quản lý QHXD đô thị trong việc triển khai đồ án QHC HN

1. Tổng quan về quy hoạch Hà Nội trước và sau khi mở rộng
Đồ án Quy hoạch chung Hà Nội được phê duyệt tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998
Đồ án được thực hiện bởi chuyên gia Mỹ, Nhật, Hà Lan, phối hợp với các đơn vị tư vấn Việt Nam thực hiện, nhằm tăng cường vai trò kinh tế, chính trị, văn hoá của Thủ đô, thiết lập một khu phố quốc tế. Phạm vi nghiên cứu khoảng 7860km2, bao gồm thành phố Hà Nội là trung tâm và các đô thị xung quanh thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phú, Bắc Ninh, Hưng Yên với bán kính ảnh hưởng từ 30¸50km. Hướng phát triển lâu dài chủ yếu về phía Tây (chuỗi đô thị Miếu Môn – Hoà Lạc – Sơn Tây), phía Bắc (cụm đô thị Sóc Sơn -Xuân Hoà – Đại Lải – Phúc Yên và các đô thị khác).

 

Bảo tồn cảnh quan tự nhiên: Hồ Gươm – Trung tâm lịch sử

Hà Nội đóng vai trò thành phố trung tâm trong chùm đô thị Hà Nội với diện tích 921km2, dân số thành phố trung tâm 2,5 triệu người; chuỗi đô thị phía Tây 1 triệu; cụm đô thị phía Bắc 0,5 triệu. Không gian nông thôn về phía Tây thành phố và bên kia bờ sông Hồng đánh dấu sự thay đổi quy mô trong quá trình đô thị hoá. Khu trung tâm chính trị không có sự thay đổi lớn về vị trí của Hà Nội (cũ).
Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt ngày 26/7/2011
Sau khi Hà Nội mở rộng trên cơ sở sát nhập từ đơn vị hành chính Hà Nội cũ, tỉnh Hà Tây và một phần các tỉnh Hoà Bình, Vĩnh Phúc, với sự biến động về kinh tế, xã hội, văn hóa…, ngày 22/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm  2050 tại Quyết định số 1878/QĐ-TTg với diện tích tự nhiên là 3.344,6km2, dân số 6.448.837 người (kết quả điều tra 01/4/2009), gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành.
Đồ án Quy hoạch chung nhằm mục tiêu xây dựng Thủ đô Hà Nội đạt ba yêu cầu lớn:
– Cấu trúc đô thị phát triển bền vững, đáp ứng các yêu cầu của một Thủ đô được mở rộng, phù hợp chiến lược phát triển Quốc gia; Thủ đô giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho cả nước;
– Tổng thể không gian phát triển năng động, hoà nhập, khai thác các giá trị tiềm năng của vùng địa lý cảnh quan tự nhiên, tiềm năng về tri thức – công nghệ và lịch sử văn hoá truyền thống;
– Đô thị đạt hiệu quả trong sử dụng đất đai và có hệ thống hạ tầng kĩ thuật đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững.
Bộ Xây dựng là cơ quan tổ chức lập quy hoạch, phối hợp với UBND thành phố Hà Nội. Đơn vị tư vấn gồm: Liên danh PPJ (Mỹ – Hàn Quốc), Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị Nông thôn – Bộ Xây dựng và Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội.
Những kết quả và những tồn tại của việc thực hiện quy hoạch xây dựng từ năm 1998 đến nay
Những kết quả đạt được: Sau hơn 10 năm thực hiện theo quy hoạch được phê duyệt năm 1998, Hà Nội đã đạt những thành tựu đáng kể: Thu hút nhiều dự án đầu tư lớn ở cấp quốc gia và địa phương với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước; Từng bước thực hiện công nghiệp hoá, chuyển đổi thành công cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ; phát triển khoảng gần 70 khu đô thị mới về phía Tây, một phần Long Biên, góp phần giải quyết các nhu cầu bức xúc về nhà ở sau bao cấp; Các khu thương mại, văn hóa, thể thao, dịch vụ khách sạn, nhiều tuyến đường đã và đang hình thành như: Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Toà tháp văn phòng Keangnam, Khu liên hợp thể thao quốc gia, khu Trung Hòa – Nhân Chính, khu nhà ở Linh Đàm, Vành đai 1, 3… tạo nên sự thay đổi lớn về hình ảnh đô thị, kích thích sự phát triển Thủ đô.

 

Những vấn đề giao thông đang được tập trung giải quyết

Đồ án Quy hoạch chung phê duyệt năm 2011 được thực hiện dựa trên các nỗ lực quy hoạch cũ và hiện tại, kết hợp chặt chẽ quy hoạch của từng Bộ Ngành, thành phố Hà Nội. Nhiều điểm trong quy hoạch tổng thể trước đó được đưa vào, đặc biệt là 04 nghiên cứu có ảnh hưởng đặc biệt: Quy hoạch 1998 vẫn là quy hoạch có tính  hướng dẫn, quy định sự phát triển của khu đô thị lõi, Quy hoạch của HAIDEP với nhiều phát hiện và quan điểm phù hợp, Quy hoạch Vùng Thủ đô, Quy hoạch Sông Hồng đang  thực hiện với đội ngũ chuyên gia Hàn Quốc…
 Những tồn tại, hạn chế: Trong những năm qua, với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép điều chỉnh quy hoạch được phê duyệt năm 1998 để mở rộng quy mô đất phát triển đô thị. Tuy nhiên, Vùng phía Bắc sông Hồng chưa phát triển như quy hoạch; Các khu công nghiệp còn manh mún chưa tập trung; Các đường vành đai chưa hoàn thành và bị biến đổi chức năng đường vận tải thành đường đô thị…
Luật Cư trú được ban hành và việc tập trung nhiều cơ sở cấp TW như trường đào tạo, công nghiệp cùng với tốc độ phát triển kinh tế cao hàng năm của Hà Nội đã tạo điều kiện thu hút nhiều lao động và di dân từ các khu vực khác vào thành phố để sinh sống…; đồng thời tạo nên tình trạng tăng trưởng dân số quá mức, gây áp lực lên hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông quá tải gây ùn tắc nghiêm trọng, úng ngập, ô nhiễm môi trường, thiếu nhà máy xử lý nước thải và nhà máy xử lý chất thải rắn, thiếu cây xanh nội đô… Tuy Nhà nước đã tập trung giải quyết, nhưng chưa đạt được yêu cầu. Việc khai thác, sử dụng quỹ đất sau khi Nhà nước thu hồi phục vụ công tác xây dựng và phát triển đô thị theo quy hoạch của Thành phố còn nhiều bất cập:
– Bộ mặt kiến trúc đô thị về cơ bản đã phát triển theo chiều hướng tốt. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều khu vực, tuyến phố còn nhếch nhác, đặc biệt là tình trạng nhà siêu mỏng siêu méo…; Công tác kiến trúc đô thị, cảnh quan, công trình… còn nhiều hạn chế khi chưa làm rõ yếu tố truyền thống đặc trưng của Hà Nội;
– Công tác di dời cơ sở sản xuất, công nghiệp kho tàng, bệnh viện, trường đại học không đảm bảo môi trường ra khỏi trung tâm thành phố đang gặp không ít khó khăn;
– Quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn và mạng lưới điểm dân cư nông thôn trên địa bàn xã đã được chú trọng, nhưng quy hoạch các làng xóm tại khu vực phát triển đô thị và khu vực nông thôn còn có sự chồng chéo giữa quy hoạch điểm dân cư theo mô hình đô thị hoá và nông thôn mới.
– Quản lý quy hoạch và kiến trúc liên quan đến nhiều ngành chức năng như tài nguyên – môi trường, xây dựng, văn hóa, khoa học, kỹ thuật an ninh, môi trường, kiểm soát tăng trưởng dân số… các điều kiện về kinh tế – xã hội thiếu qui hoạch tổng thể lớn và các chiến lược…. Công tác phân cấp quy hoạch xây dựng đã được thực hiện nhưng do là lĩnh vực mới nên khi triển khai còn gặp khó khăn, lúng túng… Nhìn chung, công tác này còn nhiều yếu kém, đã gây ra những hệ luỵ về lãng phí đất đai và nguồn lực đầu tư;
– Công tác giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của mọi công dân, tổ chức và chính quyền các cấp (nhất là cấp quận, huyện, xã, phường) tham gia công tác quản lý chưa thực tốt; Công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch triển khai còn chậm, chưa có giải pháp hiệu quả để các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ;
Nhìn chung, từ khi thực hiện Đồ án Quy hoạch chung được phê duyệt năm 1998 đến nay, sự phát triển và quản lý quy hoạch – kiến trúc trên địa bàn thành phố Hà Nội tuy đã đạt được những kết quả lớn, thay đổi diện mạo đô thị nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hà Nội chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò của một trung tâm – động lực thúc đẩy phát triển kinh tế trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước. (Nguồn: Thuyết minh Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050)
 Nguyên nhân: Việc tồn tại các vấn đề nêu trên là do Thành phố đang phát triển trong giai đoạn quá độ, nguồn lực đầu tư của Nhà nước còn hạn hẹp, việc đầu tư xây dựng hạ tầng ít được quan tâm, hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào chưa đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư, công tác đền bù giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn… Đó là nguyên nhân cơ bản cho việc thu hút đầu tư không tập trung, dàn trải, gây ô nhiễm môi trường, lãng phí đất đai và nguồn lực đầu tư;
Các chủ đầu tư cũng chỉ tập trung vào các dự án sớm khai thác với hiệu quả đầu tư cao nên không mặn mà với các dự án xây dựng các công trình công cộng, dịch vụ tiện ích, cải tạo chung cư cũ… nên tiến độ các dự án xây dựng này triển khai còn chậm. Việc chậm trễ trong cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ còn do các nguyên nhân khác từ quyền lợi và trách nhiệm của các hộ dân trong đền bù, giải phóng mặt bằng, quỹ nhà tạm cư còn hạn chế…
Công tác quản lý: Khối lượng công việc quá nhiều và đa dạng: đội ngũ cán bộ các cấp còn ít và  chất lượng hạn chế; sự phối hợp của các đơn vị chưa hiệu quả nên công tác quản lý chưa thực sự đạt chất lượng tốt nhất, gây khó khăn trong công tác tổng quan, quản lý cũng như triển khai các chương trình của Thành phố; việc xây dựng lộn xộn còn do tập quán, manh mún cố hữu, sự hiểu biết pháp luật của người dân, đơn vị trên địa bàn Thành phố còn chưa cao; trước năm 2007 còn thiếu cơ quan chuyên trách nghiên cứu về kiến trúc Hà Nội, chưa có nhiều biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác nghiên cứu và quản lý;
Nhiều Luật mới được ban hành song các văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm, chồng chéo, thậm chí có những nội dung quan trọng như thiết kế đô thị, cấp phép quy hoạch… chưa có hướng dẫn cụ thể nên không có cơ sở để triển khai thực hiện.

Nhưng khu đô thị mới tạo dựng diện mạo kiến trúc Hà Nội

2. Những cơ hội và thách thức trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch trên địa bàn thành phố Hà Nội
Những cơ hội quí báu cần nắm bắt:

Có thể nói việc mở rộng diện tích Thủ đô Hà Nội là cơ hội vàng tạo điều kiện để Hà Nội phát triển đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ của Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đã được phê duyệt. Đây cũng là thời cơ giải quyết các vấn đề tồn tại của đô thị trong những năm vừa qua, từ việc tạo thêm nhiều quỹ đất để phát triển các chức năng quan trọng còn thiếu cho Thủ đô, đồng thời là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng theo quy hoạch.
– Đối với phần nội đô lịch sử: Đây là cơ hội hiếm có để rà soát, bổ sung và hoàn thiện các không gian đô thị cũ, bổ sung các quỹ đất hạ tầng đô thị; tái phát triển các khu dân cư; đặc biệt là giao thông; hạn chế chất tải thêm lên hệ thống hạ tầng vốn đã lạc hậu và xuống cấp tại khu vực này;
– Đối với đô thị trung tâm – phần mở rộng (giới hạn đường vành đai xanh sông Nhuệ đến phía Đông vành đai 4): Đây là cơ hội để tổng rà soát, lập danh mục các đồ án quy hoạch, dự án đầu tư đã được chấp thuận triển khai trên địa bàn Thành phố. Công tác này giúp   điều chỉnh và khớp nối các dự án với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và sử dụng đất của cả Thành phố; trên cơ sở đó, đánh giá phân loại đồ án: tiếp tục triển khai hoặc dừng lại, nhằm đạt được mục đích đã được xác định trong đồ án Quy hoạch chung.
– Đối với các đô thị vệ tinh và thị trấn sinh thái: Việc tổ chức vành đai xanh, xây dựng các đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái là một trong những ưu điểm nổi bật của đồ án quy hoạch chung lần này, góp phần cải thiện môi trường, khí hậu chung đô thị. Đây là cơ hội để sắp xếp, cải tạo chỉnh trang nông thôn mới, đồng thời xây dựng các đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái… theo hướng phát triển bền vững;
– Đối với kiến trúc cảnh quan, đô thị: Cơ hội để điều tiết chức năng từng công trình, khu vực. Từ đó kiểm soát, tạo dựng được không gian kiến trúc đô thị hiện đại và bản sắc; kiểm soát và cân đối công tác dân số, dân cư từng địa bàn; đây là cơ hội để tổ chức lại không gian cao tầng hiện đang lộn xộn, manh mún… theo hướng hiện đại và đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội khu vực, thống nhất trong tổng thể hình thái chung của đô thị;
– Đối với các công trình công cộng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội: Đây là cơ hội để cải tạo, xây dựng mới các hạ tầng đầu mối hiện đại, có quỹ đất dành cho giao thông… hoặc bổ sung, điều tiết hệ thống hạ tầng đô thị đã xuống cấp.
Những khó, khăn thách thức phải vượt qua
Đồ án Quy hoạch chung mang tính định hướng tới năm 2030 tầm nhìn tới năm 2050 nhưng vẫn phải giải quyết các vấn đề trước mắt:
– Việc tổ chức triển khai lập, thẩm định và phê duyệt các quy hoạch bao gồm các quy hoạch ngành, chuyên ngành, quy hoạch chung, phân khu đô thị, quy hoạch chi tiết, đặc thù… vừa đảm bảo khớp nối với Quy hoạch chung, đồng thời phải kế thừa các quy hoạch đã triển khai… là khối lượng công việc lớn và mất nhiều thời gian trong khi chất lượng, kinh nghiệm và năng lực triển khai, lực lượng cán bộ làm công tác quản lý quy hoạch, đội ngũ tư vấn lại yếu và rất thiếu;
– Khó khăn trong việc lựa chọn quy hoạch nào có khả năng kêu gọi đầu tư, tạo dựng nguồn lực để triển khai trước; Hình thức qui mô phát triển nào cho các đô thị vệ tinh: độc lập hay phụ thuộc chia sẻ; Bên cạnh đó, có những khó khăn lớn trong việc tạo sức hấp dẫn, hút dân cư và tạo việc làm, góp phần thực hiện việc giãn dân ra khu vực nội thành cũ, khu vực lõi trung tâm lịch sử; giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với việc gìn giữ bản sắc riêng cho các khu vực đô thị, nông thôn, giữa phát triển với bảo tồn các di sản kiến trúc, cảnh quan đang bị xâm hại…nhằm duy trì bản sắc văn hóa truyền thống trong các cấu trúc và không gian đô thị mới;
– Thách thức trong giải quyết những vấn đề lớn của đô thị như đã nêu Hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là khói, bụi, các sông hồ, nguồn nước ngầm…; bộ mặt kiến trúc đô thị, cải tạo các khu tập thể cũ, phát triển đô thị và cải tạo chỉnh trang làng xóm nông thôn mới, đảm bảo nhu cầu, tiến độ của các nhà đầu tư nhưng vẫn phải đáp ứng kiểm soát quy hoạch để không phá vỡ hình thái không gian chung đô thị… đều cần được giải quyết nhưng nguồn lực lại hạn chế;

Xây dựng hệ thống giao thông hiện đại tuyến đường Nhật Tân – Nội Bài

– Giải quyết các Dự án đã triển khai quy hoạch trước đây: Việc mở rộng Hà Nội trên cơ sở sát nhập từ các địa bàn tỉnh lân cận đồng nghĩa việc tiếp quản số lượng lớn các dự án quy hoạch trước đây, tạo ra những khó khăn lớn khi giải quyết, phải phân loại để xử lý;
– Đối với các khu đất hiện có của các đơn vị giáo dục, y tế, trụ sở của Bộ Ngành, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, trong nội thành thuộc diện di dời cần tổng hợp, thống kê quỹ đất, mục đích sử dụng, số lượng dân cư, việc làm…
Chất lượng quản lý thực hiện đầu tư xây dựng theo quy hoạch: Năng lực của hệ thống quản lý quy hoạch các cấp, sự phối hợp giữa các đơn vị, việc phân cấp quản lý khi lực lượng quản lý mỏng, chưa đồng bộ.
3. Những nội dung cơ bản cần ưu tiên trong triển khai các quy hoạch chi tiết theo Quy hoạch chung Hà Nội
Bên cạnh công việc phổ biến, tuyên truyền quy hoạch, tổ chức công bố công khai, đăng tải trên các trang thông tin điện tử, thông tin đại chúng để phổ biến sâu rộng nội dung đồ án Quy hoạch chung tới các cấp, ngành, quận, huyện, thị xã, toàn thể cán bộ, nhân dân và doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố… , trong quá trình triển khai các đồ án quy hoạch sau đồ án Quy hoạch chung cần ưu tiên một số nội dung sau:
– Cụ thể hoá đồ án Quy hoạch chung về các vấn đề: dân số (chia sẻ hỗ trợ khu vực nội đô trung tâm lịch sử); Định hướng, cơ sở quỹ đất di dời, kế hoạch thực hiện Dự án, xác định các quỹ đất xây dựng tái định cư phục vụ dự án; xây dựng hạ tầng kỹ thuật đầu mối. Đối với các đơn vị giáo dục, y tế, trụ sở Bộ Ngành, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, trong nội thành thuộc diện di dời: Cần tổng hợp, thống kê quỹ đất, mục đích sử dụng, việc làm… đặc biệt là vấn đề dân cư vì đây là yếu tố cơ bản gây nên các giao dịch, hoạt động thường xuyên và không thường xuyên trong thành phố, nguyên nhân của tắc đường, thiếu các dịch vụ, tiện ích đô thị hiện nay. Trên cơ sở đó, xác định được nhu cầu còn thiếu của đô thị để tái đầu tư vào các khu đất này, vừa đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển, vừa bổ sung chức năng cho hạ tầng đô thị, đặc biệt là bổ sung các công trình công cộng dịch vụ, phúc lợi xã hội vốn rất thiếu trong khu vực trung tâm đô thị lich sử;
– Các quy hoạch chuyên ngành: Tổ chức triển khai lập, thẩm định và phê duyệt các quy hoạch: Tổng số khoảng 160 đồ án và quy chế quản lý bao gồm các Quy hoạch ngành và chuyên ngành, Quy hoạch chung (Đô thị vệ tinh, Thị trấn sinh thái, thị trấn thuộc Huyện và Thị xã), Quy hoạch xây dựng Vùng huyện, Quy hoạch phân khu đô thị, Quy hoạch chi tiết, Quy hoạch đặc thù (khu di tích, danh lam thắng cảnh, quy hoạch phòng thủ quan trọng), thực hiện việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị… đảm bảo khớp nối các quy hoạch chuyên ngành cùng với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp điện, cấp thoát nước…, Quy hoạch chuyên ngành khác như văn hoá, trường học, y tế…;
– Làng xóm trong đô thị: Sẽ được nghiên cứu để có giải pháp hạn chế và ngăn ngừa tối đa việc đô thị hóa xâm chiếm, phá vỡ cấu trúc đặc trưng, kiểm soát dân số, mật độ xây dựng, tầng cao, các không gian văn hóa, xã hội, các di tích văn hóa lịch sử. Lưu ý bổ sung quỹ đất cho hạ tầng đô thị: giao thông, nhà trẻ, trường học, văn hoá để dần xoá nhoà sự cách biệt về tiện ích đô thị giữa khu vực đô thị với làng xóm;

Gìn giữ làng nghề Cự Đà trong vành đai xanh sông Nhuệ

– Triển khai Quy hoạch phân khu: Đồ án Quy hoạch chung mới chỉ xác định các nguyên tắc, định hướng phát triển cơ bản cho các khu vực nên để làm rõ các nội dung lớn thì trong triển khai các đồ án cụ thể cần tìm tòi, sáng tạo các không gian chức năng, lựa chọn các yếu tố cần thiết từ điều kiện tự nhiên, môi trường như sông, hồ, cây xanh, đồi núi, cốt cao độ… đảm bảo gìn giữ bản sắc, phát huy tối đa những tiềm năng, ưu thế của từng vùng nhưng vẫn đồng thời gắn kết, trong sự phát triển cân bằng, hài hoà với nhau, làm sao để mỗi phân khu đô thị đều có nét đặc sắc riêng tạo ra “hồn nơi chốn”;
– Đô thị vệ tinh, Thị trấn sinh thái và các không gian xanh, nêm xanh: Linh hồn quan trọng nhất của đồ án quy hoạch lần này là các không gian xanh, ngăn chia đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái và tách rời các phân khu đô thị kiểu phát triển đô thị theo vết dầu loang và đô thị bị kết dính. Có thể nói, vành đai xanh sông Nhuệ hay các nêm xanh là gạch nối hữu cơ giữa các khu vực đô thị và cũng là quỹ đất còn lại cho các hoạt động cộng đồng, góp phần quan trọng trong việc cải tạo vi khí hậu cho toàn đô thị… do đó sẽ có quy định quản lý nhằm kiểm soát chặt chẽ sự phát triển xây dựng;
– Các không gian trung tâm công cộng của các phân khu, các cửa ngõ chính, tuyến đường lớn, các không gian cao tầng:
+ Đối với đô thị trung tâm: Hiện được chia làm 38 phân khu lớn: Khu vực nội đô gồm 13 phân khu, Chuỗi đô thị Đông Vành đai 4 và Bắc sông Hồng gồm 17 phân khu, 08 phân khu còn lại tại khu vực đô thị trung tâm phía Bắc và phía Nam sông Hồng. Đối với phân khu Khu vực nội đô lịch sử (vùng hạn chế phát triển) sẽ được kiểm soát đặc biệt với các giải pháp cụ thể như quy hoạch bảo tồn tôn tạo, kiểm soát xây dựng, mật độ dân cư… và có các thiết kế đô thị cùng quy định quản lý riêng để kiểm soát;
+ Đối với các đô thị vệ tinh: xây dựng thành những trung tâm đô thị của vùng huyện, là cực hút về việc làm, mua sắm, sử dụng các dịch vụ chất lượng cao và thu hút dân cư sinh sống, có thể xây dựng các công trình cao tầng tạo dấu ấn và đặc trưng cho đô thị;
– Xác định các khu vực, các cơ sở tạo ra việc làm với quy mô dân số của từng phân khu là một nội dung rất quan trọng, nhằm bảo đảm không tạo ra giao thông con lắc thường xuyên khu vực nội đô lịch sử với bên ngoài; Ngoài ra, cũng cần lưu ý các không gian phân khu kề cận với hành lang xanh phía Tây vành đai 4 sẽ tạo các cực hút về dịch vụ đô thị cho các vùng nông thôn xung quanh;

Bảo tồn tôn tạo di tích Hoàng Thành, di sản thế giới

– Đối với Di sản đô thị (làng xóm, di tích, thắng cảnh…): Kiểm soát chức năng từng khu vực, vị trí cụ thể. Đây là yếu tố quyết định vì sự thay đổi về chức năng sẽ dẫn đến sự biến đổi về hình thái không gian, góp phần gìn giữ và làm tăng thêm bản sắc đô thị, đặc biệt là đối với Thủ đô Hà Nội với lịch sử hơn 1000 năm tuổi, cần tạo thành hình ảnh đô thị có ký ức với đầy đủ cấu trúc đô thị minh chứng cho từng thời kỳ, giai đoạn phát triển, tạo nên đô thị phát triển có bản sắc, bền vững theo đúng mục tiêu Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại” như định hướng trong đồ án Quy hoạch chung đã nêu;
– Giải quyết các Dự án đã triển khai quy hoạch trước đây: Việc mở rộng Hà Nội mới trên cơ sở sát nhập từ các địa bàn tỉnh lân cận đồng nghĩa việc tiếp quản các quy hoạch, dự án trước đây, tạo ra những khó khăn lớn khi giải quyết, phải phân loại để xử lý: tiếp tục triển khai hay buộc phải thay đổi tính chất cho phù hợp với quy hoạch chung, xem xét ưu tiên dự án không ảnh hưởng đến cấu trúc đô thị, tạo cho các chủ đầu tư có khả năng về nguồn vốn xây dựng các khu chức năng đô thị trong bối cảnh thị trường bất động sản đang trầm lắng. 638 dự án đã được Thủ tướng và Thành phố cho phép;
– Thiết kế đô thị và kiểm soát kiến trúc đô thị: Xác định các không gian trọng tâm, các không gian đặc sắc của phân khu lõi để có các quy định quản lý phù hợp. Đặc biệt, đối với không gian kiến trúc cao tầng sẽ được quy hoạch, xác định các vùng đặc thù cho phép xây dựng một số công trình cao tầng, góp phần tạo hình ảnh đô thị hiện đại, công bố công khai để tuyển chọn nhà đầu tư… Đối với các tuyến đường và không gian chính của thành phố sẽ sớm có nghiên cứu tổ chức thiết kế đô thị, đặc biệt là các tuyến đường xuyên tâm, vành đai, các nút giao thông trọng điểm, cửa ngõ Thủ đô, các không gian trung tâm công cộng mới của Thành phố nhằm tạo dựng đặc thù riêng biệt, bản sắc cho từng khu vực nhưng vẫn gắn kết với địa bàn và với  định hướng quy hoạch chung;
– Đánh giá tác động môi trường sẽ là một khâu quan trọng trong quá trình xem xét, đầu tư xây dựng để đảm bảo đô thị phát triển bền vững, giảm thiểu tối đa các ô nhiễm như đã từng tồn tại trong thời gian qua;
– Các nội dung chức năng, quỹ đất chia sẻ với đô thị trung tâm, quỹ đất dự trữ: Trong triển khai các quy hoạch phân khu ngoài đô thị nội đô lịch sử cần quan tâm tới việc xác định các không gian chức năng cần thiết để chia sẻ với đô thị lịch sử, dành đủ các quỹ đất để có thể hỗ trợ, di chuyển các cơ sở trong nội thành ra bên ngoài cũng như đất cho các nhu cầu tái định cư, giải phóng mặt bằng, hạ tầng xã hội; đất xây dựng các không gian trung tâm công cộng của đơn vị hành chính, từng phân khu và đất dự trữ để phát triển cho các nhu cầu tương lai…
– Phân đợt xây dựng và các dự án ưu tiên đầu tư tạo năng lực: Đối với các chức năng tiện ích đô thị: Tổng hợp, xác định các khu vực còn thiếu hoặc yếu để bổ sung vị trí mới và hoàn thiện, nâng cấp địa điểm cũ, ưu tiên nghiên cứu, bổ sung, tái cấu trúc, sắp xếp lại các không gian kiến trúc… phục vụ nhu cầu sinh hoạt cộng đồng; Dành quỹ đất cho các chức năng văn hóa thể thao, vui chơi giải trí… Xác định các khu vực trọng tâm, trọng điểm, có chính sách ưu tiên, hỗ trợ đầu tư để kêu gọi và huy động tối đa mọi nguồn lực đầu tư nhằm tạo dựng các đô thị đồng bộ, hoàn chỉnh, không đầu tư tràn lan như hiện nay, làm động lực cho việc phát triển cả khu vực, vùng xung quanh nhằm ổn định cuộc sống sinh hoạt làm việc, góp phần giảm tải cho khu vực đô thị trung tâm.
– Trong lĩnh vực xây dựng nhà ở: Việc xây dựng mới tại các khu chung cư cũ là đáp ứng yêu cầu tất yếu của quá trình tái phát triển đô thị, nhưng cần xem xét gắn kết với địa bàn theo mô hình đơn vị ở cấp phường.  Chính vì vậy, các Dự án này phải được kiểm soát chặt chẽ. Hiện nay, Bộ Xây dựng soạn thảo Nghị quyết trình Chính phủ xem xét thay thế Nghị quyết số 34 năm 2007. Theo đó, Nhà nước sẽ là chủ đầu tư các Dự án này. Việc thay đổi này sẽ giải quyết được mâu thuẫn trong quan điểm và phương thức thực hiện, phát triển Dự án giai đoạn vừa qua. Như vậy, sẽ đạt được các mục tiêu: Kiểm soát dân cư không tăng, không chất tải hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước….) và hạ tầng xã hội vốn đã xuống cấp tại các khu vực trung tâm cũ của đô thị và Kiểm soát hình thái không gian kiến trúc theo định hướng đồ án quy hoạch chung;
– Tại các Đô thị mới: Ưu tiên tổ chức không gian với quy mô thấp tầng sinh thái là chủ yếu, các không gian cao tầng không bố trí dọc theo các tuyến đường như trước đây mà cần được tổ chức tập trung thành từng cụm, từng  khu vực hoặc gắn với các trung tâm công cộng, nhằm tạo dựng sắc thái riêng cho từng địa bàn, đa dạng và linh hoạt, không khô cứng.
Đối với khu vực nhà ở không đảm bảo điều kiện, chất lượng sống và thẩm mỹ đô thị cần xây dựng phương án tái định cư đảm bảo văn minh đô thị và ổn định đời sống cư dân;
Với một khối lượng công việc khổng lồ như trên, không thể nôn nóng triển khai ngay tất cả nhưng cũng không thể chờ thêm nữa… Chính vì vậy, UBND Thành phố đã đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh công tác này. Hiện đã có Kế hoạch triển khai các đồ án quy hoạch sau Quy hoạch chung cho toàn Thành phố trong đó giao Sở Quy hoạch – Kiến trúc là cơ quan tổng tư lệnh điều hành, giám sát và tổ chức thẩm định, trình UBND Thành phố phê duyệt.

Xây dựng các công trình kiến trúc tiêu biểu cho thời kỳ phát triển của Hà Nội

4. Thay cho lời kết
Đồ án Quy hoạch chung đã mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển của Thủ đô Hà Nội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn trong công tác quản lý triển khai, kiểm soát việc thực hiện đồ án Quy hoạch chung đảm bảo khả thi và đáp ứng nhu cầu thực tế của đô thị: Xây dựng kế hoạch thực hiện toàn diện các Quy hoạch, đề xuất triển khai ưu tiên các quy hoạch khung, cơ bản đồng thời với việc đề xuất các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, ưu tiên các dự án xây dựng các công trình hạ tầng đô thị.
Những nội dung cần ưu tiên được đề xuất trên đây sẽ là các yêu cầu, nhiệm vụ mà mỗi đồ án quy hoạch triển khai cụ thể cần quan tâm, giải quyết trong mối quan hệ đã được định hướng trong tổng thể Quy hoạch chung Hà Nội đã được phê duyệt. Chúng ta hy vọng rằng, với sự quyết tâm và sự đồng thuận của mọi cấp ngành từ Trung ương đến Thành phố, Đồ án Quy hoạch chung Hà Nội sẽ dần dần trở thành hiện thực, góp phần xây dựng một Hà Nội thực sự trở thành một Thủ đô “Xanh – Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”.
Có thể nói rằng: Năm 2012 là “Năm Thành phố đồng khởi làm Quy hoạch” và cũng là “Năm con Rồng – Biểu trưng của sự thịnh vượng”.

TS. KTS Nguyễn Văn Hải

Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội

Ảnh trong bài: KTS Nguyễn Phú Đức