Công trình công quyền hiểu theo nghĩa chung là các tòa nhà làm việc của chính quyền và được chia theo các cấp độ khác nhau, như cấp quốc gia (là nơi làm việc của Chủ tịch nước (Tổng thống), Thủ tướng, Quốc hội…), cấp thành phố (Chủ tịch UBND, Thị trưởng, tỉnh trưởng, chủ tịch HĐND) và có thể kể tới cấp quận, huyện và dưới nữa. Ở đây, trong khuôn khổ nội dung hội thảo, xin trình bầy ở cấp quốc gia, cấp thành phố và cấp tỉnh. Ở nhiều quốc gia trên thế giới và ở xứ ta ngày trước đều dùng danh từ tòa Thị chính hay Dinh, Phủ để chỉ loại công trình này ở cấp TP hay Tỉnh.

Nhà Quốc hội CHLB Đức – Berlin
1. Khái quát về sự biến đổi liên quan tới các công trình Công quyền
Qua thực tế phát triển trên thế giới và ở Việt Nam, có bốn sự biến đổi chính tác động tới việc xây dựng và vận hành loại công trình này. Đó là :
– Về nhận thức
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai có nhiều biến đổi về xã hội chính trị, chủ nghĩa thực dân mất đi các nước thuộc địa. Nhiều quốc gia đã có nền độc lập và đều hướng tới xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, bình đẳng. Các nước thực dân trước đây cũng thay đổi theo hướng để cho thế giới biết mình là một quốc gia đề cao nền tự do và dân chủ. Điều này đã tác động đến những người được dân bầu vào chức vụ cao nhất của thành phố hay tỉnh. Để chứng tỏ cho mọi người biết rằng họ hiểu vị trí nơi đang ngồi không phải dành riêng cho họ, nên họ đã cho phép mọi người có thể vào đó một cách dễ dàng. Lúc đầu chỉ ở một vài quốc gia hay địa phương làm việc này sau dần trở thành một xu hướng thể hiện sự thân thiện cởi mở. Tuy vậy, vẫn có một số quốc gia không đi theo xu hướng này, vì họ quan niệm đây là những công trình cần được bảo vệ và giữ bí mật!
– Về văn hóa
Trong sự phát triển toàn cầu, việc giao lưu giữa các quốc gia, vùng, miền rất thuận lợi, tạo nên những dòng khách du lịch ngày càng lớn. Một trong những yếu tố thu hút khách du lịch là văn hóa trong đó có kiến trúc, các tòa nhà công quyền luôn được mọi người chú ý. Tại sao vậy? – Có thể nói các công trình này thường được xây dựng ở những vị trí đắc địa như trên đồi có tầm nhìn bao quát hay quảng trường trung tâm… đồng thời, đó là các công trình hoành tráng, đẹp và có thể còn mang những yếu tố về lịch sử. Ví dụ như Văn phòng Thủ tướng tại Thủ đô hành chính mới Putrajaya (Malaysia) tọa lạc trên một quả đồi; Nhà Quốc hội của CHLB Đức tại Berlin mang đậm dấu ấn về lịch sử; Tòa thị chính mới của thành phố Tokyo (Nhật Bản) là biểu hiện của sự kết hợp giữa yếu tố hiện đại và truyền thống của Nhật Bản… Những nơi này hàng ngày luôn đón các đoàn thăm quan từ học sinh tiểu học cho tới du khách nước ngoài…
Cũng cần nhận thức rằng các tòa thị chính bên cạnh chức năng làm việc có thể được nhìn nhận như một trong nhiều Trung tâm chỉ dẫn văn hóa của thành phố. Tại tòa nhà Trung tâm hành chính Tokyo, hầu như toàn bộ sảnh tầng trệt là sảnh mở, ở đây được chia thành nhiều không gian với các thiết bị tự động, có thể cung cấp cho mọi người thông tin về lịch sử, văn hóa, ẩm thực… khi họ nhấn vào các nút hướng dẫn trên bàn phím.
– Về phương thức vận hành
Trước chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1945), các công trình công quyền thường có quy mô vừa phải và đơn chức năng, nhưng sau đó, đặc biệt là bốn thập kỷ cuối của thế kỷ 20, trên thế giới xuất hiện nhiều công trình công quyền có quy mô lớn và sử dụng đa chức năng – Ví dụ như Khu Trung tâm hành chính ở Thủ đô Brasilia của Brazin (KTS Lucio Costa), Thủ đô hành chính Putrajaya của Malaysia hay Trung tâm hành chính của TP Tokyo (KTS Kenzo Tange)… Ở Việt Nam, xu hướng này xuất hiện chậm hơn nhưng cũng thể hiện tương tự. Sự tập trung một số lượng người cùng làm việc trong một khu vực (có thể là cao tầng hay số tầng vừa phải) sẽ làm sự vận hành hoạt động của khu vực trở nên phức tạp. Ví dụ giao thông động và tĩnh, làm sao hạn chế tối đa được sự ùn tắc. Để giải quyết vấn đề này, Trung tâm hành chính Tokyo đã chia luồng di chuyển của các nhân viên đi bộ hoặc đi xe đều vào tầng hầm phía xa, trên cốt mặt đất dành cho người vãng lai, trong khu vực làm việc tạo những vườn cây, những tượng nhỏ hay đài phun nước nhằm làm đẹp cảnh quan đồng thời làm nơi nghỉ trưa của nhân viên và khách du lịch; ngoài rìa còn một số dịch vụ khác như chiếu sáng, điện nước… Ai sẽ điều phối công việc này? Đây là một vấn đề khá phức tạp, đặc biệt với chúng ta vốn quen tư duy “đèn nhà ai nhà ấy rạng”.
– Về áp lực công việc
Khi đô thị phát triển xuất hiện những thành phố lớn hay cực lớn thì tất nhiên công việc cũng sẽ nhiều lên và đa dạng hơn về mặt nội dung, điều này sẽ gây áp lực lớn cho người làm việc. Do vậy, cần thiết tạo không gian làm việc và không gian xung quanh để làm cho người làm việc thấy thoải mái.
2. Những giải pháp tạo sự thân thiện
Để có thể đưa ra những giải pháp cụ thể sát với thực tế cần phân các công trình công quyền thành những loại cụ thể. Có thể chia thành ba nhóm: Nhóm thứ nhất là những công trình cũ nhưng có giá trị về kiến trúc; nhóm thứ hai là công trình có mức độ tập trung vừa phải; nhóm thứ ba là công trình có mức độ tập trung cao với nhà cao tầng.
– Giải pháp cho nhóm thứ nhất
Đặc điểm là cần lưu giữ giá trị lịch sử và kiến trúc nhưng công trình không phù hợp với việc sử dụng như thiếu diện tích, không đủ tiện nghi. Trong trường hợp này, cần giữ công trình và chỉ để nó có chức năng như một mối nối giữa quá khứ với tương lai, ở đây mọi người có thể thăm quan, còn chức năng làm việc có thể xây dựng công trình mới ở bên cạnh. Giải pháp này trên thế giới cũng đã sử dụng và ngay ở TP HCM trên đường Nguyễn Huệ ta cũng gặp – Tuy nó không phải công trình công quyền nhưng về cách làm đã cho ta một lời giải.
– Giải pháp cho nhóm thứ hai
Đặc điểm là mật độ xây dựng không cao, số tầng không nhiều, thường dưới 5 tầng và có sân vườn. Trong trường hợp này, giá trị của nó là sự kết hợp sân vườn, mặt nước với công trình. Như vậy, để tạo sự thân thiện, nên tập trung vào không gian này và có thể tạo cho mọi người cơ hội tiếp xúc toàn bộ hay một phần sân vườn. Ví dụ: Nếu khu Trung tâm HCTT của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có thể áp dụng giải pháp này là rất phù hợp vì khi thiết kế KTS đã tạo ra nhiều góc nhìn đẹp.
– Giải pháp cho nhóm thứ ba
Đặc điểm lợi thế về chiều cao nên có thể bố trí một số hoạt động cho người đến thăm quan như tầng quan sát toàn cảnh và quán cà phê. Ví dụ, Tòa nhà hành chính Tokyo đã bố trí hai tầng quan sát ở hai khối nhà cộng với quán cà phê. Khách thăm quan dùng hệ thống thang máy có sức tải lớn và lên thẳng tầng quan sát, hoàn toàn bảo đảm không ảnh hưởng tới các tầng khác.
3. Làm sao để công trình công quyền trở nên thân thiện?
Để trả lời câu hỏi này có lẽ sẽ có nhiều đáp án theo cách suy nghĩ của mỗi người. Ở đây, tôi đưa ra một số ý kiến cá nhân để mọi người trao đổi:
– Cần có sự đổi mới trong cách tư duy của con người ở các cương vị khác nhau. Tôi vẫn còn nhớ vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, Bác Hồ đã có lần cho thiếu nhi Thủ đô vào phủ Chủ tịch để vui chơi cắm trại và triển lãm về kết quả học tập.
– Sự thân thiện cần thể hiện đầy đủ cho hai đối tượng: Người dân bình thường thấy công trình không xa lạ với mình ở hình thức và sự tiếp cận, người làm việc (nhân viên) thấy tiện nghi, dễ chịu.
– Mỗi công trình phải là một biểu tượng của địa phương, không nên nhắc lại sao chép hoặc ghép mảnh những ý thích cá nhân.
– Các không gian mở bên cạnh công trình như quảng trường, vườn hoa cần tạo cơ hội cho những hoạt động mang tính văn hóa của cộng đồng.
– Ngay trong khi lập nhiệm vụ thiết kế đã phải đưa ra tiêu chí thân thiện, cởi mở để người thiết kế có những giải pháp tổ chức không gian hợp lý, vừa đảm bảo tính mở nhưng vẫn giữ được tính nghiêm ngặt trong sử dụng.
– Cách quản lý không nên theo cách: Không kiểm soát được thì cấm. Công trình công quyền phải thể hiện được sự trang nghiêm nhưng đừng để nó bị xa rời người dân vì cách quản lý.
Công trình công quyền cần thể hiện được tính chất thể chế của quốc gia và Nhà nước Việt Nam – Nhà nước coi trọng độc lập và dân chủ.
GS.TS. KTS Phạm Đình Việt
Trưởng khoa Kiến Trúc – Trường ĐH Đông Đô




















