Sự trở lại của thiết kế sinh thái cho đô thị và công trình kiến trúc trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Tuy chỉ là nước góp phần nhỏ gây ra biến đổi khí hậu, song Việt Nam lại là một trong những nước đứng đầu (thứ 13 trong 16 nước đứng đầu danh sách) về mức độ chịu rủi ro lớn nhất của biến đổi khí hậu trong 30 năm tới. Nếu mực nước biển dâng lên 1m thì Việt Nam sẽ mất 12% đất sử dụng – nơi cư trú của 23% dân số (Theo dự báo của World Bank – 2009).
Trong khi nhiều người còn chưa nhận thức được, thì biến đổi khí hậu đã có những tác động to lớn đến Việt Nam và nhiều quốc gia khác, gây ra nhiều thảm họa tàn khốc: ngập lụt ở miền Bắc, bão ở miền Trung, triều cường ở miền Nam Việt Nam… trước đây xẩy ra vài năm một lần, thì nay diễn ra hàng năm, thậm chí nhiều lần trong một năm.
Cùng với sự bùng nổ phát triển kinh tế, sự phát triển thiếu kiểm soát đã khiến các đô thị của Việt Nam trở thành những “cỗ máy” tiêu tốn năng lượng và sản xuất ra khí thải – là những tác nhân gây biến đổi khí hậu. Theo thống kê của Bộ Xây Dựng, đến năm 2010, diện tích xây dựng sẽ tăng nhanh; các đô thị đang chiếm 30 – 40% năng lượng sử dụng; 19% lượng nước sạch tiêu thụ, 29% lượng gỗ khai thác, 40 – 50% nhiên liệu thô được sử dụng. Với tốc độ tăng trưởng của các đơn vị doanh nghiệp ngành xây dựng hiện nay, tổng năng lượng tiêu dùng trong khu vực xây dựng đô thị ước tính chiếm khoảng từ 20 – 24% tổng năng lượng quốc gia.

Nhận thức được những nguy cơ của biến đổi khí hậu, Thủ tướng đã phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu với các hành động tập trung vào giai đoạn 2009-2015. Tuy nhiên, giải quyết những vấn đề của biến đổi khí hậu là một công việc to lớn, không thể thực hiện được chỉ bởi đơn thuần Nhà nước Việt Nam hay các tổ chức qui hoạch kiến trúc. Đây là một nhiệm vụ đặt ra cho toàn xã hội.
Biến đổi khí hậu chính là vấn đề môi trường, thiên nhiên đã bị tác động và khai thác quá mức đến độ mà nó không thể tự khôi phục những gì mà nó đã có và từng là. Trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, có ba trạng thái ứng xử: thụ động, can thiệp và chống trả.
–    Ứng xử thụ động: là sự phản ứng vô thức và hữu thức của con người với điều kiện tự nhiên để thích ứng, tồn tại, không làm phương hại đến thiên nhiên.
–    Ứng xử can thiệp: xuất hiện ở mỗi cộng đồng dân tộc với sự tiến hóa văn minh, khi con người có đủ trí lực và nhận thức được nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu.
–    Ứng xử chống trả: đầu thế kỷ XXI khi khoa học công nghệ phát triển vượt bậc, con người có thể tạo ra những thứ mình cần và muốn, con người càng thỏa mãn mình thì càng nảy sinh nhu cầu thỏa mãn hơn và hơn nữa. Chính lúc đó con người phải chống trả lại cơn thịnh nộ của thiên nhiên.
Trong bối cảnh đó, đô thị và công trình kiến trúc được khoác lên mình chiếc áo giáp, xa cách khỏi môi trường thiên nhiên. Con người tự thỏa mãn mình bằng sự tiện nghi, sự dễ chịu bằng các phương cách nhân tạo. Đi ngược với cách nghĩ, cách làm đó, thiết kế sinh thái đã được quan tâm trở lại như là  một giải pháp thông minh – vừa thích ứng, vừa đáp ứng và dần trả lại cho thiên nhiên những gì đã lấy.

Thiết kế sinh thái không phải là một khái niệm mới nhưng đã được lồng ghép những tư tưởng mới trước những thách thức của biến đổi khí hậu. Thiết kế sinh thái có thể hiểu là sự tích hợp các yếu tố môi trường vào quá trình thiết kế và phát triển các sản phẩm đô thị và kiến trúc.
Đô thị hay các công trình kiến trúc đều là các sản phẩm lớn được tạo thành từ rất nhiều sản phẩm nhỏ. Do vậy để có được một đô thị sinh thái hay một kiến trúc sinh thái cần xuất phát từ các sản phẩm sinh thái và được sử dụng một cách phù hợp thông qua một thiết kế sinh thái. Với thiết kế sinh thái, đô thị và công trình kiến trúc được tạo lập dựa trên tinh thần của triết lý Phương Đông – đó là phát triển trên cơ sở tôn trọng và hòa hợp cùng thiên nhiên. Điều đó mang lại khả năng giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và thích nghi với khí hậu, mang đến sử dụng kinh tế hơn, tuổi thọ công trình cao hơn……
Với phương châm tiến tới tương lai nhìn lại hiện tại, thiết kế sinh thái luôn hướng tới những sản phẩm tiêu chuẩn không thừa không thiếu, điều này giúp triệt thoái những lãng phí năng lượng và tài nguyên, để dành cho tương lai.
Nội dung của phương pháp thiết kế sinh thái theo tư tưởng mới có thể tóm tắt ở một số điểm sau:
– Thiết kế sinh thái cần được nhìn nhận và áp dụng tổng thể trên các khía cạnh môi trường, xã hội, văn hóa và kinh tế. Thiết kế sinh thái không đi ngược lại nhu cầu phát triển kinh tế và điều kiện văn hóa xã hội của từng địa phương. Thiết kế sinh thái không phải là giải pháp riêng cho các nước phát triển mà của cả các nước đang phát triển, để giải quyết một loạt các vấn đề về môi trường đang đặt ra trên toàn cầu.
– Các sản phẩm sinh thái cần được triển khai bao trùm trên cả đô thị, công trình kiến trúc, vật liệu và các sản phẩm xây dựng. Những sản phẩm của thiết kế sinh thái là một quá trình khép kín: Giảm thiểu những đầu vào của đô thị và kiến trúc (những vật liệu thô); giảm thiểu đầu ra của đô thị và kiến trúc (ô nhiễm, rác thải, nước thải…); sử dụng triêt lý “nguồn gốc trở về nguồn gốc” để thực hiện việc tái sử dụng các vật liệu cũ càng nhiều càng tốt…
Nhiều công cụ hỗ trợ cho thiết kế sinh thái đã được đề xuất như là  LCA, PESSS, TRIZ….

Để thiết kế sinh thái có thể đi vào đời sống, cần thực hiện được bốn công việc không thể thiếu. Có thể liệt kê như sau:
–    Xây dựng chính sách: Cần có sự cam kết của cấp lãnh đạo và một hệ thống luật rõ ràng
–    Sản phẩm sinh thái: Cần phải tạo một nguồn cung các sản phẩm sinh thái dồi dào, phong phú và có chất lượng cao với giá thành hợp lý.
–    Khách hàng cho sản phẩm sinh thái: Cần xây dựng một thị trường sinh thái với các khách hàng sinh thái
–    Quản lý và khuyến khích các sản phẩm sinh thái: Cần xây dựng một hệ thống quản lý và đánh giá các sản phẩm sinh thái để phát huy thiết kế sinh thái một cách thực chất.

Trước những thách thức của biến đổi khí hậu, thiết kế sinh thái với tư tưởng mới là tiền đề cho hàng loạt kế hoạch hành động cho Việt Nam trong tương lai:
–    Xây dựng một cơ chế hỗ trợ và khuyến khích thiết kế sinh thái thông qua việc ban hành các hệ thống luật liên quan.
–    Tạo lập môi trường cho thiết kế sinh thái thông qua sự cân bằng của kinh tế và môi trường, áp dụng vào các sản phẩm công nghiệp và hoạt động thương mại.
–    Xây dựng các chương trình đào đạo về thiết kế sinh thái từ học sinh, sinh viên và mở rộng đến các tầng lớp trong xã hội.
–    Xây dựng các chuẩn ISO và hệ thống đánh giá cho các công trình và sản phẩm hướng tới sinh thái.
–    Xây dựng các mô hình thực hiện từ chính sách – thí điểm – lựa chọn hình mẫu chuẩn – áp dụng nhân rộng

Việt Nam có cả một bề dầy lịch sử chống chọi với thiên tai, việc nghiên cứu những kinh nghiệm thích ứng khí hậu thông qua các công trình kiến trúc truyền thống có thể cho ta biết những khả năng thích ứng với khí hậu trong tương lai như thế nào.
Nhiều cơ hội đang mở ra với thiết kế sinh thái trong quá trình phát triển tại Việt Nam. Quá trình mở rộng các vùng đô thị như Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh tạo ra nhiều cơ hội cho việc giảm thiểu tiêu thụ các nguồn tài nguyên và lượng khí thải. Đây cũng là điều kiện tốt cho việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng nền kinh tế hiệu quả về năng lượng xanh, sạch trên tinh thần của thiết kế sinh thái.
Bên cạnh đó, thiết kế sinh thái rất cần những nỗ lực mạnh mẽ của các cơ quan liên quan từ quản lý, giám sát và ngành công nghiệp xây dựng.
Trên đây là một số đóng góp nhỏ, hướng tới một Việt Nam văn minh xanh, có sức đề kháng cao với biến đổi khí hậu , rất mong được sự chia sẻ thêm từ các bạn đồng nghiệp.

TS.KTS Hoàng Mạnh Nguyên
Viện Kiến trúc Nhiệt đới – Đại học kiến trúc Hà Nội