Deconstruction (giải cấu trúc, giải kiến tạo) là một trào lưu triết học lớn cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI do triết gia người Pháp Jacques Derrida khởi xướng. Nó đã ảnh hưởng rất lớn đến kiến trúc đương đại mà biểu hiện rõ rệt nhất là sự thắng thế của trào lưu deconstructivism (giải cấu kiến trúc) hiện nay. Bài viết này sử dụng hai khái niệm pharmakon và parergon của Derrida để nghiên cứu sự chuyển dịch không gian bên trong và bên ngoài trong kiến trúc và thiết kế đô thị.

Toà nhà Orange Cube, Lyon, Pháp
Khái niệm Pharmakon và Parergon
Pharmakon là một từ Hy Lạp cổ, được sử dụng bởi Plato trong tác phẩm Phaedrus và Phaedo. Từ này không thể xác định nghĩa một cách rõ ràng và có thể được hiểu theo các kiểu: một loại thuốc, công thức, y học, hay thuốc độc.
Trong văn học nghệ thuật, pharmakon là sự xuất hiện đồng thời các mặt đối lập (nguyên bản/sao chép, trong/ngoài, sáng/tối, âm thanh/im lặng…) làm cho ý nghĩa tác phẩm (văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc…) không thể quy chiếu theo một cực nào. Trong lịch sử kiến trúc, pharmakon cũng được thể hiện ở việc pha trộn các phong cách, hay còn gọi là chủ nghĩa chiết trung (eclecticism), được sử dụng khá nhiều trong thế kỷ XIX (như tân gothic (neo-gothic), tân phục hưng (neo-renaissance)…) và nửa sau thế kỷ XX trong trào lưu hậu hiện đại (post-modernism).
Một biểu hiện đáng lưu ý của pharmakon trong kiến trúc mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bài viết này, đó là sự nhập nhằng giữa trong và ngoài. Một không gian bất kỳ đều đồng thời là không gian bên trong và bên ngoài. Ví dụ, không gian bên trong của một tòa nhà lại là không gian bên ngoài của kệ tủ, không gian bên ngoài của công trình lại thuộc về bên trong của đô thị. Sự bất định của trong và ngoài còn được thể hiện qua một khái niệm khác của deconstruction là parergon.
Parergon là một thuật ngữ xuất hiện trong cuốn sách Chân lý trong hội họa của Derrida, thể hiện sự chống lại những quan điểm mỹ học của Kant về sự phân định bên trong và bên ngoài tác phẩm. Theo Derrida, không thể có vẻ đẹp phổ quát như Kant mơ tưởng và cũng không thể phân định bên ngoài và bên trong một tác phẩm bởi như ông viết: “bên ngoài luôn luôn đi vào bên trong để xác định chính nó như là bên trong”. Derrida tiến hành giải kiến tạo cặp phạm trù bên ngoài/bên trong bằng sự phân tích những yếu tố viền của mỹ thuật như hàng cột, cửa sổ trong kiến trúc, khung tranh trong hội họa. Trong kiến trúc, những hàng cột đỡ mái hiên hay cửa sổ không thể xác định được nó thuộc bên trong hay bên ngoài công trình. Trong hội họa, khung tranh là bên ngoài với tác phẩm nhưng là bên trong đối với tường nên không thể xác định được chính xác tuyệt đối nó là bên ngoài hay bên trong… Như vậy, chúng ta có thể hiểu parergon là cái viền vô hình làm giao thoa, tan chảy các mặt đối lập sang nhau trong đó có cặp phạm trù bên trong/bên ngoài.

Trung tâm thương mại Emporia, Malmo, Thụy Điển

Sự tan chảy không gian bên trong/bên ngoài công trình kiến trúc
Trong bố cục hình khối kiến trúc, việc xử lý yếu tố viền giữa nội thất và ngoại thất công trình để không còn cảm giác tách biệt hai phạm trù bên trong/ bên ngoài là một gợi ý không mới mẻ gì bởi từ cổ xưa các KTS đã thực hiện. Đó các thành phần của công trình có tên gọi như hiên, sân trong, atrium (giếng trời trong kiến trúc La Mã cổ đại), pishtaq (khoảng lõm trên mặt tiền một công trình Hồi giáo)…
Tuy nhiên, những không gian chuyển tiếp nói trên tự nó có thể xác định được mình. Tức là, nếu phân chia không gian theo yếu tố ranh giới thì một công trình có 3 thành phần: bên ngoài – chuyển tiếp – bên trong. Nhưng quan niệm về bên trong/bên ngoài của deconstruction không phải hướng tới sự xác định yếu tố chuyển tiếp như trong kiến trúc cổ điển mà là sự tan chảy giữa thành phần bên trong và bên ngoài, dẫn đến sự không thể xác định được rõ ràng chúng. Khi đó, bên ngoài sẽ đi vào bên trong để xác định chính nó như là bên trong và ngược lại, bên trong sẽ chuyển hóa thành bên ngoài. Không còn ranh giới giữa trong và ngoài nữa. KTS sẽ phải dẫn dắt không gian bên ngoài thâm nhập vào bên trong (hoặc không gian bên trong lan tỏa ra bên ngoài) sao cho nó không còn là bên ngoài (hoặc bên trong) nữa. Nó sẽ trở thành một dạng luôn luôn chuyển dịch giữa trong và ngoài.
Sở dĩ chúng ta cảm nhận thấy sự phân chia bên trong – bên ngoài là vì chúng ta nhìn thấy các diện của khối bao bọc lại tạo thành không gian nội thất công trình và phần còn lại của không gian trở thành bên ngoài. Khi bên trong và bên ngoài không còn được phân định rõ ràng thì đối tượng tạo hình của kiến trúc sẽ không phải là các khối đặc nữa mà là một dạng chuyển dịch nước đôi: khối đặc/không gian trống. Mặt khác, không gian trống (của đô thị) lại là đối tượng nghiên cứu chính của thiết kế đô thị. Những điều này đã gợi ý chúng tôi dùng triết lý deconstruction, cụ thể là tính bất định (không thể xác định được vị trí) của không gian (bên trong/bên ngoài) để tiếp cận thiết kế đô thị, xin được trình bày dưới đây.
Thiết kế đô thị với sự tan chảy không gian bên trong/bên ngoài
Thiết kế đô thị bắt đầu từ thiết kế công trình
Trong thực tế, thiết kế đô thị thường được lồng ghép vào đồ án quy hoạch đô thị hoặc được triển khai sau khi đã có quy hoạch. Nói chung, trình tự thực hiện các công việc là: quy hoạch đô thị → thiết kế đô thị → thiết kế kiến trúc. Đó là hệ quả của tư duy coi thiết kế đô thị là một lĩnh vực diễn ra bên ngoài công trình (đường phố, các không gian mở). Tuy nhiên, khi không gian bên trong và bên ngoài công trình không còn được phân định nữa thì thiết kế đô thị có thể được tiến hành ngay từ lúc thiết kế kiến trúc, và sẽ ảnh hưởng ngược lại đến quy hoạch cải tạo trong tương lai. Các công việc sẽ được thực hiện theo kiểu nước đôi đồng thời/trình tự: thiết kế kiến trúc /→ thiết kế đô thị /→ quy hoạch đô thị.
Việc thiết kế một công trình kiến trúc song hành cùng với thiết kế đô thị sẽ được thể hiện ở hai điểm: thứ nhất, gắn kết các tuyến nhìn bên trong và bên ngoài thành một tuyến xuyên suốt trong/ngoài; thứ hai, tạo các không gian đan xen trong/ngoài để các hoạt động của người dân thành dòng chảy liên tục.
Ngay từ khi thiết kế một công trình kiến trúc trong đô thị (đặc biệt là những công trình công cộng) thì KTS phải xem xét các tuyến nhìn từ bên ngoài đường phố tới công trình để khơi gợi người dân có hứng thú thực hiện các hoạt động ở khu vực công trình. Đồng thời, KTS cũng phải khéo léo tạo các tuyến nhìn từ công trình ra ngoài môi trường xung quanh để có được những tầm nhìn đẹp. Khi không gian bên trong/bên ngoài tan chảy vào nhau thì các tuyến nhìn này (từ đô thị vào công trình và từ công trình ra ngoài không gian xung quanh) trở nên hợp nhất. Người dân sẽ không bị cảm giác ngăn cách giữa không gian bên trong và bên ngoài, không cảm thấy sự tách biệt giữa công trình với đô thị. Điều này sẽ tạo cho người dân cảm giác về một dòng chảy xuyên suốt toàn bộ đô thị, làm dịu đi những vách ngăn tầm nhìn không thoải mái lắm như các mảng tường nhà, hàng rào, barie…
Cùng với sự tan chảy về không gian, sự tan chảy về hoạt động của người dân giữa bên trong và bên ngoài sẽ xuất hiện. Những hoạt động bên ngoài đường phố sẽ xâm nhập vào công trình và ngược lại, những công việc vốn diễn ra trong nhà sẽ được thực hiện ở ngoài phố. Từ đó, sẽ xuất hiện các hoạt động kiểu như: mua bán tại các ki-ốt nhỏ, tiếp thị, biểu diễn nghệ thuật, trưng bày, café, tụ tập, gặp gỡ, ngắm cảnh…
Để làm sáng tỏ hơn những lý luận ở trên, chúng tôi xin trình bày 3 ví dụ thực tế ở châu Âu. Mặc dù vậy, các ví dụ này vẫn chưa thể hoàn toàn trùng khớp với lý luận trong/ngoài của deconstruction. Dẫu sao, qua những ví dụ này, chúng ta sẽ thấy lý thuyết về sự tan chảy trong/ngoài có thể tạo ra được những không gian thú vị. Đó là những không gian vừa như thuộc về công trình (cá thể, bên trong), vừa như thuộc về đô thị (toàn thể, bên ngoài).
Ví dụ 1: Orange Cube – Đồng nhất các tuyến nhìn bên trong và bên ngoài công trình
Tòa nhà hỗn hợp thương mại và văn phòng Orange Cube ở Lyon do Jakov và Macfarlane Architects thiết kế, với một khối hộp màu cam bị cắt khoét bởi ba khối nón. Việc cắt khoét đã cho phép không gian bên ngoài tràn vào bên trong công trình và tạo ra khoảng rỗng hình nón, từ đó những tuyến nhìn từ bên trong và bên ngoài hòa quyện vào nhau. Không phải ngẫu nhiên mà chủ đầu tư công trình này chấp nhận lãng phí một khoảng không tự nhiên lớn như vậy, bởi chính khoảng trống đó tạo ra những giá trị khác biệt cho công trình. Sự cuốn hút thị giác khi nhìn thấy một cái lỗ to kì dị trên bề mặt công trình sẽ khơi gợi người dân ham muốn tìm hiểu về công trình và dễ ghi nhớ địa điểm này. Mặt khác, khi ở trong công trình nhìn ra ngoài qua vùng trống đó, người dân sẽ cảm thấy như thể cảnh quan xung quanh (sông, cây xanh, bến thuyền) len lỏi vào tận công trình. Có lẽ không ít người đến công trình này chỉ để ngắm cảnh bờ sông qua khoảng trống hình nón đó.
Ví dụ 2: Emporia – Biến không gian trong công trình thành không gian ngoài đường phố
Trung tâm thương mại Emporia ở Malmo được Wingardh Arkitektkontor thiết kế bằng cách khoét khối ở giữa mặt tiền, gợi hình ảnh cánh chim. Bề mặt uốn lượn bằng kính của khoảng lõm sâu trên mặt tiền tạo ra hiệu ứng hấp dẫn thị giác, thôi thúc người dân đến với công trình để thực hiện các hoạt động như mua sắm, giải trí, ăn uống, gặp gỡ… Tầng 1 của công trình lùi vào trong tạo hành lang-hiên xung quanh, kết hợp với khoảng lõm ở giữa mặt tiền đã làm cho khoảng không của đường phố tràn vào công trình, tạo điều kiện cho các hoạt động trên hè phố được thực hiện trong khu đất của công trình. Chủ đầu tư chấp nhận hi sinh một diện tích đất cho các hoạt động đường phố để nhận được một giá trị khác – sự lôi cuốn đối với người dân muốn tiếp cận công trình và sự thoải mái của họ khi sử dụng không gian trong khu đất như thể đó là không gian công cộng đô thị. Có vẻ như một khoảng không gian lõm vào ở mặt tiền (vừa trong vừa ngoài) cuốn hút người dân hơn là một khối đặc phô trương nào đó.
Ví dụ 3: Galleria Vittorio Emanuele II – Biến không gian ngoài đường phố thành không gian trong công trình
Được xây dựng từ năm 1865 nhưng đến nay Galleria Vittorio Emanuel II vẫn là một trong những mẫu mực về thiết kế đô thị. Đó là một ví dụ biến không gian đô thị thành không gian nước đôi trong/ngoài, vừa như thuộc về đường phố, vừa như thuộc về công trình. Đây là một tuyến phố diễn ra các hoạt động như mua sắm, ẩm thực, nghỉ ngơi… và được che bởi mái vòm kính với các khung vòm đặt trên nóc các tòa nhà hai bên đường. Các lối vào của galleria được xây cổng, trông giống như lối vào một tòa nhà. Không gian dạng tuyến này còn tạo ra sự kết nối hai công trình điểm nhấn nổi tiếng của Milan (nằm ở hai đầu galleria) là Nhà thờ Milan và Nhà hát La Scala.
Kết luận
Triết học deconstruction không chỉ đã làm thay đổi tư duy về tạo hình kiến trúc đương đại mà còn có thể sẽ ảnh hưởng đến tư duy thiết kế đô thị đương đại. Triết lý về sự tan chảy các không gian trong/ngoài mới chỉ là một phần nhỏ trong hệ thống lý thuyết phức tạp và đồ sộ của deconstruction nhưng cũng đã gợi mở cho chúng ta rất nhiều điều thú vị về thiết kế đô thị. Đó là sự tạo ra những không gian tan chảy đan xen các yếu tố như: bên trong/bên ngoài, công trình/đô thị, lợi ích tư nhân/giá trị cộng đồng… Hy vọng trong tương lai sẽ có những KTS, những nhà thiết kế đô thị của Việt Nam sẽ áp dụng lý thuyết deconstruction để tạo ra những không gian đẹp cho các đô thị nước nhà.
KTS Vũ Hiệp
Đại học Giao thông vận tải



















