Tình hình Kiến trúc Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015

Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam; Tổng biên tập Tạp chí Kiến trúc

Phát triển kiến trúc là một quá trình liên tục. Do đó, việc đánh giá tình hình kiến trúc Việt Nam 5 năm qua là làm rõ xu hướng vận động của kiến trúc từ giai đoạn trước về các vấn đề và hiện tượng, đồng thời xem xét việc thực hiện nhiệm vụ kiến trúc trọng tâm đã được đặt ra trong giai đoạn 2010-2015 của Đại hội VIII. Những nhận định chính như sau:

1
Khu đô thị Phú Mỹ Hưng

1. Lý luận và phê bình kiến trúc.
Thực tế cuộc sống kiến trúc trong những năm qua đang đặt ra nhiều vấn đề mới và khác trước, đòi hỏi lý luận phê bình kiến trúc phải tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng để góp phần định hướng phát triển kiến trúc. Đó là về đội ngũ sáng tác trẻ và năng động hơn với sự tham gia của tư vấn nước ngoài, về cách tiếp cận dự án trong nền kinh tế thị trường với sự đa dạng về thể loại và khuynh hướng kiến trúc và công nghệ mới: về nhận thức và cảm thụ thẩm mỹ của công chúng đã có nhiều thay đổi,…
Nhận thức được những hạn chế của nghiên cứu lý luận và phê bình kiến trúc chưa bắt kịp thực tiễn, trong nhiệm kỳ VIII, Hội đã chú trọng tập hợp kiến thức để tiến tới xây dựng cơ sở lý luận kiến trúc Việt Nam trên cơ sở thực hiện nhiều đề tài khảo sát, nghiên cứu nghiên cứu quỹ kiến trúc truyền thống, viết sách Lịch sử Kiến trúc Việt Nam, trực tiếp phản biện xã hội về kiến trúc, cập nhật thông tin kiến trúc trong nước và thế giới,…

Hoạt động lý luận, phê bình và phản biện xã hội về kiến trúc đã góp phần tích cực trong định hướng sáng tác kiến trúc. Cụ thể là: Kiến trúc nhại cổ bị thu hẹp, đến nay hầu như không còn xuất hiện; Kiến trúc hiện đại dần quay trở lại với những giá trị đích thực, lấy công năng làm trọng và coi cảnh quan thiên nhiên là mối quan tâm hàng đầu; Kiến trúc địa phương đang định hình; Kiến trúc dân gian mới, nhất là kiến trúc nhà ở gia đình đi vào ổn định và tạo hình ảnh kiến trúc mới ở đô thị và nông thôn. Đặc biệt, lý luận kiến trúc đã có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn định hướng và tuyên ngôn Kiến trúc xanh Việt Nam. Kiến trúc xanh, thực sự đã có những chuyển biến tích cực ban đầu trong giới và được cộng đồng xã hội ghi nhận. Có thể khẳng định, đây là một trong những mục tiêu hướng tới của kiến trúc Việt Nam. Tạp chí Kiến trúc – Cơ quan ngôn luận của Hội KTS Việt Nam là đơn vị di tiên phong trong việc phản ánh đời sống sáng tác sôi động của giới nghề trong giai đoạn này. Nhiều bài viết đăng tải trên Tạp chí đã nhận Giải thưởng của Hội đồng Lý luận văn học và Nghệ thuật. Tạp chí Kiến trúc cũng vinh dự nhận Giải thưởng này trong các năm 2012, 2013

Tuy nhiên, những hạn chế của hoạt động lý luận, phê bình và phản biện xã hội về kiến trúc vẫn thường trực. Để khắc phục, đối với công tác lý luận, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn kết hợp nghiên cứu lý luận kiến trúc thế giới và chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp. Đồng thời tăng cường sự chủ động trong truyền thông và phản biện xã hội về kiến trúc.

Khu đô thị mới Nam Thăng Long Ciputra Hanoi International City
Khu đô thị mới Nam Thăng Long Ciputra Hanoi International City

2. Quy hoạch đô thị
Toàn cầu hóa khẳng định ưu thế của đô thị và đánh giá thế kỷ XXI là thế kỷ đô thị với mô hình Đô thị bền vững. Từ đó, quy hoạch đô thị (QHĐT) trở thành bộ môn thiết kế tổng hợp đa ngành thuộc lĩnh vực của Thiết kế môi trường với sự gắn kết giữa nghiên cứu chiến lược (CDS), thiết kế quy hoạch và quản lý đô thị.

Tuy nhiên, công tác QHĐT ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Về lý luận, vấn đề cốt lõi là cho đến nay, chúng ta chưa xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cơ sở khoa học và phương pháp luận về QHĐT Việt Nam hiện đại.

Hệ thống và thể chế quy hoạch chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, trong đó nghiên cứu quy hoạch chiến lược (CDS) hay còn gọi là quy hoạch cấu trúc là một phương pháp QHĐT quan trọng, tiến bộ đã được đưa vào áp dụng ở nước ta nhưng chưa phát huy tác dụng thực sự. Trong khi công tác khảo sát, phân tích và dự báo quy hoạch thiếu chính xác nên nhiều QHĐT được lập không thống nhất, gây lãng phí nguồn lực xã hội, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chất lượng đồ án QHĐT thấp, kém khả thi. Quản lý thực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập. Năng lực tư vấn thiết kế còn yếu. Cải cách hành chính, cũng như nguồn lực và mô hình đầu tư chậm đổi mới.

Về công tác tư vấn thiết kế QHĐT. Đối với QHXD vùng, hiện có 2 cách tiếp cận: Tiếp cận chuyên ngành mang tính tập hợp và tiếp cận đa ngành, tích hợp. Những đồ án được thực hiện theo cách tiếp cận thứ nhất tập hợp các đồ án và số liệu thực tiễn nên QHXD vùng không đảm nhiệm được vai trò điều tiết vĩ mô và tạo ra sự phát triển hài hòa trong vùng. Một số đồ án QHXD vùng tỉnh như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Quảng Ninh theo cách tiếp cận thứ hai đã có những kết quả bước đầu khả quan với những giải pháp kết hợp hài hòa lợi ích giữa các đại diện của vùng.

Đối với QHĐT, có các xu hướng phổ biến, là: Xu hướng Kỹ trị, xu hướng chính trị và xu hướng đối phó tình huống trong QHĐT mang nặng tính chất duy ý chí, thậm chí biện hộ, tạo ra sản phẩm kỹ thuật theo nguyện vọng của chủ đầu tư, của chính khách hay nhóm lợi ích, ít có giá trị nhân văn. Xu hướng thương mại hóa, là hiện tượng phổ biến, chạy theo thị trường dẫn đến các đồ án QHĐT vị lợi nhuận mà tăng hệ số sử dụng đất, tối thiểu hóa nhu cầu sử dụng công cộng và hạ tầng của dân cư. Cuối cùng là xu hướng phát triển bền vững, đây là mục tiêu của kiến trúc và QHĐT ở nước ta.

Trong thời gian tới, một trong những vấn đề quan trọng đối với công tác QHĐT ở nước ta là nhanh chóng xây dựng cơ sở khoa học QHĐT và xác định mô hình đô thị bền vững Việt Nam.

3. Quy hoạch và kiến trúc nông thôn
Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thể hiện cụ thể bằng Chương trình tổng thể phát triển Nông thôn mới và các chương trình khác, như: Chương trình tôn nền vượt lũ, xây dựng cụm tuyến dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình xóa đói giảm nghèo; Chương trình xóa nhà tạm; Chương trình hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa; Chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở vùng bão lũ, … Các chương trình đã và đang đi vào cuộc sống và đã đạt được những thành công nhất định, trong đó có quy hoạch, kiến trúc nông thôn.

Hiện nay cả nước có 67% dân cư nông nghiệp và phần lớn các xã và trung tâm cụm xã được lập quy hoạch xây dựng. Được phát triển theo 19 tiêu chí Nông thôn mới, nông thôn ở khắp các vùng miền của nước ta có những thay đổi sâu sắc trên mọi phương diện. Hạ tầng kỹ thuật và xã hội được nâng cấp, hiện đại hóa. Công nghiệp, thủ công nghiệp, làng nghề phát triển, thu hút nhiều đầu tư và lao động. Đời sống của nông dân được cải thiện rõ rệt. Bộ mặt kiến trúc có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, bắt đầu xuất hiện những kiến trúc mới, nhất là các công trình phúc lợi công cộng và một số kiểu nhà ở mới ở nông thôn. Đặc biệt trong năm năm vừa qua, Hội KTS Việt Nam tổ chức thi tuyển mẫu nhà ở nông thôn và đi đầu trong thử nhiệm thành công mẫu nhà chống bão, lũ ở khu vực miền Trung.

Tuy nhiên, trong quy hoạch và kiến trúc nông thôn vẫn còn những hạn chế. Trước hết, dễ nhận thấy nhất là xây dựng nông thôn mới chưa có sự tiếp nối thành quả xây dựng của quá khứ trên cơ sở tổng kết quá trình phát triển quy hoạch và kiến trúc nông thôn trước đây. Vì thế, đồ án quy hoạch được triển khai nhanh, số lượng nhiều nhưng chất lượng kém. Ô nhiễm môi trường, nhất là làng nghề ở một số địa phương. Kiến trúc truyền thống chưa được coi trọng. Kiến trúc mới thiếu đặc trưng, phổ biến hiện tượng sao chép, thiếu sáng tạo và phố hóa làng với kiểu nhà ống đô thị. Tất cả tiềm tàng nguy cơ mất dần bản sắc kiến trúc vùng miền.

Để khắc phục những hạn chế, cần nghiên cứu cơ bản để xác định giá trị kiến trúc truyền thống, hướng tới xây dựng hệ thống tiêu chí chuẩn mực về quy hoạch và kiến trúc nông thôn mới sát đặc thù vùng miền. Đồng thời, tổ chức thiết kế mẫu kèm theo hướng dẫn để phổ biến và huy động vốn bảo tồn kiến trúc truyền thống và phát triển kiến trúc nông thôn mới. Bên cạnh đó, để nâng cao tính khả thi của đồ án, tăng cường sự phối hợp giữa các nhà chuyên môn với cộng đồng dân cư và chú trọng quản lý kiến trúc nông thôn bằng cấp phép.

4. Kiến trúc công cộng và nhà ở
Đầu tư xây dựng giảm trong 5 năm vừa qua, cùng với sự cạnh tranh trong thị trường tư vấn ngày càng mạnh mẽ với ưu thế của các KTS nước ngoài, nên số lượng công trình xây dựng mới cả công cộng và nhà ở không nhiều như những năm trước, hoạt động hành nghề của các KTS Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn. Bên cạnh đó, những quan điểm và xu hướng kiến trúc mới cùng công nghệ, kỹ thuật và vật liệu xây dựng hiện đại, tiên tiến được nhập khẩu, có tác động trực tiếp và tích cực đến sự phát triển của kiến trúc ở nước ta.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng trên thực tế, một số thể loại công trình công cộng và nhà ở vẫn được đầu tư xây dựng. Về công trình công cộng, là các công trình trụ sở làm việc của Quốc hội, của các cơ quan nhà nước, các công trình trong trung tâm hành chính tập trung, Bệnh viện, Bảo tàng,…Về nhà ở, bên cạnh nhà ở tư nhân vẫn tiếp tục phát triển và đi vào ổn định hình thức kiến trúc, có mô hình khu đô thị mới tập trung mật độ cao hay theo xu hướng xanh, sinh thái; đặc biệt xuất hiện nhà ở xã hội, các dạng chung cư mi ni phục vụ đối tượng có thu nhập trung bình và thấp trong đô thị.

Nhìn chung, xu hướng kiến trúc hiện đại khẳng định được vị trí. Kiến trúc hiện đại hướng tới công năng sử dụng với trang thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tiên tiến là phổ biến như nhiều bệnh viện quy mô lớn 1000 giường, nhà ga hàng không với khẩu độ lớn hay trụ sở làm việc siêu cao tầng. Kiến trúc hiện đại theo hướng biểu hiện, tiếp nối thời kỳ trước, đi vào ổn định về ngôn ngữ với các công trình bảo tàng, đài tưởng niệm. Xuất hiện xu hướng kiến trúc địa phương, kiến trúc cộng đồng với nội dung sử dụng thiết thực được xã hội ghi nhận. Đặc biệt, kiến trúc xanh đã có những kết quả ban đầu đáng khích lệ, được cộng đồng trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, cần được đẩy mạnh trong giai đoạn tới. Đó là những công trình xanh được thiết kế chủ yếu theo hướng thụ động, còn theo hướng ứng dụng công nghệ cao chưa nhiều.

Tuy nhiên, kiến trúc hiện đại Việt Nam, đến nay vẫn chưa rõ bản sắc, thể hiện sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu và văn hóa vùng miền. Ngoài ra, vẫn phổ biến hiện tượng rất đáng phải được quan tâm là trung ương hóa kiến trúc địa phương thông qua hệ thống các công trình được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước tại địa phương. Hình thức của những công trình kiến trúc này xa lạ và không phù hợp với đặc điểm tự nhiên và văn hóa của địa phương.

Riêng về kiến trúc nhà ở, những công trình được thực hiện trong giai đoạn 2010-2015 có tính hiện thực, sát với nhu cầu thực của thị trường hơn. Kiến trúc căn hộ độc lập, khép kín có sự cải thiện đáng kể về tính hợp lý, tiện dụng. Nhưng giải quyết chiếu sáng và thông thoáng vẫn còn những hạn chế do chưa áp dụng các giải pháp tạo khe thoáng để thông gió và chiếu sáng đã được đề xuất từ trước. Tương tự, đối với chung cư cao tầng, yếu tố lợi nhuận vẫn chi phối. Tính chất cao cấp của chung cư không phản ánh thực chất. Số lượng từ 18 đến 20 căn hộ/tầng phổ biến trong khi hợp lý chỉ ở ngưỡng 8 căn hộ/tầng. Hình thức kiến trúc không mới và chưa có đặc trưng của kiến trúc nhiệt đới Việt Nam.
Có thể nói kiến trúc nhà ở giai đoạn 2010-2015 dù vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn luận thêm, nhưng về cơ bản đã tham gia có hiệu quả vào việc giải tỏa những ách tắc của thị trường bất động sản, tạo nên những chuyển biến khả quan trong hoạt động xây dựng, góp phần thực hiện các chính sách ổn định xã hội.

5. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc và đô thị
Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc và đô thị, trong những năm gần đây được nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm theo hướng chuyên nghiệp hóa. Bởi hoạt động bảo tồn thiếu tính chuyên nghiệp đã để lại hậu quả nghiêm trọng, trong khi đó di sản kiến trúc và đô thị của nước ta nhiều về số lượng và đa dạng về thể loại, đặt ra nhu cầu bảo tồn và phát huy giá trị là rất lớn. Mặt khác, mâu thuẫn giữa đòi hỏi phát triển hiện đại với bảo tồn luôn thường trực (như xây dựng Nhà Quốc Hội trên vị trí Hoàng thành Hà Nội xưa, hay cầu vượt qua Đàn Xã Tắc,…) và là vấn đề phức tạp cần sự phối hợp đa ngành để giải quyết hợp lý…

Thực tế bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc, đô thị giai đoạn 2010-2015 theo hướng chuyên nghiệp đã có những bước tiến mới, căn bản. Trước hết là quan niệm đúng về bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong mối quan hệ đa ngành, (khác với quan niệm phổ biến coi công tác bảo tồn như xây dựng cơ bản) cùng với cách tiếp cận bài bản trong quy trình từ đánh giá hệ thống di sản, lập kế hoạch, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản, trong đó vai trò của KTS bảo tồn được đề cao. Trường hợp bảo tồn và phát huy giá trị Đình Chu Quyến và Khu khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội là những ví dụ tiêu biểu.

Hạn chế lớn nhất trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc, đô thị ở nước ta hiện nay là thiếu cơ sở lý thuyết bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc và đô thị Việt Nam. Vì thế, chúng ta chưa có đội ngũ làm công tác bảo tồn chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản. Bên canh đó, trên thực tế bảo tồn, ngoài vấn đề quản lý yếu kém còn xuất hiện một số xu hướng lệch lạc như: Xu hướng thay thế và làm mới kiểu Trùng tu bền vững; Xu hướng chú trọng tôn tạo hơn bảo quản, tu bổ; Xu hướng xây mới. Tất cả dẫn đến nguy cơ làm mất giá trị di sản đơn chiếc, cũng như phá vỡ giá trị cấu trúc đô thị di sản và khu vực đô thị di sản.

6. Môi trường hành nghề và đội ngũ KTS
Thực tế hành nghề những năm qua cho thấy: Không có môi trường hành nghề tốt thì sẽ không có sáng tạo, không có cạnh tranh bình đẳng dẫn tới không có tác giả, tác phẩm kiến trúc tốt. Trong những năm qua, các chính sách và chế độ quản lý nhà nước đối với hành nghề thiết kế kiến trúc đã được cải tiến. Song so với yêu cầu hành nghề đặc thù của KTS và so sánh với môi trường hành nghề tại các nước trong khu vực thì quản lý hành nghề, tổ chức hành nghề của chúng ta còn nhiều hạn chế.

Trên thực tế đang tồn tại rất nhiều vướng mắc dẫn tới những bất cập trong hành nghề kiến trúc. Đó là các vấn đề cơ chế, chính sách cho hành nghề kiến trúc trong cơ chế thị trường, vấn đề vai trò của KTS – tác giả từ đồ án thiết kế đến thực thi công trình, là chế độ thiết kế phí, quyền tác giả, quy chế xét chọn, thẩm định và quản lý… nhưng tập trung nhất, then chốt nhất là thiếu một mô hình, một phương thức quản lý hành nghề hữu hiệu, đảm bảo trật tự, công bằng và những điều kiện cơ bản cho hành nghề chân chính, cạnh tranh lành mạnh và hội nhập quốc tế trong giới. Những bất cập này đã diễn ra từ lâu nhưng không được giải quyết do thiếu nhưng công cụ pháp lý đủ mạnh trong khuôn khổ thống nhất của một bộ luật về hành nghề kiến trúc tại Việt Nam.

Góp phần cùng các cơ quan quản lý nhà nước, từng bước tạo dựng môi trường hành nghề lành mạnh là một nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định được Hội KTS Việt Nam đề cao và theo đuổi trong nhiều nhiệm kỳ. Giải pháp lâu dài của giới KTS là kiên trì vận động, phối hợp chặt chẽ cùng các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng Luật KTS hoặc Luật hành nghề KTS theo khuyến nghị của Hiệp hội KTS quốc tế UIA mà hầu hết các nước trên thế giới đều có. Giải pháp trước mắt là tiếp tục hoàn thiện thể chế; cải thiện chất lượng đầu tư; xóa bỏ sự bất hợp lý, thiếu bình đẳng trong biểu phí thiết kế giữa trong và ngoài nước; hoàn thiện quy chế tổ chức thi tuyển phương án kiến trúc; thực thi quyền tác giả trong kiến trúc…
Nhiệm vụ đặt ra đối với hoạt động của Hội KTS Việt Nam trong thời gian tới.

Trong thời gian qua, mặc dù còn khó khăn về kinh tế và bất cập trong môi trường hành nghề kiến trúc, nhưng Kiến trúc Việt Nam giai đoạn 2010-2015 đã có những bước tiến nhất định. Đặc biệt là với kiến trúc xanh, kiến trúc cộng đồng bằng những công trình cụ thể, dù còn ở quy mô khiêm tốn, chúng ta đã có bước đi đầu tiên hòa nhập chung vào xu hướng kiến trúc đương đại của thế giới.

Mặt khác, những biểu hiện tích cực của xu hướng kiến trúc hiện đại phù hợp với điều kiện kinh tế, thích ứng với đặc điểm tự nhiên và văn hóa địa phương đang được khẳng định. Nhiều công trình tạo được dấu ấn kiến trúc của địa phương, thể hiện sự đa dạng của xu hướng kiến trúc bản địa, góp phần tạo nên hình ảnh kiến trúc hiện đại ở đô thị và nông thôn nước ta. Đó là thành quả lao động của các thế hệ KTS, trong đó nhiều KTS đã thành danh, đáng chú ý là lớp KTS trẻ có những đóng góp đáng kể và đang ngày càng khẳng định tài năng và triển vọng phát triển của mình.

Trong thời gian tới, để nền kiến trúc nước nhà tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại và bản sắc, Hội KTSVN nhận thức và chủ trương định hướng phát triển kiến trúc gắn liền với xã hội, đúng hơn là Kiến trúc có trách nhiệm với xã hội.

Trên cơ sở đó, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, như: Tiếp tục đẩy mạnh Kiến trúc xanh, kiến trúc nông thôn mới; Tập trung xây dựng cơ sở lý luận thúc đẩy sáng tác quy hoạch và kiến trúc Việt Nam; Hoàn chỉnh dự thảo Luật hành nghề KTS; Tham gia tích cực trong việc phản biện xã hội và hoàn thiện thể chế hoạt động kiến trúc và xây dựng; Chú trọng sinh hoạt chuyên môn, nhất là công tác đào tạo ngắn hạn, cập nhật kiến thức cho KTS; Đẩy mạnh công tác xuất bản, truyền thông, bình chọn đồ án xuất sắc, tôn vinh KTS tác giả, nâng cao nhận thức của cộng đồng về quy hoạch và kiến trúc.

PGS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
Trích tham luận Báo cáo tại Đại hội IX Hội KTS Việt Nam

TCKT số 03-2015