Tương đồng trong văn hóa môi trường ở truyền thống của Việt Nam và Nhật Bản – Chất xúc tác cho các thiết kế của Nihon

Chủ tịch HĐQT Công ty Nihon Sekkei Việt Nam
 

Nhật Bản và Việt Nam có nét tương đồng rất rõ rệt trong văn hóa ẩm thực như cùng dùng đũa, sử dụng lương thực chính là lúa gạo và các chế phẩm như mì (Nhật Bản), bún, phở (Việt Nam), văn hóa  trà…. Món ăn Việt Nam có vị muối thích hợp cộng thêm vị ngọt thanh, cách sử dụng hương vị ngọt này tương đồng với món ăn Nhật Bản… Như vậy để thấy rằng Văn minh nông nghiệp lúa nước chính là nguồn cội của hai nền văn hóa Nhật – Việt.
 
Cùng có “căn cước” văn hóa như vậy nên văn hóa kiến trúc cổ truyền của Việt Nam và Nhật Bản cũng có những nét tương đồng thú vị. Điển hình là những đơn vị ở truyền thống với các làng xóm (hay thôn, bản) tại Việt Nam cũng như những làng Nhật Bản hầu hết được hình thành từ một dòng họ hay một đồng tộc. Những nhóm người cùng dòng họ, đồng tộc thường tập trung định cư tại một khu vực nhất định nào đó nếu ở đấy hội tụ điều kiện cho họ lao động, sản xuất để tồn tại. Không thể phủ nhận vai trò, ảnh hưởng của những nhân tố lịch sử, văn hóa, xã hội…, song điều kiện địa lý tự nhiên là cơ sở đầu tiên của sự hình thành nên ngôi làng. Những điều kiện đó thường là đất đai, nguồn nước và khí hậu – các yếu tố quyết định tới cuộc sống của cộng đồng cư dân nông nghiệp. Nói cách khác, sự tương thích của con người với môi trường tự nhiên dẫn đến cách tổ chức không gian cư trú được biểu hiện qua ngôi làng truyền thống ở Việt Nam và Nhật Bản. Sự hình thành làng còn có những nguyên nhân khác như: kết quả của quá trình khai khẩn vùng đất mới, việc mở rộng đất đai hay làng mới ra đời từ làng gốc. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy nhất là không gian môi trường tự nhiên (miền núi, trung du, bình nguyên, đồng bằng, ven biển), cùng với điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể (chính sách khai hoang của chính quyền, biến động xã hội, gia tăng dân số…) là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hình thành làng. Từ đó, sự tương đồng cũng thể hiện rõ về phong tục thờ cúng tổ tiên, các anh hùng dân tộc, các vị thần tự nhiên, nghi lễ nông nghiệp cầu mùa màng bội thu, các lễ hội dân gian…. Chẳng hạn, ở làng Việt Nam có ngôi đình là nơi thờ Thành Hoàng làng thì làng Nhật Bản có ngôi đền thờ Thần đạo, đó đều là nơi tế lễ, địa điểm tổ chức các hoạt động cộng đồng ở làng. 
 
Kiến trúc ngôi nhà truyền thống của Việt Nam và Nhật Bản cũng có những điểm tương đồng lý thú. Ngôi nhà truyền thống đều làm từ vật liệu tự nhiên là gỗ và đất. Bộ khung nhà  gỗ truyền thống ở Nhật Bản và Việt Nam đều chủ yếu dựa vào kỹ thuật ghép mộng (mộng trơn, mộng thắt, mộng xuyên) và ngoãm nhân tạo. Sự kết hợp giữa các kỹ thuật dựng này được người ta sử dụng trong kết cấu xà, cột, mái, vì kèo…Ngôi nhà truyền thống của Nhật Bản cũng như ngôi nhà truyền thống Việt Nam đều có cách bố trí không gian mở với thiên nhiên, coi trọng sự hòa nhập với môi trường, sử dụng cây xanh mặt nước  là yếu tố cấu thành môi trường sống. Các yếu tố nội thất cũng rất tương đồng như chiếu tatami ở Nhật và chiếu cói ở Việt Nam…. 
 
 
 
Một đặc điểm của ngôi nhà ở Nhật Bản là có một mái nhà lớn và mái hiên sâu để bảo vệ ngôi nhà, tránh ánh nắng từ mặt trời vào mùa hè nóng bức và các mùa mưa, điều này cũng tương tự như mái hiên của ngôi nhà truyền thống Việt Nam. 
 

Như thế, ta có thể thấy hai nền văn hóa Nhật Bản và Việt nam đều có những điểm chung dựa trên nguồn gốc và tập quán sinh sống, địa lý, khí hậu…, điều đó dẫn đến các quan điểm về môi trường sống cũng giống nhau, đó là bố cục không gian mở và cộng sinh với thiên nhiên.
 
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chúng ta ngày càng có thể áp dụng những giải pháp tiên tiến nhất để đạt được các tiêu chí về một môi trường cộng sinh với thiên nhiên. Trong dự án mới nhất của Nihon Sekkei tại Việt Nam, Tòa tháp Vietcombank Hà Nội, chúng tôi đã sử dụng khái niệm “dải ruy băng xanh” như một tích hợp các yếu tố công nghệ thiết kế “xanh” từ Nhật Bản để áp dụng cho công trình nhằm đảm bảo một thiết kế bền vững, tiết kiệm năng lượng,  phù hợp với tập quán Việt Nam về “môi trường xanh” làm nên yếu tố sinh thái bản địa thích hợp.