Vài cảm nhận về Kiến trúc Việt Nam từ “Đổi mới” đến nay

Tôi dùng tiêu đề bài viết nhỏ này bắt đầu bằng từ “Vài cảm nhận…” không phải vì xã giao hay công thức, mà xuất phát từ hai lý do, hai tư cách cá nhân. Một mặt, tôi là người ngoại đạo trong lĩnh vực kiến trúc, cả hiểu biết, sáng tác, lý luận và phê bình. Mặt khác, cũng như mọi người khác trên thế gian này, tôi lại là người “nội đạo” của kiến trúc, vì cả đời tôi, bất cứ lúc nào, từng giờ, từng phút, đều trực tiếp sống, làm việc, nghĩ suy, vui, buồn… trong kiến trúc, từ những nhà tranh vách đất thời gian khó, đến nhìn ngắm, khen chê, buồn, vui với các công trình kiến trúc phát triển ồ ạt, ngổn ngang… trong khoảng 20 năm qua. Không có kiến trúc, không có đời sống của con người, kể từ buổi bình minh của nhân loại. Với hai tư cách đó, cho phép tôi “tự do” phát biểu vài cảm nhận của mình, dù đúng hay sai, trên Tạp chí chuyên ngành của Hội.

1
Cầu Ánh Sao – TP Hồ Chí Minh

Đất nước trải qua 30 năm chiến tranh (1945-1975), cả nước lo cho sự “tồn tại hay không tồn tại” của cả dân tộc, vượt qua muôn vàn khó khăn tưởng như không thể vượt qua được, chúng ta đã trụ vững, Tổ quốc được giải phóng, bảo vệ và thống nhất. Trong tình thế đặc biệt đó, kiến trúc phải lùi một bước, không thể phát triển, chỉ làm những công trình, sản phẩm gì thiết yếu cho cuộc chiến đấu.

Kết thúc chiến tranh, kiến trúc bắt đầu có đất dụng võ trên phần lớn các mảnh đất, các thành phố, các khu vực bị tàn phá nặng nề, nhiều nơi bị san phẳng thành bình địa. Tôi thiển nghĩ, đáng lẽ ra, trong các vùng đất đầy thảm hoạ, bị san phẳng đó, mọi cái bị đổ nát, phải là cơ hội của kiến trúc vì được bắt đầu từ đầu. Đó là “thời cơ” của kiến trúc. Song, hơn 10 năm sau chiến tranh (1975 -1986), kiến trúc của chúng ta, tuy có những tìm tòi và thể nghiệm ban đầu, cùng với khó khăn về kinh tế của đất nước, lạc hậu trong chỉ đạo và quản lý, hơn 10 năm ấy, kiến trúc của chúng ta thành công thì ít, thất bại nhiều hơn, sự ì ạch, lúng túng, bắt chước mô hình cũ lộ rõ. Trong thời gian này, phần lớn các công trình chỉ dừng lại ở mục tiêu tạm dùng, tạm ở, tạm yên tâm để vượt qua thời kỳ khủng hoảng về kinh tế đang tác động đến toàn xã hội, từng đơn vị, cơ quan, cộng đồng và gia đình, cá nhân. Đành vậy, nhưng thật là tiếc, kiến trúc Việt Nam đã chậm, đã lạc hậu, đã không có cơ sở lý luận để định hướng hoạt động, lại mất 10 năm do khó khăn chung của dân tộc sau chiến tranh.

Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), đặc biệt khoảng 20 năm qua, kiến trúc Việt Nam, trong cảm nhận của tôi, đã có một bước phát triển vượt bậc về cả quy mô và chất lượng, cả mặt mạnh và cả những hạn chế trong quá trình tự vượt mình. Kiến trúc của ta vừa hoành tráng, vừa ngổn ngang, vừa cố gắng vươn lên tiệm cận với kiến trúc hiện đại, vừa lúng túng định hướng cho sự phát triển vững chắc, chủ động, tự tin, vừa nhạy cảm nắm bắt cái mới của kiến trúc thế giới đương đại, vừa ít nhiều vồ vập, bắt chước, nhại lại (cả cổ và kim, cả Đông và Tây). Phải chăng, nếu chỉ có cảm nhận ấy sẽ có phần chưa thoả đáng, mà cần khẳng định rằng: Các nhà kiến trúc Việt Nam đã có mặt, tham gia trực tiếp vào quá trình thay đổi đáng tự hào về hình ảnh tổng thể của đất nước, cái mà bất cứ ai, cả người nước ngoài và đồng bào trong nước đều nhìn thấy – Đó là diện mạo được đổi mới và phát triển mạnh của kiến trúc Việt Nam hôm nay. Đất nước đã thay “trang phục” mới – đẹp, hoành tráng, đa dạng hơn ở nhiều đô thị, thành phố, khu vực. Đó là sự phát triển có tính đột biến của kiến trúc. Những vùng đô thị mới của Hà Nội, TP HCM, những khu nghỉ dưỡng, nghỉ mát ở miền Trung, và rồi Đà Nẵng – từ một vùng đất chỉ có ý nghĩa “trung chuyển”, tập kết quân sự của Mỹ đã trở thành, về cơ bản, một thành phố mới thực sự, nhờ có sự góp phần trực tiếp của tư duy kiến trúc. Vài dẫn chứng trên, để minh chứng cho một bước phát triển mới của kiến trúc Việt Nam, đó là năng lực quy hoạch xây dựng – một lĩnh vực đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của kiến trúc. Hình như năm 2009, từ đề xuất của những người hoạt động, chỉ đạo, quản lý kiến trúc mà Chính phủ đã điều chỉnh và hoàn thiện định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia với tầm nhìn đến năm 2050? Tôi cũng có điều kiện đi một số vùng miền và quả thật, ngỡ ngàng và vui mừng với những đô thị hiện đại hiện lên rất đẹp mắt, các đặc khu kinh tế, các quảng trường, các đại lộ hoành tráng, các cửa khẩu dọc biên giới, các cảng biển lớn… Hình như, khoảng hơn 20 năm qua, cả nước ta trở thành một công trường xây dựng lớn. Cùng với các công trình quốc gia đồ sộ là sự mọc lên các toà nhà hành chính, các biệt thự, các khu cao ốc, văn phòng, khách sạn, chung cư hiện đại với số lượng ngày một nhiều, tiện nghi hiện đại hơn, quy mô ngày càng lớn hơn và vì tự rút kinh nghiệm thất bại hoặc chưa thành công trước đó, mà những công trình sau đẹp hơn, công năng phù hợp hơn, dân tộc hơn, hiện đại hơn và xanh hơn. Và mấy năm gần đây, tư duy kiến trúc xanh đã xâm nhập và hấp dẫn các nhà kiến trúc Việt Nam, giúp họ có những thành công đáng mừng, tiệm cận với tư duy hiện đại và nỗ lực tạo ra sự phù hợp, hài hoà của kiến trúc xanh với điều kiện đặc thù của đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá, truyền thống và môi trường sinh thái Việt Nam với sắc thái từng vùng, miền trên đất nước ta. Tất cả những cái đó đều có sự đóng góp tài năng, trí tuệ, tâm huyết và cả sức lực của các nhà kiến trúc Việt Nam, từ chức năng tư vấn, năng lực quy hoạch, tư duy thiết kế và cả tổ chức thi công…

Là người dân bình thường, đã sống qua những ngôi nhà gianh 3 gian từ truyền thống xa xưa ở nông thôn thời kháng chiến chống Pháp tới các nhà tranh nứa ọp ẹp, nhỏ hẹp chỉ được coi như cái “túp lều” thời sơ tán chống Mỹ đến các căn phòng chung cư xây dựng theo kiểu kiến trúc Xô Viết, và rồi đến các nhà ống đầy ắp trong các đô thị, thành phố… tôi cảm nhận, 20 năm trở lại đây, sự đổi mới thực sự khi khá nhiều dân cư được sống trong những khu đô thị mới có quy mô, diện tích rộng lớn, có đầy đủ tiện nghi và trang bị nội thất khá sang trọng. Tuy còn không ít vấn đề về chất lượng, về quản lý, về sự đảm bảo bền vững của cuộc sống cho người dân ở đây, song phải nhận thấy đó là một thành tựu của sự phát triển, trong đó, có sự đóng góp của toàn giới kiến trúc.

Vui thì vui thật, song, vẫn có một cảm nhận buồn, nếu đi từ các đô thị hoành tráng mới mọc lên đến các vùng nông thôn, miền núi… Có những nỗ lực của kiến trúc ở đây, tìm tòi, thể nghiệm những mô hình mới phù hợp với các vùng này như đường, trường, trạm, nhà cho vùng bão lũ ở miền Trung, vùng ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, bảo tồn, bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa… sự cố gắng của kiến trúc theo kịp cuộc sống xây dựng nông thôn mới. Song, tôi vẫn cảm nhận rằng, không biết có đúng không, đây vẫn còn là vùng đất rộng lớn mà kiến trúc còn đuối sức, còn lúng túng trước sự biến đổi mạnh và nhanh, ngổn ngang và phức tạp của quá trình đô thị hóa nông thôn, của bước đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta. Hình như giá trị văn hóa, giá trị kiến trúc và cảnh quan truyền thống ở nông thôn, vì thế, đang đứng trước nguy cơ bị biến dạng do ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa nông thôn? Tại sao những sai sót, nhược điểm đó chưa được khắc phục cho đến hôm nay? Kiến trúc có một phần chịu trách nhiệm không? – Có lẽ đó là lý do khiến kiến trúc nông thôn phát triển gần như tự phát, không bền vững vì thiếu định hướng và đang mất dần những giá trị truyền thống được vun đắp nhiều đời. Kiến trúc chưa đến được với người nông dân và nông thôn ở nhiều vùng trong cả nước. Nếu cảm nhận này có một phần đúng thì quả là tiếc lắm cái đẹp cần bảo vệ, phát triển và vận dụng của kiến trúc truyền thống để nó hài hòa với kiến trúc hiện đại không thể né tránh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

Tôi tự hỏi: Tại sao kiến trúc của chúng ta có bước phát triển mạnh như vậy trong 20, 30 năm qua, mà vẫn bộc lộ những yếu kém ai cũng có thể nhận thấy. Ngổn ngang, bề bộn ít nhiều, lộn xộn “lổn nhổn” trong cái nhìn tổng thể của kiến trúc một vùng, một khu vực, một đô thị… (Cái nhà Hàm cá mập ở giữa thủ đô Hà Nội, ai cũng đã biết và kêu ca, và gần đây nhất, người ta đã quyết định chặt không thương tiếc 6.700 cây xanh ở thủ đô, may mà tiếng nói của người dân đã bắt những người ra quyết định phải dừng lại). Thế là lỗi không phải chỉ có các nhà kiến trúc mà của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan. Đổ lỗi tất cả sai sót, yếu kém cho kiến trúc là không khách quan. Song, lại phải thấy, đội ngũ kiến trúc của ta chưa đủ mạnh để có tiếng nói có sức thuyết phục, chi phối và tư vấn cho những nhà quản lý, lãnh đạo, cho các chủ đầu tư, cho những người nhiều tiền (và cả những người ít tiền vì cái “khó bó cái khôn” mà).

Mặt khác, có lẽ, kiến trúc của ta, từ nhiều năm nay, thiếu một thứ vô cùng quan trọng, đó là lý luận kiến trúc dẫn đường. Người hành nghề cụ thể, người “truyền nghề” thì nhiều, nhưng các chuyên gia lý luận có tư duy và năng lực xây dựng hệ thống lý luận kiến trúc, hình như còn thiếu? Những thử thách đối với lĩnh vực này quả thật là quá lớn. Lý luận kiến trúc thế giới đã có từ hàng ngàn năm và những năm gần đây lại đang biến đổi, tìm kiếm và phát triển mạnh mẽ, năng động với nhiều xu hướng và trường phái. Ta không có được truyền thống đó. Thực tiễn phát triển kiến trúc Việt Nam 20, 30 năm qua lại rất nhanh, lý luận không theo kịp, phê bình chưa kịp bình luận, đánh giá lại đã xuất hiện ngay những công trình mới, xấu hay đẹp, hài hòa hay kệch cỡm, không cần dư luận ra sao, vẫn hiện diện ngay trong đời sống. Nhiều lúc, phê bình lại né tránh, nể nang!

Tôi cũng thích đọc một số công trình cơ bản về lý luận kiến trúc để học hỏi thêm. Tôi cảm phục sự nỗ lực của nhiều nhà hoạt động kiến trúc tiếp cận tư duy kiến trúc hiện đại của thế giới, song, tôi tiếc, tiếc lắm, hai điều: Một, sự tiếp cận đó đôi khi thiếu hệ thống, chỉ dừng lại ở lý thuyết, ít được vận dụng. Hai, liệu có thể, từ học hỏi thành tựu lý luận kiến trúc hiện đại của thế giới và đặc biệt, từ truyền thống kiến trúc và thực tiễn kiến trúc Việt Nam để từng bước xây dựng hệ thống lý luận kiến trúc ở nước ta không?

Gần đây, tôi thực sự vui mừng được đọc đôi chút về kiến trúc xanh và được biết Hội KTS Việt Nam coi đó là hướng phát triển tất yếu tạo ra kiến trúc bền vững, hiện đại và có khả năng tận dụng, phát triển cao nhất những giá trị của kiến trúc truyền thống, phù hợp với môi trường đặc thù và các loại vật liệu xây dựng, kiến trúc của dân tộc…

Thành tựu ban đầu đã xuất hiện, một số giải thưởng về mô hình kiến trúc xanh của Việt Nam đã được quốc tế trao tặng. Song, có lẽ, chặng đường đó chỉ là bước đầu, phía trước còn ngổn ngang, chưa thể tự tin, chủ động tạo ra những sáng tạo mới, công trình mới theo hướng đó được thi công trong thực tiễn.

Tình cờ, tôi đọc được 5 tiêu chí của “Kiến trúc xanh Việt Nam”. Tôi cảm nhận đơn giản, hình như 5 tiêu chí đó là trúng, song cái đặc thù, độc đáo, cái đặc trưng, cái hiện đại của kiến trúc xanh là gì? Nội hàm của nó có phải là 5 tiêu chí rời nhau, tách nhau ra không hay phải là sự “tổng hòa”, “tổng hợp” xuyên thấm vào nhau của các tiêu chí đó. “Bền vững” không chỉ của kiến trúc xanh, mà là một tiêu chí của kiến trúc từ thời La Mã đến Phục hưng… Song bền vững của kiến trúc xanh phải gắn với vật liệu gì, phải phù hợp với môi trường xã hội, khí hậu, sinh thái ra sao, từ đó công năng của kiến trúc xanh phải gắn với bản sắc dân tộc, nhu cầu và tâm lý người sử dụng?… Xanh không phải là hình thức, hình dáng, khí hậu… mà là chất lượng tổng hợp của công trình trên cơ sở của tư duy mới về kiến trúc trong thời kỳ hiện đại. Quả là một thách thức lớn phía trước đối với kiến trúc nước ta.

Chú trọng phát triển đào tạo quan tâm tới chất lượng, trình độ của đội ngũ KTS kế cận, có lẽ, xã hội và công chúng cần và mong được lắng nghe nhiều hơn nữa tiếng nói của các nhà lý luận và phê bình kiến trúc. Hình như, lực lượng, đội ngũ này còn “hẻo” quá, mà tôi cảm nhận, chính họ phải là những người vừa là bạn đồng hành, đồng cảm, vừa là người phản biện, bình giá, đánh giá khách quan, khoa học, trung thực, thẳng thắn để góp phần điều chỉnh và định hướng cho sự phát triển của kiến trúc nước nhà hiện nay và những năm tới.

Là người ngoại đạo, mấy cảm nhận trên chắc chắn sẽ có không ít sai sót. Là người “trong cuộc” với tư cách luôn luôn sống trong kiến trúc, các cảm nhận được mạnh dạn bày tỏ này là chân thành với niềm vui vì sự phát triển của kiến trúc mà tôi và nhiều người được thụ hưởng, làm cho cuộc sống thanh thản hơn, và với một mong ước của người dân chờ đón kiến trúc Việt Nam đạt nhiều hơn nữa những thành công mới, trong tương lai.

GS.TS Đinh Xuân Dũng
Ủy viên Hội đồng Lý luận Ban Tuyên giáo Trung Ương Đảng
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật

TCKT số 03-2015