Lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam – Vấn đề và giải pháp

Vai trò của lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam

Lý luận là hệ thống những tri thức và quan điểm được khái quát và phản ánh từ kinh nghiệm thực tiễn về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan. Lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, có thể tác động và làm biến đổi thực tiễn. Lý luận kiến trúc là các lập luận, tranh luận để nhận thức các vấn đề về kiến trúc, được luận giải từ các lý thuyết kiến trúc. Từ đó, lý luận được chuyển hóa thành các quan điểm trong nghiên cứu và thiết kế. Hệ thống các lý thuyết và luận điểm kiến trúc cũng được chuyển hóa thành Triết lý thiết kế và Phương pháp luận sáng tác.

Phê bình kiến trúc là công việc mang tính nghiên cứu của những chuyên gia trong lĩnh vực kiến trúc. Lý luận phê bình mang tính hàn lâm là các lý luận bình giải, đánh giá giá trị các thiết kế và sáng tác kiến trúc không chỉ dựa trên kinh nghiệm mà còn dựa trên hệ thống lý luận, kho tàng lý luận của cộng đồng, quốc gia và nhân loại. Ngày nay, nó được sự hỗ trợ của cái gọi là dữ liệu lớn (big data) của công nghệ thông tin, một trong những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, giúp cho việc trích dẫn thể hiện tính khoa học của phê bình kiến trúc. Phê bình kiến trúc lấy đối tượng là tác phẩm kiến trúc cụ thể hoặc cả một trào lưu, xu hướng để phân tích và đánh giá ưu, nhược thông qua miêu tả, diễn giải và lý giải tác phẩm hoặc trào lưu kiến trúc.

Lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam trước hết xuất phát từ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển một nền kiến trúc Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc. Dưới góc độ quản lý nhà nước, lý luận và phê bình kiến trúc đóng vai trò quan trọng trong định hướng phát triển kiến trúc quy hoạch của đất nước, thể hiện trong Luật Kiến trúc, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch và các văn bản, các thông tư nghị định từ các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, lý luận và phê bình kiến trúc ở Việt Nam còn được phát triển từ những vấn đề cụ thể của hoạt động hành nghề nhằm nghiên cứu, giải quyết các vấn đề từ thực tiễn, liên quan tới kinh tế xã hội, công nghệ, biến đổi khí hậu…

Ở Việt Nam, lý luận kiến trúc và phê bình kiến trúc thường gắn với nhau như một thuật ngữ ghép. Lý luận tác động tích cực tới phê bình vì phương pháp và kiến thức trong nghiên cứu lý luận sẽ giúp cho công tác phê bình và phản biện xã hội không bị rơi vào trạng thái ngập tràn tự biện, cảm xúc cá nhân. Ngược lại, phê bình tác động tích cực tới lý luận vì nó làm cho hệ thống lý luận hàn lâm thiết thực với đời sống xã hội hơn, gắn bó với cuộc sống và thực hành kiến trúc, chứ không phải chỉ là các nghiên cứu lý thuyết phi thực tiễn.

Thực trạng phát triển lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam

Công tác lý luận và phê bình kiến trúc quy hoạch, về cơ bản có 2 hướng nghiên cứu chính: Một là các nghiên cứu về văn hóa lịch sử và di sản kiến trúc đô thị liên quan tới bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc truyền thống cả ở đô thị và nông thôn. Hai là các nghiên cứu về kiến trúc đương đại Việt Nam kết hợp với những tiến bộ của kiến trúc thế giới, các xu hướng kiến trúc và QHĐT hiện đại trên thế giới liên quan đến một loạt các vấn đề như: Mối quan hệ vùng đô thị, tích hợp đa ngành, đô thị sinh thái – bền vững, đô thị thông minh, net zero, bản sắc kiến trúc, hiện đại hóa bản địa… Trong khi đó mảng nghiên cứu về Kiến trúc và quy hoạch nông thôn, mặc dù đã được quan tâm nhưng vẫn còn mờ nhạt. Đã có một vài dự án nghiên cứu phát triển nông thôn như: Nghiên cứu quy hoạch nông thôn gắn với sinh kế của nông dân và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, kiến tạo mô hình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), mô hình làng văn hóa du lịch… Những nghiên cứu trên đã làm thay đổi cách tiếp cận môi trường nông thôn trong đô thị và đô thị trong nông thôn. Có thể nhận thấy công tác Lý luận và Phê bình kiến trúc vẫn còn tồn tại những vấn đề như sau:

  • Một là, nền tảng lý luận kiến trúc chủ yếu dựa vào phương Tây, chưa hình thành hệ thống cơ sở khoa học về lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam, chưa thích ứng hóa các xu hướng lý luận hàn lâm của thế giới vào thực tiễn phát triển kiến trúc Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân: Về mặt khách quan, thiếu sự truyền tải các tác phẩm lý luận kinh điển, các nhà lý luận tên tuổi trên thế giới vào Việt Nam; Thiếu các phân tích bình luận các xu hướng sáng tác kiến trúc mang tính hàn lâm; Thiếu các nghiên cứu áp dụng thích ứng các công nghệ về Quy hoạch và Kiến trúc hiện đại vào hoàn cảnh Việt Nam; Thiếu các nghiên cứu tích hợp kiến trúc truyền thống trong kiến trúc đương đại Việt Nam, chưa đi sâu nghiên cứu các giá trị cốt lõi trong kiến trúc đương đại từ kiến trúc truyền thống và bản địa Việt Nam – là yếu tố tạo nên Bản sắc kiến trúc Việt Nam.
  • Hai là, công tác lý luận phê bình chưa gắn liền và phát huy với thực tiễn phát triển kiến trúc Việt Nam, chưa gắn liền với thời đại, chưa song hành cùng sáng tác kiến trúc, chưa đủ hình thành một hệ thống tư duy, một hệ thống lý luận hướng tới việc tạo ra những quan niệm kiến trúc mới để định hướng phát triển nền kiến trúc Việt Nam. Phát triển đô thị, đặc biệt ở các TP lớn vẫn ảnh hưởng bởi các lý luận chỉ hướng theo Chủ nghĩa Công năng, và kết quả là tạo nên các đô thị dàn trải khá giống nhau. Một số đô thị đã trở nên không phù hợp với ngữ cảnh thiên nhiên và văn hóa địa phương. Chúng đã tạo nên những hình ảnh kiến trúc quy hoạch lộn xộn và thiếu bản sắc.
  • Ba là, Lý luận và phê bình kiến trúc chưa thực sự quan tâm và chú trọng mảng nông thôn. Thực tế đang bộc lộ nhiều vấn đề cần nghiên cứu về nông thôn liên quan tới giá trị truyền thống, cấu trúc làng xã, vấn đề thích ứng với thiên tai, dịch bệnh, vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa. Các giá trị mới được tạo ra cho các vùng nông nghiệp nông thôn cần được nghiên cứu sâu sắc hơn.

Thực trạng lý luận và phê bình kiến trúc trên thế giới

Trên thế giới có sự tách biệt giữa lý luận (theory) và phê bình (critic) kiến trúc. Chính vì vậy, đã hình thành hai trường phái chính trong lý luận và phê bình kiến trúc trên thế giới: Một là trường phái lý luận kiến trúc không chỉ khẳng định những lối đi riêng trong sáng tác của mình mà còn nhận diện các xu hướng sáng tác kiến trúc của các giai đoạn phát triển. Lĩnh vực này thuộc về những bậc thầy KTS rất giỏi nghề. Họ đã nhìn nhận đánh giá các xu hướng kiến trúc hình thành trong từng giai đoạn phát triển từ Chủ nghĩa Công năng (Le Corbusier, Mies van der Rohe, Frank Lloyd Wright, Robert Venturi).

Hai là những nhà lý luận kiến trúc phân tích, diễn giải nội dung đa dạng của kiến trúc đương đại. Đó là các nhà lý luận kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, hoặc là những giáo sư tại các trường đại học, cũng có thể là những KTS rất giỏi cả về lý luận và hành nghề kiến trúc. (Charles Jencks, Kisho Kurokawa, Jane Jacobs, Christian Noberg-Schulz)… Mảng phê bình kiến trúc trên thế giới có không gian hoạt động khá rộng, không chỉ của các nhà lý luận và phê bình kiến trúc mà còn có thể là các nhà xã hội học, nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật…

Biệt thự Savoye – KTS Le Corbusier. Biểu tượng của kiến trúc hiện đại thế kỷ XX

Nhận diện về hệ thống lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam

1. Hệ thống lý luận phê bình mang tính nghiên cứu

Lý luận về mối quan hệ giữa Kiến trúc và văn hóa

Lý luận về văn hóa đóng vai trò quan trọng trong đường lối phát triển KTVN theo hướng bản sắc. Ở góc nhìn phổ quát, sự kiến tạo môi trường sống phải đảm bảo an toàn bền vững, nhằm đem lại tiện nghi vật chất và tinh thần cho con người. Ở góc nhìn Văn hóa học, kiến trúc cần nhấn mạnh những giá trị truyền thống mà con người đã tạo ra trong lịch sử, được kết tụ và nuôi dưỡng thông qua các sản phẩm phục vụ đời sống của nhiều thế hệ. Trong mối quan hệ này, có những yếu tố vật thể trở thành cốt lõi, có yếu tố phi vật thể trở nên linh thiêng.

Lý luận về tính Thẩm mỹ trong sáng tạo Kiến trúc

Kiến trúc không chỉ tạo nên một vẻ đẹp thuần tuý, mà đằng sau nó là cả một tinh thần hướng con người tới những quan niệm của giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, kiến trúc không chỉ mang tới cho con người xúc cảm thẩm mỹ mà còn có thể tạo cho họ một không gian sống tiện nghi và bản sắc. Lý luận về tính Thẩm mỹ trong sáng tạo Kiến trúc có thể tạo nên sự đổi mới trong sáng tạo các không gian văn hóa, đem lại các giá trị sử dụng cho con người.

Lý luận về mối quan hệ cộng sinh giữa Kiến trúc Thiên nhiên

Kiến trúc và Thiên nhiên có mối quan hệ hai chiều khá phức tạp. Chúng được thể hiện theo cách vừa tích cực (che chở cho kiến trúc) lại vừa tiêu cực (đe dọa của thiên nhiên). Sáng tạo hình thức không chỉ đẹp mà còn phải tính toán ứng phó với mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả. Chính vì vậy, hai khía cạnh đồng thời của mối quan hệ Kiến trúc – Thiên nhiên cần phải được thể hiện trong thiết kế hình thức vừa thông minh và sáng tạo, vừa nghệ thuật lại vừa công nghệ.

Lý luận về mối quan hệ giữa Kiến trúc – Nơi chốn

Về mặt lý luận, đây là khái niệm rộng. Tuy nhiên, trong phạm vi kiến trúc có thể xem đó như là mối quan hệ giữa kiến trúc với một địa điểm có tinh thần (place spirituel). Kiến trúc có thể “kể” một câu chuyện bằng các di sản vật chất và không gian nơi chốn- địa điểm tạo nên những yếu tố đặc sắc và không trùng lặp với nơi khác. Đó chính là bản sắc.

Lý luận về tính Nhân văn trong Kiến trúc

Kiến trúc thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong không gian đời sống và không gian kiến trúc. Khi văn minh càng cao, công nghệ càng tiên tiến thì sự tiện nghi cho con người càng cao – Nhưng ở chiều ngược lại, nó có thể làm mất đi những giá trị nhân văn trong mối quan hệ giữa con người với con người. Chính vì vậy, văn minh và văn hóa cần phải được song hành trong phát triển. Văn minh vật chất của thời đại cần gắn liền với đời sống văn hóa.

Lý luận về sự Biến đổi và Bất biến đổi trong Kiến trúc – Quy hoạch

Đô thị luôn biến đổi, chuyển hóa và phát triển. Theo Couzen, có 3 yếu tố bất biến và 5 yếu tố khả biến trong quá trình phát triển đô thị. Nếu như những yếu tố bất biến đóng vai trò quan trọng trong hình thành bản sắc kiến trúc đô thị, thì những yếu tố khả biến thể hiện sự vận động, chuyển hóa của không gian đô thị trong quá trình phát triển. Việc nghiên cứu sự biến đổi chuyển hóa của không gian đô thị là rất quan trọng.

Lý luận về Bản sắc và Bản sắc kiến trúc

Lý luận về bản sắc được sử dụng rộng trong các chuyên ngành khoa học khác nhau như triết học, tâm lý học, xã hội học, nhân học, văn hóa học… Bản sắc kiến trúc nhấn mạnh những đặc tính khác biệt của một nền kiến trúc khi so sánh với các nền kiến trúc khác. Chúng được duy trì theo thời gian với những đặc thù của tự nhiên, lịch sử (bản chất luận), đồng thời được kiến tạo trong sự biến đổi thích ứng của bối cảnh kinh tế xã hội (kiến tạo luận). Về bản chất, bản sắc kiến trúc được duy trì ổn định và có thể được nhận diện.

Lý luận về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc

Di sản học ở Việt Nam là khoa học nghiên cứu về di sản mang tính triết luận và chính trị học. Lý luận về bảo tồn di sản kiến trúc trên thế giới nói chung chịu ảnh hưởng sâu sắc từ John Ruskin và Viollet le Duc. Các lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở Việt Nam đã được thể hiện thông qua các dự án tu bổ di tích của ngành bảo tồn di sản kiến trúc ở Việt Nam, trong đó có thể kể đến những dự án thành công được thế giới ghi nhận như Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Đình Chu Quyến, Nhà hát Lớn Hà Nội, Văn miếu Quốc Tử Giám…

2. Sự thể hiện của hệ thống lý luận phê bình kiến trúc trong thực tiễn phát triển

a. Lý luận và phê bình kiến trúc thông qua các ấn phẩm

Một số ấn phẩm kiến trúc được xuất bản thời Pháp thuộc đã góp phần tích cực trong đào tạo KTS ở trường Mỹ thuật Đông Dương (1925). Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt và chiến tranh, ấn phẩm về kiến trúc không nhiều, chủ yếu về kiến trúc truyền thống. Từ khi đất nước thống nhất và mở cửa hội nhập quốc tế, nhiều sáng tác và ấn phẩm kiến trúc đã xuất hiện, góp phần thúc đẩy sáng tác kiến trúc hiện đại, trong đó các yếu tố văn hóa bản địa dần được chú trọng.

Bảo tàng Hồ Chí Minh

b. Lý luận và phê bình kiến trúc thông qua các cuộc thi tuyển kiến trúc

  • Tôn vinh kiến trúc theo Chủ nghĩa Công năng
    Mặc dù chưa có những lý luận chính thống, chưa có xu hướng lý luận, nhưng trong giai đoạn sau năm 1975, tại Việt Nam đã thể hiện xu hướng tôn vinh Chủ nghĩa Công năng, sự hợp lý và tạo khối đơn giản. Từ khi miền Nam giải phóng, cùng với công nghệ xây dựng hiện đại tạo nên xu hướng tôn vinh vật liệu và công nghệ. Cuối giai đoạn này bắt đầu nhập khẩu thép kính từ nước ngoài nên vật liệu mới đã tạo nên những hình thức kiến trúc mới. Các trụ sở sử dụng các vật liệu gạch xây truyền thống đã được thay và sử dụng vật liệu mới là kính và thép.
  • Sự lan tỏa xu hướng Kiến trúc Hoành tráng. Từ kiến trúc Tân Cổ điển giai đoạn thuộc Pháp sang kiến trúc hiện đại Việt Nam đã có bước chuyển biến mạnh về hình thái kiến trúc. Thông qua các cuộc thi tuyển kiến trúc quốc tế và trong nước đã thể hiện xu hướng hoành tráng (monumental) nhấn mạnh tính hình khối, phô trương sức mạnh, niềm tự hào chiến thắng.
    Tại Liên Xô, sau chiến thắng phát xít Đức đã xuất hiện nhiều tòa nhà đồ sộ thể hiện xu hướng này với những đường nét mạnh mẽ, thô mộc, phù hợp với vật liệu đá rửa. Việc không sử dụng sơn vôi cũng đi kèm với loại bỏ gờ phào. Các công trình có màu tự thân của vật liệu (ghi xám) nên cũng làm ảnh hưởng tới cảnh quan đô thị.

c. Những tranh luận về xu hướng kiến trúc thông qua các bài báo trên Tạp chí Kiến trúc

  • Chủ nghĩa Công năng còn tồn tại hay đã chết?
    Nếu như ở các giai đoạn trước, Lý luận và Phê bình kiến trúc chỉ thể hiện qua các nhận định, nhận xét, trao đổi tại các cuộc thi tuyển, thì ở giai đoạn sau, lần đầu tiên trên Tạp chí Kiến trúc của Hội KTS Việt Nam đã có cuộc tranh luận bút chiến giữa các nhà lý luận kiến trúc là các giảng viên giảng dạy KTS tại các trường Đại học (Kiến trúc và Xây dựng) về chủ đề: Chủ nghĩa Công năng còn tồn tại hay đã chết (“100 năm kiến trúc hiện đại và những dấu ấn không thể phai mờ” – TS.KTS Nguyễn Anh Tuấn – TCKT số 3/2018)
  • Đả phá xu hướng nệ cổ trong kiến trúc hiện đại Việt Nam
    Đây cũng là một tranh luận trong giới làm nghề kiến trúc tại Việt Nam. Trong khi các nhà lý luận kịch liệt phản đối xu hướng kiến trúc nhại cổ, copy các kiểu kiến trúc cổ điển phương Tây thì thực tiễn vẫn cho thấy sự tồn tại thắng thế của xu hướng này trong các cuộc thi trong nước và quốc tế. Rất nhiều chủ đầu tư ưa thích xu hướng này với lý luận về sự vĩnh cửu của vẻ đẹp cổ điển và sự an toàn trong đầu tư thẩm mý đương đại. Về mặt lý luận các KTS đều nhất trí đả phá xu hướng nhại cổ, nhưng trên thực tế một vài công ty chuyên thiết kế theo xu hướng này lại rất đắt khách. Vì vậy, các cuộc tranh luận và thực tiễn còn đang tiếp tục song hành (“Bốn xu hướng kiến trúc hiện đại Việt Nam” – KTS Vũ Hiệp – TCKT số 3/2018)
  • Các lý luận về Kiến trúc đương đại quốc tế ảnh hưởng tới Kiến trúc Việt Nam. Các xu hướng kiến trúc quốc tế nổi bật liên quan tới kiến trúc hiện đại và hậu hiện đại được phổ biến trên Tạp chí Kiến trúc thông qua việc phân tích các công trình đoạt Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia và quốc tế. Đặc biệt, các thông tin trên website giới thiệu về các Giải thưởng Pritzker kiến trúc, đã thể hiện các xu hướng kiến trúc đương đại trên thế giới. Các lý luận về Chủ nghĩa biểu hiện và biểu hiện mới đã mang lại cho kiến trúc khả năng tạo hình mới, độc đáo không bị hạn chế về hình thức. Các lý luận về Kiến trúc Hiện đại hóa bản địa đã nhấn mạnh về vai trò của văn hóa bản địa. Một số đồ án của KTS trẻ Việt Nam đi theo xu hướng này đã nhận được nhiều giải thưởng Kiến trúc Quốc tế, được giới thiệu và phân tích trên Tạp chí Kiến trúc, Hội KTS Việt Nam.
Với sự sụp đổ của tòa nhà chung cư trong quần thể lớn nhà ở Pruitt-Igoe (do KTS Minoru Yamasaki thiết kế) vào ngày 15/07/1972, người ta cho rằng Chủ nghĩa Hiện đại đã chết (theo Charles Jencks (Nguồn ảnh: U.S. Department of Housing and Urban Development)

d. Lý luận và phê bình kiến trúc thông qua các hội thảo và Luận án khoa học

  • Lý luận về học tập truyền thống
    Lý luận theo hướng học tập truyền thống khá phổ biến trong cả lý luận và thực tiễn kiến trúc Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1986. Một số kinh nghiệm từ truyền thống đã được khái quát hóa trong các ấn phẩm trước đây của các KTS lão thành, nay được triển khai trong các công trình kiến trúc hiện đại. Một số công trình kiến trúc nổi tiếng của KTS Ngô Viết Thụ tại TP HCM đã được phân tích đánh giá dưới góc độ Kiến trúc nhiệt đới thông qua các tham luận hội thảo và các nghiên cứu khoa học.
  • Lý luận về Kiến trúc xanh, kiến trúc bền vững: Là xu hướng tiến bộ của thời đại, kiến trúc hướng tới đạt chứng chỉ xanh, hoặc đơn giản là có xu hướng “xanh”, mang lại giá trị gia tăng cho kiến trúc, được các nhà đầu tư và các tổ chức tư vấn thiết kế lưu tâm. Một số luận án tiến sỹ kiến trúc về Đô thị xanh, hạ tầng xanh, về đô thị trung hòa Cacbon … đi cũng các hội thảo khoa học hình thành một loạt các nghiên cứu về vấn đề này.
Tòa nhà Bộ Tài chính – phong cách kiến trúc được bàn luận nhiều trên TCKT

Giải pháp phát triển lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam

1. Phát triển Hệ thống Lý luận và Phê bình kiến trúc trên nền tảng của Khoa học và công nghệ mới

  • Phát triển Hệ thống lý luận và phê bình kiến trúc dựa trên những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thời đại đòi hỏi phải mở rộng khả năng tiếp cận với các công nghệ thông minh, các ứng dụng tin học và “trí khôn” nhân tạo. Một số lý luận cơ bản mang tính phát triển cần nghiên cứu ứng dụng các công nghệ này được xem như những chìa khóa phục vụ cho việc phát triển hoạt động lý luận và phê bình kiến trúc hữu hiệu trong ngữ cảnh phát triển và thực tiễn hoạt động kiến trúc hiện nay, bao gồm các ứng dụng:
  • Phổ biến, sử dụng BIM (Building Information Modelling) như một mô hình thông tin xây dựng ở một tầm cao mới đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thiết kế và xây dựng, với Revit, ArchiCad và Allpaln là một số phần mềm tương thích với BIM;
  • Nghiên cứu ứng dụng AI (Artificial intelligence) nhằm thay thế công việc thủ công và tối ưu hóa các phương án thiết kế, cung cấp nhiều dữ liệu thông tin đa dạng phục vụ nghiên cứu;
  • Big Data với hệ thống dữ liệu lưu trữ máy chủ và kho dữ liệu lớn nhằm xây dựng kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân. Với sự sẵn có của dữ liệu và internet, các KTS có thể truy cập nhiều dữ liệu hơn trong thiết kế;
  • Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân tán cho phép các giao dịch an toàn, minh bạch và chống giả mạo, giúp KTS có thể theo dõi mọi giai đoạn của quá trình xây dựng, từ thiết kế đến hoàn thiện;
  • Generative Design (Thiết kế sáng tạo) cho phép cung cấp nhiều lựa chọn thiết kế theo yêu cầu. Điều này có thể mang lại sự khởi đầu toàn diện cho một khái niệm dẫn tới những ý tưởng sáng tạo mới;
  • In 3D và 4D không chỉ cho phép xây dựng các mô hình nguyên mẫu của các cấu trúc thực tế mà còn có thể tự xây dựng toàn bộ cấu trúc công trình, tạo ra một xu hướng mới trong kiến trúc;
  • VR (Virtual reality – Thực tế ảo) là xu hướng chủ yếu thu hút khách hàng và nhóm nhà thiết kế, đồng thời có thể giúp tạo ra các thiết kế hiệu quả hơn và dành riêng cho người dùng nhờ những trải nghiệm mà nó mang lại;
  • AR (Augmented reality – Thực tế tăng cường) bổ sung trải nghiệm thực tế bằng cách phủ 2D lên 3D. Nó hoạt động giống như tạo hiệu ứng 3D của âm thanh và cảm ứng cho sơ đồ 2D để người dùng hoặc nhà thiết kế thậm chí có thể cảm nhận được các vật liệu được đưa vào thiết kế.
Tòa nhà Dinh Độc lập – KTS Ngô Viết Thụ

2. Lập và ban hành Sổ tay Phê bình kiến trúc tại Việt Nam

Sổ tay Phê bình kiến trúc tại Việt Nam nhằm mục đích góp ý, hoàn thiện, tác động chủ yếu đến việc sáng tác thiết kế Kiến trúc công trình tại Việt Nam, và tham khảo cho việc phê bình các dự án quy hoạch. Cuốn sổ tay góp phần thu hẹp khoảng cách giữa KTS và công chúng, chuyển các khái niệm kiến trúc, quy hoạch phức tạp thành nội dung dễ tiếp cận và hấp dẫn đối với cộng đồng.

Mục tiêu của sổ tay nhằm: Giải thích các khái niệm; hướng dẫn phương pháp luận phê bình kiến trúc; làm rõ nội dung văn hóa trong phê bình kiến trúc, và hướng dẫn cấu trúc một bài phê bình kiến trúc mẫu.

Đối tượng thụ hưởng là các cán bộ quản lý các cấp từ trung ương tới địa phương về lĩnh vực Kiến trúc Quy hoạch; các KTS hành nghề tư vấn Kiến trúc Quy hoạch; các cán bộ, chuyên gia làm công tác phản biện Kiến trúc Quy hoạch tại các địa phương; các doanh nghiệp, chủ đầu tư các dự án phát triển Kiến trúc Quy hoạch và cộng đồng dân cư quan tâm

Phạm vi áp dụng cho các cơ quan quản lý Kiến trúc Quy hoạch cấp TW liên quan tới Kiến trúc Quy hoạch; cơ quan quản lý Kiến trúc Quy hoạch các cấp tại các vùng miền, các địa phương tại Việt Nam và các Hội nghề nghiệp (Hội KTS Việt Nam, Hội Quy Hoạch Đô thị) và quan tâm nghề nghiệp KT (Hội Liên hiệp Văn hoá Nghệ thuật, Hội Nhà báo).

Thư viện Quốc gia miền Nam Việt Nam (1972, Sài Gòn)
KTS Nguyễn Hữu Thiện
Mô hình BIM thông minh

Kết luận

Lý luận và phê bình kiến trúc, cho dù rất đa dạng và phong phú nhưng luôn nhấn mạnh rằng: Kiến trúc luôn luôn là biểu tượng của văn hóa và văn minh nhân loại. Nội hàm của kiến trúc ngày càng mở rộng và phát triển theo thời gian, nhưng giá trị cốt lõi của nó vẫn không thay đổi. Đó là sự kết hợp của Nghệ thuật và Kỹ thuật. Lý luận và Phê bình kiến trúc tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng không chỉ nhằm đổi mới tư duy sáng tạo mà còn đổi mới cả phương pháp phân tích đánh giá một sản phẩm kiến trúc quy hoạch. Ở một góc độ khác, nó còn cho phép tạo một góc nhìn riêng vừa mang tính chủ quan lại vừa khách quan khoa học, ngay cả khi đối mặt với những quan điểm phê bình khác nhau.

GS.TS.KTS Doãn Minh Khôi
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2025)


Tài liệu tham khảo:

  • “Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030” – Quyết định 1246/QĐ-TTg. 2021
  • Hội KTS Việt Nam: “Nửa thế kỷ kiến trúc Việt Nam” – NXB Thời đại, 2010
  • Đặng Thái Hoàng: “Tủ sách lí luận kiến trú” – NXB Mỹ thuật, 2016
  • Hoàng Đạo Kính: “Phê bình kiến trúc, bản chất và thực trạng” (2005); “Văn hóa kiến trúc” – NXB Tri thức, 2012
  • Nguyễn Quốc Thông, Doãn Minh Khôi (Chủ biên): “Lý luận phê bình kiến trúc ở Việt Nam” – Hội KTS Việt Nam, 2018
  • Doãn Minh Khôi, Trần Thanh Bình, Trịnh Duy Anh, Nguyễn Anh Tuấn, Hồ Chí Quang, Vũ Hiệp: “Xây dựng và phát triển hệ thống lý luận và phê bình kiến trúc tại Việt Nam” – Đề tài NCKH, Hội KTS Việt Nam, 2024