Vì Điện Biên Phủ Kiến trúc sư sẵn sàng sáng tạo

1. Năm 1858, quân viễn chinh Pháp đổ bộ vào Việt Nam. Sau đó thực dân Pháp sớm nhận biết số phận Đông Dương thuộc địa hoàn toàn do chiến trường Bắc Bộ quyết định.
Tháng 12/1946, sau phiên họp cuối Thường vụ Trung ương trước ngày Toàn quốc Kháng chiến, Bác giữ Anh Văn lại hỏi riêng: liệu ta giữ Hà Nội được bao lâu? Trả lời: Một tháng, nông thôn thì lâu hơn, còn vùng núi chắc chắn ta giữ được.
Cuối năm 1953, giặc Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, lập tập đoàn cứ điểm. Không ngờ sa vào cái bẫy giăng sẵn của các nhà cầm quân thiên tài Việt Nam.
Sự vươn mình của các dân tộc thuộc địa và thế giới thứ ba sau Điện Biên Phủ, càng làm sáng tỏ ảnh hưởng lớn lao của trận thắng này trong lịch sử Thế giới hiện đại. Tính ra cuộc đụng đầu lịch sử kéo dài đằng đẵng 96 năm trời, với muôn vạn đầu rơi máu chảy trên đất Việt…

Mô hình Điện Biên Phủ

2. Khi thiết kế cho Điện Biên, KTS thường phải cất công tìm hiểu lịch sử để khai phóng ý tứ.
Là nói vậy thôi, chứ đất đai 49 cứ điểm tuy nhỏ bé so với 64km2 của thành phố Điện Biên, nhưng lại thuộc phần đất đẹp nhất thung lũng Mường Thanh. Chỉ hơn ba năm sau hòa bình lập lại (1958), đất tập đoàn cứ điểm được giao cho nông trường Quân đội. Chưa kể hàng vạn đồng bào từ nhiều thôn bản ở Mường Thanh, từ dưới xuôi lên đây làm ăn sinh sống. Sau chừng ấy năm nhà cửa san sát, đất dân sinh thôn tính đất di tích là điều không thể tránh khỏi. Thành thử việc bảo tồn hiện nay cũng chỉ tập trung vào số di tích nổi bật là đồi A1, C1, C2, D1, cứ điểm Hồng Cúm, Him Lam, đồi Độc Lập, cầu và sân bay Mường Thanh, hầm chỉ huy của tướng De Castries.
Dù đồng thuận hay không thì giới KTS nên cảm thông với quy hoạch gia. Thành phố Điện Biên nằm ở đâu, nếu không phải là cánh đồng Mường Thanh? Vấn đề phát sinh do một bên là khu di tích cần bảo tồn bằng “lịch sử dậm chân tại chỗ” và bên kia là sự phát triển bất tận của Điện Biên.
Sau những “sự đã rồi” ấy sẽ xuất hiện một cách ứng xử, mà tôi gọi là ứng xử nghề nghiệp tại chỗ. Tức là khi bắt tay thiết kế một ngôi nhà, một công trình nào đó trên đất Điện Biên, KTS sẽ làm cho công trình ấy, thậm chí từ mỗi viên gạch xây nên chúng đều chung một khát vọng: Giảm thiểu những gì tổn hại đến hình vóc và tinh thần bất diệt của di tích. Việc làm ấy khác chi “lấp lỗ châu mai” (ví von một tí cho có vẻ Điện Biên Phủ!) Và, người chịu trận không ai khác ngoài KTS.
Một thực tế là, trên đường đi tới tác phẩm, KTS còn hứng chịu không ít rủi may. Không khéo, sẽ đệ trình cho công chúng những “biểu hiện tầm thường” –  Như một số đang lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật, giữa “tập đoàn cứ điểm” tác phẩm ngổn ngang đất này. Và, một thực tế nữa, công chúng luôn đòi hỏi cái mới  nơi thiết kế của KTS, đồng thời họ lại cũng rất muốn biết cái mới ấy có gì bứt phá từ kinh nghiệm của các nghệ sĩ bậc thầy.

Di tích trên đồi A1

Tôi suy nghĩ thế này: người thiết kế cho Điện Biên Phủ nên làm hai việc:
a) Bổ sung những gì mà lịch sử còn thiếu.
Xin nói luôn, lịch sử không thiếu bất kể thứ gì thuộc về nó. Cái thiếu là ở chỗ hậu thế đã chuyển sang sống ở một thời đại khác với thời đại Điện Biên. Mà thời gian thì ghê gớm lắm: Không những bào mòn bia đá, mà còn xóa mờ nhận thức, làm thất thoát kho báu kinh nghiệm của tiền nhân. Cái thiếu còn ở chỗ: Trong đời sống nghệ thuật của đất nước chưa xuất hiện nghệ sĩ, KTS sẵn sàng và đủ năng lực bổ sung những gì mà lịch sử còn thiếu.
Một ví dụ bên lề: Cuộc chiến tranh Vệ quốc đánh đuổi Napoleon của người Nga khải hoàn từ năm 1812, thế mà phải 57 năm sau họ mới có một Chiến tranh và Hòa bình. Đến tận hôm nay, đọc nó ta vẫn được cảm nhận những mô tả rất chính xác diễn biến trận Borodino. Chính xác đến từng loạt đại bác, từng đợt xung phong, từng anh lính ngã xuống. Nhiều người biết đâu rằng tác giả Chiến tranh và Hòa Bình từng rong ruổi trên lưng ngựa hàng tháng trời thị sát, ghi chép, thiếu điều vạch vòi từng mô đất bụi cây nơi chiến địa xưa và đối chiếu với từng nhật lệnh chiến đấu của tổng hành dinh quân Nga. Nhưng đấy là L.N. Tolstoi, là nước Nga, là Văn học. Và đối với họ, thế vẫn sớm vì mãi 150 năm sau Bảo tàng lịch sử trận Borodino mới được xây dựng. Kiến trúc – nghệ thuật đi trước về sau, là vậy.  
b) Thổi hồn sống cho quá khứ Điện Biên
Ý đây là hồn cốt của trận Điện Biên Phủ – chiến công vào loại rạng rỡ nhất trong suốt nghìn năm giữ nước của người Việt. Lĩnh hội được ý nghĩa sâu sắc của cuộc đụng đầu lịch sử thì quá khứ sẽ hiện về trong tác phẩm như bằng xương bằng thịt. Những tìm hiểu về địch còn giúp cho việc thiết kế bảo tồn các cứ điểm thuận lợi hơn.
Còn đó hình ảnh bao người con ưu tú của dân tộc vào sinh ra tử trong trận Điện Biên. Họ đã từng là hình tượng trong tranh vẽ, ký họa, điêu khắc, đồ họa, thi ca, âm nhạc của các nghệ sĩ kháng chiến. Mà hầu hết tác giả đều là người trong cuộc, người từng có mặt hay cầm súng ở Điện Biên. Tác phẩm của họ giản dị, không to tát nhưng góp chung lại, có thể làm nên bản hùng ca hào sảng bất tận. Ở đấy, hậu thế như nghe rõ tiếng gầm đại bác của quân ta, như đang chứng kiến trận giáp lá cà đẫm máu. Lại như cảm nhận đâu đây lẩn quất mùi thuốc súng, mùi xác giặc thối rữa trong hầm cố thủ…
Thì ra, anh – người KTS luôn phải ứng xử vất vả “giữa hai làn đạn”: Hướng ngoại – với nghệ thuật thời đại và hướng nội – với chính nghệ thuật của riêng mình.

Nghĩa trang A1

3. Xin phép bỏ qua nội dung các công trình bảo tồn và hiện vật trưng bày. Tuy chúng có ít nhiều liên can đến ngành kiến trúc, nhưng thiên về sáng tác – kỹ thuật phục chế.
Tuy vậy, cho phép tôi kể ra đây một ứng xử bảo tồn hiện vật trưng bày: Việc sử dụng thiết bị che chắn gây ảnh hưởng đến biểu hiện. Chẳng hạn như cái xe tăng, đống sắt thép thật to, mà mới đây trược chụp lên cả một “phương đình”. Thành thử đứng ngắm nó từ bất cứ góc nhìn nào cũng thấy tức anh ách. Chẳng bằng di dời luôn xe tăng vào nhà trưng bày. Thì chí ít khách tham quan còn có thể cảm nhận nó như đứng trước chú khủng long phục dựng trong bảo tàng Tự nhiên học. Còn nếu vẫn để ngoài trời thì thiếu gì cách gìn giữ. Hơn 120 năm qua, chỉ cần sơn chống gỉ mà tháp Eiffel của nước Pháp vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt đấy thôi.
Về nguyên tắc, việc làm nhà che chắn cho hiện vật nhiều khi cần thiết. Tuy vậy chỉ cần một giải pháp không phù hợp, một thao tác bất cẩn hoặc sự bất hợp tác giữa kỹ thuật và nghệ thuật, rất có thể hiện vật trưng bày bị biến thành tấm bia tự nhiên chủ nghĩa, thậm chí cái bài vị kếch xù không ra hình thù gì.
a) Về Nghĩa trang A1 (Xây dựng 1993 – 1994)
Xin thưa trước, mọi bình phẩm về nó giờ đây chỉ mang ý nghĩa “nhớ lại và suy nghĩ”. Có thể là hồi ấy các dự án trích đoạn chiến địa, cứ điểm ác liệt đã làm người ta tạm yên tâm mà sao nhãng một điều: Hệ thống biểu trưng số một – tập đoàn cứ điểm với toàn bộ không gian chiến sự, hình hài địa tầng, hình ảnh trên mặt đất cần được bảo tồn tối đa.
Dường như nghĩa trang được xây dựng to đẹp một cách cố ý, áp đảo cả đồi A1 danh tiếng lẫn tập đoàn 49 cứ điểm. Người viếng mộ ngỡ như mình đang đứng trước Thăng Long thành mà cửa Đại Hưng là Ô Quan Chưởng?! Lại thêm các dãy tường đều không trổ cửa, lấy chỗ thể hiện phù điêu liên hoàn. Đã thế, lại còn hào nước trước tường thành nữa. Xin lỗi, không rõ hào nước này được đào từ đầu theo thiết kế hay đào về sau, trong dịp trùng tu. Dù thế nào thì các nhà xây dựng đã phạm phải một điều tối kỵ cả về kiến trúc lẫn môi trường. Ai lại đi đào hào nước sâu hơn ba tấc đất mồ mả bao giờ?
Ví thử năm xưa người Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ như một pháo đài phòng thủ, thì hình thức nghĩa trang A1 như trên phần nào khả dĩ. Đằng này bốn bề tập đoàn cứ điểm chỉ toàn dây thép gai. Sự phòng thủ của nó không cần dựa vào cấu trúc vauban Âu tây hay la thành phương Đông mà trông cậy vào ý chí viễn chinh xâm lược của giặc với binh hùng tướng mạnh cùng bạt ngàn xe tăng, tàu bay, đại bác.

Tượng dài Chiến thắng Điện Biên Phủ

b) Về Bảo tàng Điện Biên Phủ (khởi công tháng 10/2012). Thiết kế: KTS Nguyễn Tiến Thuận.
Xin phép mào đầu bằng tưởng tượng của tôi qua hai ý tưởng của nhà thiết kế:
1) “Công trình Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được thiết kế hình chiếc mũ lưới của chiến sỹ Điện Biên năm xưa”. Khi được xem hình vẽ công trình này, tôi hiểu ra chính sự biểu hiện nhẹ nhàng, thoáng đạt ấy sẽ có sức lôi cuốn công chúng… Điều băn khoăn của tôi là ranh giới giữa “chơi có mức độ” và “chơi tới cùng” trong nghề kiến trúc bộc lộ chưa rõ ràng.
2) “Dự kiến sẽ thể hiện tranh panorama tái hiện diễn biến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.” ??n ??y t?i h?nh dung: C? tranh tr?n, b?o t?ng s? s? h?u m?t ph??ng ti?n l? t??ng, th?u t?m ???c to?n b? kh?ng gian – th?i gian bao ch?a h?t nh?ng d?n n?n c?a 56 ng?y ??m chi?n d?ch. ??ng th?i tranh tr?n c?n nh? x?c t?c l?m cho c?c hi?n v?t tr?ng b?y r?i r?c c? th? gi?i th?ch cho nhau v? c?ng s?ng l?i.
Đến đây tôi hình dung: Có tranh tròn, bảo tàng sẽ sở hữu một phương tiện lý tưởng, thâu tóm được toàn bộ không gian – thời gian bao chứa hết những dồn nén của 56 ngày đêm chiến dịch. Đồng thời tranh tròn còn như xúc tác làm cho các hiện vật trưng bày rời rạc có thể giải thích cho nhau và cùng sống lại.
Rồi từ hai ý tưởng trên, tôi nhớ ra một địa danh nổi tiếng ở Tây Nam thành phố Mozaisk thuộc Moskva: Khu bảo tồn bảo tàng trận đánh Borodino lịch sử (của) Quốc gia (Государственный Бородинский военно-исторический музей-заповедник). Nói thêm ý tưởng thiết kế bảo tàng Borodino cũng thăng hoa từ cái mũ của người lính cận vệ Nga thời xưa. Đặc biệt là tranh tròn Borodino, mà những ai đã một đôi lần được chiêm ngưỡng thì ngộ ra rằng KTS thiết kế đã tuyệt đối tin tưởng nhóm họa sĩ thể hiện. Vì đó chính là những họa sĩ tả thực tầm cỡ hàng đầu không chỉ riêng của Liên Xô (cũ) mà của cả châu Âu hồi bấy giờ. Khỏi nói, ở bảo tàng Borodino cả nhà thiết kế lẫn họa sĩ đều cùng về đích – thành tựu kiến trúc nghệ thuật.  
Trở lại với bảo tàng Điện Biên Phủ của chúng ta. Chắc lẽ sang năm – 2014, sẽ được khánh thành trong niềm vui của mọi người. Vui vì được chứng kiến một công trình kiến trúc đương đại sang trọng nhất miền Tây Bắc kể từ trước đến nay. Thế nhưng khi ấy công chúng mới chỉ đến được sát cánh cửa chưa mở của nhà bảo tàng. Họ còn phải đứng đấy và hồi hộp ngóng trông tới ngày tranh tròn Điện Biên Phủ hoàn tất. Bao lâu? Tôi tạm ước đoán: Ba năm. Đấy là nói chuyện Ban Giám đốc bảo tàng mời gọi được nhóm họa sĩ tài năng đặc biệt của đất nước. Ý nghĩa to lớn và nội dung lịch sử Địện Biên Phủ đòi hỏi phải như vậy.
Tôi cho rằng, nhóm họa sĩ thể hiện tranh tròn phải gồm những họa sĩ tả thực. Vì, cả đời nay lẫn đời sau điều thôi thúc nhất, giục giã người ta đến với Điện Biên Phủ là để chính mình được cảm nhận từng lời ăn tiếng nói, từng hơi thở của thời đại Điện Biên. Và đương nhiên, tranh tròn ấy phải khác, khác rất nhiều so với các họa phẩm đại bút được trưng bày tại bảo tàng bấy lâu nay. Tôi cũng cho rằng sự đóng góp của mỹ học Kháng chiến trong thiết kế bảo tàng và thể hiện tranh tròn sẽ tô đậm sự chỉ đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong trận này. Nhất là tài cầm quân lỗi lạc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Bức tranh kéo pháo nguồn diemhenViet

c) Về các tác phẩm tạo hình trưng bày
Trước giới tạo hình, tôi là kẻ ngoại đạo, nhưng tự thấy có trách nhiệm vòng vo mấy lời về hàm lượng sự thật hay biểu trưng cho sự thật của ngành này tại quần thể kiến trúc tưởng niệm Điện Biên Phủ. Hơn nữa, các tác phẩm mà chúng ta sắp đề cập dưới đây lại gợi nên trong lòng khách tham quan Điện Biên nhiều băn khoăn.
Xin nêu mấy thực chứng:
– Tượng đài Chiến thắng Điện Biên phủ
Chúng ta không nhắc lại những ý kiến nội bộ ngành điêu khắc về tượng đài này. ở đây bộc lộ ra một tiêu biểu chung, không những cho Tượng đài D1 mà còn cho một số Tượng đài tưởng niệm hoành tráng, to lớn nhất đất nước mới được làm gần đây. Đó là khi đã sở hữu trong tay một bức tranh đẹp (tạm ví như thế) người ta đã không quan tâm đến cái khung tranh.
– Tượng đài Hai bà mẹ và người lính
Có cần thiết hay không mà ở đây tác giả vận dụng tỉ lệ Ai Cập cổ vương quốc, lại thêm tô màu vàng ròng cho nhân vật? Giả sử ta chia nghĩa trang A1 ra làm hai phần. Phần “triều”, gồm quảng trường, sân rộng đè trên thần đạo và phần “tẩm” – khuôn viên quy tập mộ liệt sĩ. Thì thấy, nhóm tượng đài hai bà mẹ và người lính cùng nhiều pho tượng màu vàng ròng khác được đặt ở phần “triều” của nghĩa trang.
Kể cũng khó lòng đọc vị nghệ thuật của nhà điêu khắc. Nhưng anh chị em KTS lại biết chuyện người nước Nam mình xưa nay để mồ để mả phong thủy lắm. Lại cũng biết cái màu vàng ròng của những pho tượng đặt ở phần “triều” của Nghĩa trang A1 chắc chắn khiến người ta liên tưởng đến những tia nắng mặt trời ấm áp và năng động. Đó là trạng thái khí dương mà chỉ chốn trần ai mới có. Đến như chỗ khám thờ, dù có hay không bày tượng vàng người ta cũng phải đóng khung bao lam (lam tuyền), che mành sáo hay rủ trướng nữa là…
Với khách tham quan thì chẳng sao, nhưng với những hương hồn liệt sĩ, nói duy tâm một tí, khó tránh khỏi bị khuấy động, bất an.
– Quần tượng Đại tướng đọc thư Bác (công viên Mường Phăng)
Quần tượng này quả thực đông người. Một bên là các cán bộ chiến sĩ ngoài mặt trận, một bên là các đại diện tối cao thay mặt cho tổ chức đã dìu dắt họ đến thắng lợi vinh quang. Đối với công chúng, hình ảnh thực tại: Đại tướng đọc thư khen, mọi người lắng nghe, trên cao có sự đồng hiện lãnh tụ Hồ Chí Minh trong bảng tròn (nhấn mạnh sự cao cả thiêng liêng)… thì có lẽ chưa đủ. Họ có quyền được biết trước lúc nhận thư khen bộ đội, dân công hỏa tuyến Điện Biên đã sống và chiến đấu như thế nào, chân ướt chân ráo từ chiến hào đẫm máu, từ cõi sinh tử về Mường Phăng ra sao… Thêm vào đó, rừng cờ ở hậu cảnh cũng không rõ nghĩa: “Núi vút ngàn trùng xa” của miền Tây Bắc hay các cánh gà sân khấu?!
– Tranh tường, tranh vẽ

Tượng đài Hao bà mẹ và người lính

Xin lỗi vì tôi đã mạo muội, nhưng không thể không nói về mảng tranh tường, tranh vẽ ở bảo tàng Điện Biên Phủ. Vì đâu như có người mách bảo: Chỉ cần vài bức tranh cũng đủ thay thế cho pho sử dày cộp.
+ Bức tranh Kéo pháo: Có lẽ tác giả trăn trở ít nhiều trước khi vung đại bút. Lớp nền đằng sau kể về một tiểu đội gần khẩu pháo nhất, các chiến sĩ tầm vóc quá nhỏ bé so với khẩu pháo (anh em Vệ quốc đoàn đâu có thế). Thôi thì cứ cho rằng làm vậy để tôn vinh tinh thần quyết thắng.
Nhưng vấn đề lại nằm ở nhân vật (tượng) duy nhất, được xếp đặt ngay sát bức tranh, và (tôi nhấn mạnh) theo ý đồ bố cục hội họa của bức tranh. Phải chăng làm vậy nhằm đề cao biểu trưng, lại có thể phiên phiến bếp núc kinh dinh? Tiện thể nói phong cách “liên minh hội họa – điêu khắc” độc đáo này khá phổ biến ở nhà trưng bày Điện Biên Phủ. Lại nói, trong liên minh ấy, dáng dấp bức tượng chẳng ra kéo pháo, chẳng ra đẩy pháo lại càng không phải đang lĩnh xướng dô ta. Mà có thể là người từ đơn vị bạn sang làm thị phạm (không chuẩn)! Còn công chúng tò mò muốn biết anh này là chỉ huy hay chiến sĩ thì đành chịu. Vì người ấy (pho tượng) diện áo-trấn-thủ-dài tay, là thứ từ ngày thành lập đến nay chưa bao giờ Quân đội nhân dân Việt Nam cấp phát.
+ Bế Văn Đàn: Tranh này được dàn dựng ở góc trái một bức tường của gian bảo tàng. Bố cục tranh đơn giản, thuận hướng đường đạn chéo cánh sẻ, làm nền cho anh Đàn và anh Pù ở tiền cảnh. Khổ nỗi cả hai anh bộ đội lại vẫn diện áo trấn thủ dài tay? Anh Đàn thì không nhìn theo hướng đường đạn (và bản thân anh lúc đó bị thương rồi). Anh Pù thì ngắm vào đâu đó quãng bả vai phải anh Đàn, nên chắc chắn không thấy được hỏa điểm của địch. Mà có thấy anh Pù cũng không bắn được, vì chẳng có ngón tay nào của anh để gần cò súng. Hơn nữa anh lại dùng động tác bắn súng trường (cũng sai nốt) để tác xạ trung liên…
 + Phất cao cờ Quyết chiến Quyết thắng: Đề tài này xưa nay thường được cho là có sức nặng biểu trưng số một. Nhưng không hiểu sao họa sĩ lại vẽ cả lá cờ (kiểu “hổ tàng thần”) lẫn người cầm cờ đang trong tư thế…đón nhận Huân chương. Còn đâu là cái dữ dội bi tráng, cái hào hùng đến vỡ òa của buổi chiều 7/5/1954 ngày xưa ấy.
Tôi có một ý nghĩ ngây thơ rằng tất cả các bức tranh đại bút nêu trên góp lại, chưa chắc đã “ăn đứt” hàm ý biểu trưng và tình cảm đẹp về Điện Biên như ở mấy bức ký họa mặt trận, các tranh cỡ nhỏ, kể cả các hình trang trí, bố cục trên huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên… của các họa sĩ kháng chiến. Tôi nghĩ thế không phải chỉ vì lẽ các họa sĩ lão thành ấy đều đã từng là chiến sĩ Điện Biên.
d) Về bia ký
Các kiểu dáng bia ký cũng ngoài nỗi phiền lòng của khách tham quan. Ở Điện Biên Phủ cần dựng nhiều bia ký là lẽ đương nhiên vì riêng số cho quần thể tập đoàn cứ điểm đã là 49 rồi…Tùy trường hợp có thể làm bia hẳn hoi, có thể làm bảng chỉ dẫn nhưng nhất thiết không được làm tổn hại đến di tích.
Những ví dụ không vui:
Có tác phẩm như bia – chỉ dẫn hầm tướng De Castries, được làm lớn, tạo tác công phu nhưng có vẻ không ổn vì phần trang trí quá thừa thãi. Bên dưới, góc phải (dán cái ảnh) thể hiện kiểu phù điêu De Castries cùng đám tâm phúc sống sót vừa bước ra cửa hầm đầu hàng. Trên nóc hầm (góc trái) thì có hình người phất cờ Quyết chiến Quyết thắng cũng dưới dạng phù điêu. Và đương nhiên giữa hai hoạt cảnh ấy là phù điêu mô tả chi tiết hầm cố thủ A1. Chẳng lẽ tác giả bia – chỉ dẫn này muốn lấy nghệ thuật của mình ganh đua với lịch sử bằng xương bằng thịt đang hiện hữu tại đó?
Còn vài tác phẩm trông không ra cột cây số, không ra cột lưu niệm ở đầu cầu Thăng Long. Lại có tác phẩm được dàn dựng theo phong cách “chuông nguyện hồn ai” như ở nghĩa trang D1…

Quần tượng Đại tướng đọc thư Bác

4. Chắc hẳn mọi người có mặt ở đây, trước tuổi trưởng thành đều không biết gì, không hiểu gì về Điện Biên Phủ. Thế mà chúng ta lại phải phát biểu về kiến trúc và nghệ thuật dành cho nó. Thực quá khó khăn! May sao, nhiệm vụ có thể hoàn thành, nhờ mấy khích lệ:
– Thứ nhất, trước đây cũng như về sau Điện Biên Phủ mãi mãi sống trong lòng Dân tộc, luôn được cả nước toàn tâm, toàn ý coi sóc không sẻn tiếc.
– Thứ hai, trước mắt chúng ta đây, đã từ nhiều năm hiện hữu vô số kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật – những sáng tác của không chỉ một thế hệ đồng nghiệp. Đó là những bài học kinh nghiệm rất thiết thực đối với sáng tác cho Điện Biên từ nay về sau.
– Thứ ba, công cuộc bảo tồn, tôn tạo Điện Biên Phủ chưa bao giờ sở hữu được một đội ngũ đông đảo các KTS, nghệ sĩ tạo hình vững tay nghề như hôm nay –  Những người luôn sẵn sàng và đầy tâm huyết, muốn dùng nghệ thuật của mình góp phần di dưỡng tinh thần Điện Biên sáng ngời trong sự nghiệp giữ nước ngàn đời của người Việt.
– Thứ tư, còn đó đất nước con người Tây Bắc, còn đó thiên nhiên ôm ấp, chở che lịch sử Điện Biên, thì còn đó người thầy cao cả luôn nâng đỡ kiến trúc sư đi tới thành công nghệ thuật.  
Và, sau cuối là bày tỏ cá nhân.
Nếu cho rằng, những tưởng tượng của tôi là một thứ bao biện phổ quát, thì mong mọi người bỏ quá cho. Vì trước sau gì cũng chỉ thôi thúc trong tôi một niềm tin yêu hướng về đồng nghiệp KTS và các nghệ sĩ tạo hình đương đại. Và rằng, niềm hy vọng ấy còn thôi thúc đến một ngày mai – Ngày mà chúng ta sẽ có không chỉ một quần thể Điện Biên Phủ mà nhiều quần thể khác, kiến trúc tưởng niệm khác tới được cái mạch lạc, cái hồn cốt kiến trúc lịch sử và đẹp thật riêng từ đấy. Nhất là, đang giữa lúc ta phải chứng kiến nhiều những bảo tàng, kiến trúc tưởng niệm mới xây dựng gần đây. Cho thấy dường như ở đó người ta tâm đắc một hình thức Trung tâm văn hóa giải trí. Dù cho người vẽ kiểu đã tự xử bằng đủ thứ thủ pháp mô phỏng cả dân gian, tôn giáo lẫn cung đình.  

Chợt nhớ, độ này tháng trước cả nước tiễn biệt Anh Văn – Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu kính của chúng ta về nơi yên nghỉ cuối cùng với tình cảm Dân tộc thật sâu nặng. Đó cũng chính là đạo lý nước non mà bấy nay đồng bào đồng chí tâm nguyện, mỗi khi về với Điện Biên Phủ…

ThS. KTS Đoàn Khắc Tình
Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội