Mối quan hệ giữa lý luận & phê bình kiến trúc với thực tiễn hành nghề hiện nay

Lý luận và phê bình kiến trúc vốn là hai lĩnh vực khác biệt nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Lý luận là hoạt động cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc sáng tác, nghiên cứu và phê bình kiến trúc. Hoạt động phê bình có mục tiêu chính là tìm hiểu, phân tích đánh giá tác phẩm kiến trúc, phong cách sáng tác của KTS.

Mối quan hệ giữa Lý luận và phê bình kiến trúc

Thực hiện phê bình phải dựa vào các cơ sở lý luận nhất định, nếu không có mối liên hệ này, việc phê bình sẽ trở nên vô căn cứ, cảm tính, thiếu tin cậy, khi đó tác động của lý luận và phê bình đến giới hành nghề thực tiễn sẽ rất hạn chế. Mặt khác, hoạt động phê bình cũng có thể tác động đến chính bản thân một hệ thống lý luận kiến trúc bằng cách phân tích về hiệu quả của các tác phẩm được sáng tác dựa trên hệ thống đó cũng như so sánh đối chiếu với các hệ thống lý luận kiến trúc khác hay các luận thuyết triết học, mỹ học, nghiên cứu xã hội học…

Mối quan hệ giữa Lý luận và Phê bình kiến trúc ở Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến hành nghề

Giữa hai lĩnh vực lý luận và phê bình kiến trúc hiện nay ở Việt Nam có một sự phát triển mất cân đối và thiếu liên kết.

Về khối lượng, có sự thiếu vắng đáng lo ngại của mảng phê bình trên các tạp chí chuyên ngành. Nhìn lại các số xuất bản trong năm nay của ba tạp chí kiến trúc có ảnh hưởng nhất tại Việt Nam là Tạp chí Kiến trúc (Hội KTS Việt Nam), Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (Viện Kiến trúc quốc gia), Tạp chí Kiến trúc & Đời sống (Hội KTS TPHCM), hầu như không có bài báo nào thuộc lĩnh vực phê bình. Trong khi đó, mỗi số tạp chí đều có khá nhiều bài viết thuộc mảng lý luận, từ các vấn đề quen thuộc như xu hướng kiến trúc, bảo tồn di sản, kiến trúc địa phương cho đến những nghiên cứu rất sâu thuộc chuyên môn hẹp của các cây viết là nghiên cứu sinh.

Tình hình thiếu hụt sản phẩm phê bình trên các kênh chuyên môn truyền thống (báo giấy) đã đến mức báo động. Trong cuộc hội thảo mới nhất, nhưng cũng là hiếm hoi, về lý luận phê bình tại Viện Kiến trúc quốc gia 2/12/2016 với chủ đề “Công tác lý luận phê bình kiến trúc với sự phát triển kiến trúc Việt Nam” các chuyên gia đều nhận định là phê bình ít được quan tâm.

Thực tế, Hội KTS Việt Nam từng rất nỗ lực trong việc đẩy mạnh công tác phê bình kiến trúc kết hợp với lý luận nhằm mục đích định hướng sáng tác cho các KTS trong nước. Những năm đầu của thế kỷ 21, kiến trúc “nhại cổ” sao chép ngôn ngữ cổ điển châu Âu một cách cẩu thả, xuất hiện tràn lan ở Việt Nam. Dựa trên quan điểm lý luận về xây dựng một nền kiến trúc hiện đại, mang bản sắc dân tộc, Hội KTS đã từng đưa ra những bài phê bình quyết liệt, không tránh né. Đỉnh điểm là giai đoạn 2003-2004, Tạp chí Kiến trúc của hội đã lập ra “trang đen” nổi tiếng, đăng đích danh những dự án tiêu cực về thẩm mỹ, sao chép ngôn ngữ cổ điển quá đà dù phải đối đầu với những cơ quan công quyền rất lớn, giàu ảnh hưởng như Bộ Tài chính, UBND tỉnh Đaklak. Tác động của mối quan hệ tương hỗ có tính thống nhất giữa đường lối lý luận và công tác phê bình đó đã từng có hiệu quả tốt. Nhiều công trình trụ sở cơ quan công quyền ở Hà Nội giai đoạn này đã có hình thức mang tính thời đại nhiều hơn như: Trụ sở UBND quận Long Biên, Hoàn Kiếm…. Tuy vậy, sự duy trì mối quan hệ đó đã suy giảm trong 10 năm tiếp theo, còn rất ít sản phẩm phê bình đúng nghĩa xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành kiến trúc ở Việt Nam. Gần như chỉ có những bài giới thiệu tác phẩm, thiên về mô tả chung chung, nhắc lại quan điểm sáng tác của KTS, ít mang chính kiến của nhà phê bình cũng như thiếu phân tích có cơ sở lý luận rõ ràng.

Trong 10 năm trở lại đây, với sự phát triển mạnh mẽ của internet và truyền thông trực tuyến, hoạt động phê bình kiến trúc khá sôi động trên các diễn đàn, mạng xã hội. Lợi thế rõ rệt của truyền thông trực tuyến và mạng xã hội là tốc độ nhanh, khối lượng không giới hạn và khả năng tương tác trực tiếp, hai chiều với giới chuyên môn cũng như công chúng. Ít có bài phê bình hoàn chỉnh, nhưng những ý kiến, thậm chí là cuộc tranh luận mang tính phê bình khá nhiều và chiếm ưu thế so với trao đổi về lý luận. Giới Phê bình “ngầm” dường như hoạt động rất mạnh và kịp thời. Nhiều tác phẩm, hiện tượng kiến trúc được mổ xẻ trên mạng xã hội và truyền thông trực tuyến ngay khi mới ra đời hoặc có sụ kiện liên quan. Nổi bật là các trao đổi về công trình của Võ Trọng Nghĩa (Stacking house), Hoàng Thúc Hào (Trường Lũng Luông), A21 (Nhà nguyện) hay một tác phẩm tuy không phải kiến trúc nhưng được giới KTS tham gia ý kiến mang tính phê bình là Mây pha lê của Andy Cao. Một vài sự kiện khác cũng được giới nghề mổ xẻ dưới góc độ phê bình trên các mạng xã hội và báo chí phi chuyên môn như dự án khách sạn trên phố Hàng Trống, rạp chiếu phim Hanoi Cinematheque….

Mặc dù có được tính thời sự và khả năng tương tác cao, tuy nhiên phê bình trên các kênh trực tuyến, nhất là mạng xã hội cho đến nay phần nhiều mang nặng yếu tố cảm tính, thậm chí đôi lúc quy chụp. Sự tương tác quá nhanh, trực tiếp khiến những người tham gia bị cuốn theo dòng tranh luận, không kịp dừng lại để suy ngẫm dựa trên cơ sở lý luận vững chắc. Không gian truyền thông trực tuyến cũng không thuận lợi cho những bài phê bình chuẩn mực, có đầy đủ lớp lang cho tác giả vận dụng lý luận để chứng minh cho phân tích, đánh giá. Đặc trưng khác của môi trường trực tuyến là tính mở về đối thượng tham gia. Mỗi nội dung đăng tải ít khi có can thiệp từ chuyên gia độc lập, những người có nền tảng lý luận vững vàng, như đối với tạp chí có phản biện. Thiếu cơ sở từ lý luận, chất lượng của phê bình trực tuyến hiếm khi có chất lượng khoa học mà thường chỉ đạt tầm cảm xúc cá nhân hay tâm lý đám đông. Vì thế, tác động của lý luận và phê bình trực tuyến lên hành nghề thực tiễn về khía cạnh chuyên môn là không tích cực.

Giải thưởng kiến trúc, nơi thể hiện rõ nhất ảnh hưởng của mối quan hệ giữa lý luận và phê bình đến việc hành nghề

Một trong những phạm vi hành nghề thực tiễn chịu sự tác động mạnh nhất từ lý luận và phê bình cũng như tương quan giữa hai lĩnh vực này là các cuộc thi tuyển và giải thưởng kiến trúc. Hoạt động chấm giải về cơ bản dựa trên công tác phê bình. Hội đồng giám khảo các giải thưởng và thi tuyển kiến trúc bao giờ cũng có thành phần chính là những chuyên gia về lý luận và phê bình kiến trúc.

Thông thường, những giải thưởng thế giới đều tuân theo ba bước chính: Công bố thể lệ, tiểu chí chấm giải; Công bố danh sách dự thi (hoặc đề cử) từ đó xác định danh sách rút gọn (short list) vào vòng chấm giải; Chấm giải và công bố giải thưởng. Đó là một quá trình phù hợp với mối quan hệ giữa hoạt động lý luận và phê bình, tạo được tác động tích cực của hai lĩnh vực đó qua giải thưởng đến giới nghề và công chúng. Khi công bố thể lệ, tiêu chí chấm giải, hội đồng sẽ công bố những cơ sở lý luận căn bản của mình trong việc lựa chọn đánh giá tác phẩm. Các tác giả sẽ dựa vào đó để cân nhắc tham gia và gửi tác phẩm phù hợp dự thi. Khi hội đồng thực hiện chấm sơ loại xong, danh sách dự giải rút gọn sẽ được công bố trong 1 thời gian trước khi chấm giải chính thức. Các tác phẩm trong danh sách sẽ được giới phê bình đánh giá, phân tích trên các cơ sở lý luận của ban tổ chức nói riêng cũng như của ngành kiến trúc nói chung. Những hoạt động phê bình đó nếu có chất lượng sẽ là đối trọng đồng thời là sự thẩm định tốt nhất cho tính khách quan và năng lực của hội đồng chấm giải. Tính minh bạch và chuẩn xác của các lựa chọn từ ban giám khảo nhờ đó sẽ được đảm bảo. Uy tín của giải thưởng sẽ được công chúng thừa nhận rộng rãi.

Tại Việt Nam hiện nay, một số cuộc thi tuyển do Hội KTS Việt Nam đứng ra tổ chức hoặc bảo trợ đã phần nào tuân theo quy trình này. Tuy nhiên, giải thưởng lớn nhất, được giới nghề hy vọng tạo ra nhiều ảnh hưởng nhất, có khả năng thể hiện rõ nhất nền tảng lý luận của nền kiến trúc nước nhà là Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia lại chưa thực hiện đầy đủ như vậy. Trong tất cả các lần chấm giải thưởng kiến trúc quốc gia cho đến nay, ban tổ chức đã bỏ qua bước công bố danh sách rút gọn công trình dự giải sau khi chấm sơ loại, điều này khiến cho sự liên kết giữa lý luận và phê bình bị giảm sút. Vì vậy tính định hướng của hệ thống lý luận mà Hội cổ súy thông qua giải thưởng có tác động không đủ lớn đến hành nghề thực tiễn, không đủ để góp phần, thúc đẩy mạnh mẽ và đúng hướng.
Qua nhiều kỳ giải thưởng, hầu như không thấy bài phê bình hoàn chỉnh, sâu sắc về các công trình đoạt giải thưởng của Hội để củng cố nền tảng lý luận của ngành kiến trúc tại Việt Nam, góp phần định hướng cho KTS và nâng cao thẩm mỹ kiến trúc cho công chúng. Ấn phẩm chính của mỗi kỳ giải thưởng là cuốn sách giới thiệu các công trình đoạt giải có rất ít dấu ấn của hoạt động phê bình và lý luận. Cuốn sách Giải thưởng kiến trúc kỳ đầu tiên năm 1994 chỉ đơn thuần là liệt kê, không có một dòng bình luận nào về các công trình được vinh danh,. Các kỳ sau, tình hình thay đổi chưa đáng kể, cho đến năm 2016, dấu ấn lý luận phê bình trong cuốn sách này chỉ là những đoạn giới thiệu thiên về ca ngợi dài khoảng 200 từ cho mỗi công trình đoạt giải cao nhất của từng thể loại. Các tác phẩm đoạt giải thấp hơn không được một dòng bình luận nào. Sự kết nối giữa phê bình và lý luận trong việc công bố giải thưởng vẫn còn khá mờ nhạt. Những đoạn giới thiệu công trình đoạt giải chưa cho thấy được những tác phẩm đó đáp ứng được những tiêu chí gì của giải thưởng, sự vượt trội, khác biệt của tác phẩm đó với các tác phẩm khác cùng loại….

Mối tương quan chưa cân đối và thiếu liên kết giữa hai lĩnh vực lý luận, phê bình trong các giải thưởng nội địa đã phần nào tác động đến đường hướng làm nghề và cách thức tìm kiếm sự thừa nhận chuyên môn của giới KTS Việt Nam. Có người chạy theo thị hiếu khách hàng để đạt hiệu quả về kinh tế, thể hiện qua nhiều sản phẩm của ngành bất động sản. Không thiếu những tòa nhà cắt dán chi tiết cổ một cách khó coi như chuỗi công trình của Tân Hoàng Minh, hoặc nhân bản vô tính, thậm chí phi nhân văn như của Mường Thanh ở Linh Đàm. Người thì bắt chước máy móc các sáng tác của nước ngoài vào thiết kế với tâm lý để có được nhiều góc ảnh đẹp “như Tây” đăng trên mạng xã hội và các trang tin trực tuyến về kiến trúc trong nước, nước ngoài. Trên các trang Archdaily, Design Boom, Dezeen, những tác phẩm của Việt Nam được đăng tải phần lớn có chung ngôn ngữ tạo hình, cấu trúc, vật liệu với các tác phẩm quốc tế dù điều kiện kinh tế xã hội tự nhiên và kỹ thuật hoàn toàn khác nhau. Họ làm vậy vì mong công trình của mình đạt được các tiêu chí của giải thưởng ngoại cũng như hợp mắt các nhà biên tập, phê bình của truyền thông nước ngoài. Bởi họ biết, nếu được thừa nhận ở nước ngoài thì truyền thông trong nước, kể cả báo chí chuyên ngành chắc chắn sẽ đăng lại, và thậm chí được tôn vinh, trao giải thưởng nội địa. Hệ quả là sự ra đời của những tác phẩm chỉ nhìn đẹp hoặc mới lạ chứ không thích hợp với điều kiện của Việt Nam.

Cần làm gì để Lý luận và phê bình phát triển cân đối, liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động tốt lên thực tiễn hành nghề

Trước hết cần khơi lên các cuộc tranh luận chuyên môn sâu sắc, lành mạnh, mang tính thời sự. Ở đây, vai trò chủ động của tạp chí chuyên ngành và các chuyên gia lý luận, phê bình chuyên nghiệp rất quan trọng. Để những cuộc tranh luận này luôn nóng hổi, phổ cập tới giới nghề và công chúng thì các tạp chí chuyên ngành nên phát triển kênh trực tuyến của mình mạnh hơn, cho phép độc giả được bình luận (comment) dưới mỗi tin bài giới thiệu công trình, lý luận, phê bình.

Hội KTS Việt Nam với vai trò tổ chức và bảo trợ chuyên môn cần ban hành quy định chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế cho các giải thưởng, cuộc thi tuyển kiến trúc trong nước. Chú trọng đến bước công bố danh sách rút gọn xét giải hoặc đề cử tác giả, tác phẩm nhằm tạo không gian, thời gian tương tác cho hoạt động phê bình chính thống cũng như phi chính thống (mạng xã hội, dư luận…). Quy định cuộc thi cũng phải hướng dẫn về tiêu chí chuyên môn đối với hội đồng giám khảo một cách chi tiết, chẳng hạn cần có tỷ lệ tối thiểu bao nhiêu thành viên là người được đào tạo hoặc có kinh nghiệm nhiều năm hoạt động lý luận, phê bình. Hội cũng nên mạnh dạn làm như UIA, sẵn sàng tuyên bố không ủng hộ hoặc không thừa nhận về chuyên môn đối với các cuộc thi tuyển, giải thưởng không đạt chuẩn.

Vấn đề đào tạo phê bình lý luận cũng nên được thay đổi. Không chỉ nhằm mục tiêu làm nên những nhà lý luận, phê bình chuyên nghiệp mà quan trọng hơn, trang bị kiến thức lý luận vững chắc, kỹ năng phê bình hiệu quả cho người hành nghề thiết kế. Quá trình đào tạo không chỉ dừng lại ở trường học mà còn ở hoạt động đào tạo lại thường xuyên, các hội thảo chuyên ngành của Hội KTS Việt Nam, Viện Kiến trúc quốc gia, trường đại học cũng như các bài phê bình chuẩn mực sau mỗi kỳ giải thưởng kiến trúc.

Cuối cùng, mỗi KTS Việt Nam cần trăn trở mình đang tìm kiếm điều gì trong mỗi công trình cũng như cả hành trình nghề nghiệp của bản thân.

*Trương Ngọc Lân
Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Trường đại học Xây dựng

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2018)